Xu Hướng 2/2023 # Nhà Văn Mai An Nguyễn Anh Tuấn Về Một Bộ Sưu Tập Văn Học Đồ Sộ: Thơ Bạn Thơ # Top 7 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nhà Văn Mai An Nguyễn Anh Tuấn Về Một Bộ Sưu Tập Văn Học Đồ Sộ: Thơ Bạn Thơ # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Nhà Văn Mai An Nguyễn Anh Tuấn Về Một Bộ Sưu Tập Văn Học Đồ Sộ: Thơ Bạn Thơ được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dự án sách Thơ Bạn Thơ của hai nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy & Lý Phương Liên đã thực hiện được 8 cuốn ( dự tính là 10 cuốn) – cùng những ấn phẩm phụ trợ mà nội dung & hình thức cũng “hoành tráng” không kém, như Trưởng khoa viết văn & lý luận phê bình trường Đại học Văn hoá là tiến sĩ Văn Giá đã phải thốt lên trong một cuộc ra mắt sách Văn Bạn Văn, Chém Gió Muôn Màu, Vườn Thơ 5 Nhà – cho đến nay, sau gần 10 năm, đã đi tới chặng cuối. Có thể nói, đây là một công trình lớn mà lịch sử văn học Việt Nam sau này sẽ buộc phải ghi nhận và bàn đến như một “hiện tượng Văn học” đáng kể. Thơ Bạn Thơ 2 tại một nhà sách của Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Đông Tây: ” Đây quả là một cuộc Chơi Bạn hết sức sang trọng và cảm động!” Nhà phê bình quê gốc quan họ này đã vô tình “tóm” được cái thần thái của công việc trên qua chữ “Chơi Bạn” đằm thắm tình nghĩa và long lanh nhạc tính, ngữ ngôn vốn dành cho các liền anh liền chị quan họ Kinh Bắc; cũng tức là gián tiếp thừa nhận sự đồng cảm sâu sắc với người thiết kế chính của “cuộc chơi” là một nhà thơ từng hát “Quan họ không ngoại tình” trên các nẻo đường ly hương sau khi bị hành lên bờ xuống ruộng chỉ vì dám “luận Kiều thời chinh chiến” và dám khẳng định cái điều làm chối tai không ít đấng bậc văn chương lẫn quản lý văn chương thời đó: “Thơ là thơ, không phải địa vị người làm thơ”… Sau nhiều năm “phiêu bạt giang hồ”, “cõng Quan họ” đi khắp giang sơn đất nước, sang cả nhiều phương trời xa, đôi vợ chồng yêu thơ này dường mỗi lúc một dồi dào thêm nguồn cảm hứng “Bay trên bể đời giông tố hát nghêu ngao”, và lại còn muốn nhiều người khác cùng hát “nghêu ngao” như mình trên “bể đời giông tố”, nhằm làm phong phú hơn “dàn quan họ Thơ ca”… Mọi công việc mưu sinh, những nghề nghiệp tay ngang, những lo toan đời thường, những tranh chấp dân sự, v.v, đối với hai người thơ này, hình như đều có một cách giải thoát sau cùng và hữu hiệu là Thơ. Lời tự bạch sau đây của nhà văn Pháp Andrê Môroa có thể tìm thấy ngay một minh chứng phù hợp đặc biệt – đó là trường hợp của “hiện tượng” NNB & LPL: “Đối với người nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật trước hết là một sự giải thoát (délivrance). Nghệ sĩ là con người mà trong suốt cuộc đời mình đã tích luỹ được cảm xúc, song không có chỗ dùng trong các công việc của mình. Các cảm xúc này bóp nghẹt anh ta, làm ngập tâm hồn anh ta tới mức tột cùng; và chính lúc anh ta cảm thấy tất yếu phải tự giải thoát ra khỏi chúng, thì tác phẩm được tuôn khỏi anh ta hầu như tự nhiên nhi nhiên. Đối với anh ta, nghệ thuật là một phương tiện bộc lộ” 1. Bản thân nhà thơ NNB cũng đã từng tự bạch có sức thuyết phục tương tự thế: “Thơ tôi đã ra đời trong tiếng gõ cửa dồn gấp, trong những lời kêu thét bệnh hoạn, trong đói nghèo muốn cuốn đời vào hèn hạ, nhưng nó vẫn kiêu hãnh khóc như trẻ sơ sinh, trên cái bàn chỉ đứng ba chân…Tôi đã chép những chán nản ấy, những thất vọng ấy, những cay đắng ấy vào thơ. Và hân hoan thay, thơ trả lại cho tôi những dòng chữ nghĩa như khí cho tôi thở, như lửa cho tôi chế biến thức ăn, như sông suối cho tôi tắm mát. Đó là đức tin phải có, đức tin phải sáng rạng trong tâm hồn…” (Thủng thẳng với thơ) 2. Nhưng không phải chỉ là thơ của bản thân mình với cả núi thơ đã/ hay chưa được giới thiệu tới công chúng, mà còn là thơ của biết bao thế hệ người làm thơ tiếng Việt suốt một thế kỷ qua hiện còn đang ngổn ngang trong quá trình chọn lọc, đánh giá, phẩm bình… Có lần nhà thơ NNB nói với tôi, vẻ buồn trĩu: “Anh vừa đọc được một bài thơ trên báo liếp, hay quá, sánh được với nhiều bài của các thi sĩ thành danh, thế mà nó chưa có mặt trong một tập tuyển nào! Tiếc quá!”. Con mắt xanh ấy thực đáng quý, nhưng đáng quý hơn là một tấm lòng đối với giá trị đích thực của văn chương, ở đó tuyệt nhiên không nảy một tia đố kỵ, so bì, xét nét – cái điều tất sẽ dẫn đến thái độ hắt hủi, coi thường, dìm dập vẫn thường xảy ra trong đời sống văn học nước ta. Phải được nhìn tận mắt, nghe tận tai cảnh nhà thơ NNB say mê đọc diễn cảm những bài thơ của người khác mà anh chọn in trong Thơ Bạn Thơ để ghi hình ghi âm, thì mới thấm hiểu: lòng trân trọng vẻ đẹp thơ ca của bất cứ người nào, dù chưa hề gặp mặt, dù người đó là ai, thì ra đã nằm sâu trong con người thơ này như một sự sống quý giá vô hạn! Sự trung thực, lòng vô tư, bản chất công bình, và đặc biệt là lòng mê say thơ kỳ lạ, là những điều đã giúp đôi vợ chồng người thơ nảy sinh một dự án chưa từng có xưa nay: Thơ Bạn Thơ, quyết tâm trở thành người thu nhặt bụi vàng Thơ rải rác để làm nên một “Bông hồng vàng” như nhân vật của K. Pautôvski từng làm… Thơ Bạn ThơNó có thể so sánh với bộ sưu tập tranh trong viện bảo tàng tư nhân nổi tiếng Trechiakôp ở Nga, có điều đây là bộ sưu tập Thơ – thơ người đã khuất, thơ người đương thời, thơ của các giới, các lứa tuổi, các ngành nghề, các địa phương trong toàn quốc và người Việt ở nước ngoài… Có điều, từ một bộ sưu tập mang tính cá nhân, kể từ khi ra đời tới nay – vượt ra khỏi dự tính mong mỏi riêng của người làm ra chúng hay mưu đồ hạ thấp của bất kỳ ai, chúng đã tự thân mang giá trị của một bộ sưu tập về văn học mang tính chất Quốc gia – mà đó thực chất chính là công việc của cả một Viện, hoặc một tổ chức Hội trung ương… Nhiệt tình cháy bỏng và công sức lao động khổng lồ của hai nhà thơ NNB & LPL, với sự giúp sức của các nhà thơ nhà văn, nhà phê bình, các nghệ sĩ… nhiều lứa tuổi, không phân biệt chuyên nghiệp hay không chuyên trên toàn quốc, đã tạo nên một danh sách nhà thơ đông đảo chưa từng có ở bất kỳ tập tuyển thơ nào ra đời trước đó, với một khối lượng lớn tới hàng ngàn bài thơ được tuyển chọn chỉ bằng một tiêu chí duy nhất: “Thơ là thơ”… Bộ sưu tập chưa đầy đủ này đã bắt đầu có mặt trang trọng ở các thư viện Việt Nam, Mỹ, Pháp, trong các tủ sách cá nhân, và là sách gối đầu giường của nhiều người yêu thơ cả nước. sẽ có dịp chiêm nghiệm lại điều đã biết – từ khẳng định của nhà bác học người Bun M. Arnauđôp trong một công trình lớn bàn về tâm lý sáng tạo văn học: “Nếu nói chung ngôn ngữ được bắt nguồn từ nhu cầu của một sự hiểu biết lẫn nhau, thì trong thơ ca nó thường là một công cụ ngoan ngoãn để thuyết phục, vì tiếng nói được nhào nặn có nghệ thuật rất dễ tìm được ra con đường tiến đến trái tim khối óc chúng ta, và rất dễ tạo nên một niềm tin cậy…” Bộ sưu tập này, cho tới nay đã nhận được biết bao lời đánh giá chân thành, xúc động, và công bằng từ những người cầm bút – như luật sư Trần Đình Hoành, nhà văn Tô Hoàng, nhà thơ Trần Nhương, đạo diễn Đào Trọng Khánh, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Nguyễn Hiếu, nhà thơ Hoàng Xuân Họa, nhà thơ Hạt Cát, nhà phê bình Hoàng Dân, nhà giáo Đường Văn, nhà văn Phùng Thành Chủng, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, nhà báo Nhật Lệ, nhà báo Hoàng Vũ Quân, nhà báo Nguyễn Hậu, nhà phê bình Nguyễn Văn Hòa, nhà văn Nguyễn Khắc Phục, nhà văn Nguyễn Minh Khiêm, nhà thơ Đinh Ngọc Diệp, nhà thơ Nguyễn Khôi, nhà thơ Hồ Bá Thâm v.v, cùng biết bao sự tán thưởng, đồng cảm của người đọc, nhiều giới… 3Người viết bài này chỉ dám góp thêm một tiếng nói nhỏ, đặng giúp người yêu thơ, qua bộ sách Niềm tin cậy đó, người đọc đã và đang hân hoan tìm thấy được trong bộ sách Thơ Bạn Thơ!

1. Dẫn theo M. Arnauđôp – Tâm lý học sáng tạo văn học – Hoài Lam & Hoài Ly dịch- Nxb Văn học, HN 1978, tr.230 2. Nguyễn Nguyên Bảy, Lý Phương Liên, Nguyễn Lý Phương Ngọc – Thủng thẳng với thơ – Nxb Văn học, HN- 2011 3. Tâm lý học sáng tạo văn học, Sđd, tr.222

6 Nhà Văn Và Nhà Sưu Tập Truyện Cổ Tích Nổi Tiếng

Bìa cứng bản gốc bộ truyện dân gian và cổ tích của anh em nhà Grimm. Ảnh: Nicola Alter

Hầu hết chúng ta đều biết đến một số truyện dân gian cũng như truyện cổ tích, và khi trưởng thành, chúng ta lại được biết nhiều về các màn diễn tấu và dị bản của những câu chuyện này. Nhưng ít ai trong chúng ta biết rõ về các bộ sưu tập làm nên tên tuổi những câu chuyện này. Chính vì vậy mà tôi sẽ điểm lại 6 tác giả và nhà sưu tập truyện cổ tích, người đã mang lại cho chúng ta những câu chuyện rất đáng yêu:

(Tôi chỉ tập trung vào các phiên bản truyện phổ biến với người bản xứ vì đó là trải nghiệm của riêng cá nhân tôi nên hầu hết các nhà sưu tầm và tác giả được liệt kê bên dưới đều là người Châu Âu. Nếu muốn biết thêm thông tin về những bộ truyện cũng như nhà sưu tầm đến từ các quốc gia, bạn có thể tham khảo đường dẫn cuối bài viết.)

1. Jacob và Wilhelm Grimm

Hai anh em học giả người Đức, Jacob và Wilhelm Grimm, có lẽ là những nhà sưu tầm truyện cổ tích nổi tiếng nhất (mặc dù việc sưu tầm truyện cổ tích chỉ là một phần nhỏ trong việc nghiên cứu học thuật mà họ đã làm cả đời). Vào những năm 1800, họ thu thập nhiều câu truyện cổ tích và dân gian khác nhau trên khắp nước Đức, và phiên bản đầu tiên của bộ sưu tập Kinder- und Hausmärchen (“Truyện của trẻ em và gia đình”) được xuất bản năm 1812. Các phiên bản tiếp theo của bộ sưu tập đã được bổ sung thêm nhiều câu chuyện cũng như chỉnh sửa tô điểm thêm cho câu chuyện và lượt bỏ các yếu tố bạo lực.

Những câu chuyện được biết đến rộng rãi thông qua bộ sưu tập này bao gồm:

Cô Bé Quàng Khăn Đỏ

Hansel Và Gretel

Bạch Tuyết

Công Chúa Ngủ Trong Rừng

Hoàng Tử Ếch

Rapunzel (truyện được cho là được chuyển thể từ truyện ‘Persinette’ của Charlotte-Rose de Caumont de La Force)

2. Charles Perrault

Charles Perrault là nhà văn người Pháp sống vào những năm 1600 và viết những câu chuyện lấy cảm hứng từ chuyện dân gian. Đôi khi ông được mệnh danh là cha đẻ của những câu chuyện cổ tích, và bộ sưu tập Les Contes de ma Mère l’Oye (Những câu chuyện về mẹ Ngỗng) rất có ảnh hưởng – ví dụ như phiên bản “Công chúa Lọ Lem “của ông (với chi tiết mẹ đỡ đầu tiên và xe ngựa bí ngô, vv…), là một trong các phiên bản được người bản xứ biết đến nhiều nhất và truyện rất khác với phiên bản của Anh em nhà Grimm.

Một số chuyện nổi tiếng của ông bao gồm:

3. Marie-Catherine d’Aulnoy

Cô Bé Choàng Khăn Đỏ

Công Chúa Ngủ Trong Rưng

Lọ Lem

Yêu Râu Xanh

Chú Mèo Đi Hia

Madame d’Aulnoy là một nữ bá tước và nhà văn người Pháp. Bà đã xuất bản hai bộ sưu tập truyện cổ tích, và cũng là người đặt ra thuật ngữ “truyện cổ tích” mà chúng ta hiện đang dùng để gọi thể loại truyện này thông qua việc lồng tiếng cho bộ sưu tập của bà là Les Contes des Fées (Truyện cổ tích) vào năm 1697. Mặc dù những câu chuyện cổ tích của bà không phải là phiên bản phổ biến nhất hiện nay nhưng bà là người có ảnh hưởng trong lịch sử truyện cổ tích.

Một vài câu chuyện từ bộ sưu tập Aulnoy:

4. Hans Christian Andersen

Finette Cendron (một câu chuyện tương tự như Cinderella)

Graciosa và Percinet (một câu chuyện tương tự như Bạch Tuyết)

Mèo trắng

Andersen là một nhà văn truyện cổ tích người Đan Mạch hoạt động vào những năm 1800. Bộ sưu tập Eventyr (truyện thần tiên) của ông chứa nhiều câu chuyện cổ tích được yêu thích và phổ biến rộng rãi từ đó đã truyền cảm hứng cho nhiều bản phóng tác và dị bản. Tên của ông là cũng là tên những câu chuyện cổ tích.

Câu chuyện nổi tiếng bao gồm:

5. Joseph Jacobs

Joseph Jacobs là một nhà văn dân gian người Úc. Ông đã xuất bản một số bộ sưu tập từ các câu chuyện cổ tích tiếng Anh cổ điển. Bộ sưu tập “Truyện cổ tích Anh” (1890) và “Truyện cổ tích Anh” (1894) của ông có một số phiên bản truyện nổi tiếng nhất ngày nay và rất có ảnh hưởng. Ông cũng sưu tập những câu chuyện cổ tích từ các nền văn hóa Do Thái, Ấn Độ và Celt, từ tạp chí và sách đã qua biên tập về văn hóa dân gian.

Nàng Tiên Cá

Bà Chúa Tuyết

Cô Bé Tí Hon Thumbelina

Chú Vịt Con Xấu Xí

Nàng Công Chúa và Hạt Đậu

Chú Lính Chì Dũng Cảm

Chim Họa Mi

Một số câu chuyện cổ tích nổi tiếng từ bộ sưu tập của ông:

6. Andrew Lang

Andrew Lang là một nhà thơ và nhà tiểu thuyết người Scotland. Ông đã cho xuất bản 25 bộ truyện cổ tích được minh họa từ năm 1889 đến năm 1913, quyển đầu tiên là “The Blue Fairy Tale Book”. Ông nổi tiếng với việc sưu tầm bộ sưu tập sâu rộng về những câu chuyện từ nhiều nền văn hóa khác nhau, và cho ra đời phiên bản tiếng Anh của những câu này. Bản “Nghìn lẻ một đêm” của ông là một phiên bản từ bộ sưu tập nguyên gốc tiếng Ả Rập “Nghìn lẻ một đêm” (một bộ sưu tập lâu đời được tập hợp qua nhiều thế kỷ bởi nhiều dịch giả và tác giả) đặc biệt có ảnh hưởng. Vợ ông Leonore Blanche Alleyne đã giúp ông trong việc dịch và thuật lại nhiều câu chuyện.

Một số câu chuyện nổi bật trong bộ sưu tập của ông:

Ba Chú Heo Con

Jack Và cây đậu thần

Cô Bé Tóc Vàng Goldilocks và Ba Chú Gấu

Jack Và Đại Chiến Người Khổng Lồ

Cậu Bé Tí Hon Tom Thumb

Một số nhà văn và dịch giả cổ tích đáng chú ý khác:

Aladdin

Bảy Chuyến Đi Kỳ Thú Của Chàng Sinbad

Người Đẹp Và Quái Vật (Một Câu Chuyện Được Viết Bởi Gabrielle-Suzanne Barbot De Villeneuve)

Alibaba Và 40 Tên Cướp

Người Bắt Chuột, Còn Được Biết Đến Là “Người Thổi Sáo Thành Hamelin” (một câu chuyện Đức cũng xuất hiện trong các tác phẩm của Goethe và Anh em nhà Grimm)

Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve – tiểu thuyết gia người Pháp, là tác giả nguyên thủy truyện “Người đẹp và quái vật”.

Antoine Galland – người đã dịch bộ sưu tập “Nghìn lẽ một đêm” từ tiếng Ả Rập sang tiếng Pháp, và được cho là đã viết ra những câu chuyện nổi tiếng là Aladdin và Ali Baba, bởi vì chuyện không nằm bản nguyên thủy bằng tiếng Ả Rập.

Ludwig Bechstein – người đã xuất bản một bộ sưu tập truyện cổ tích “Deutsches Märchenbuch” vào năm 1845 cạnh tranh với hai tác giả Anh em nhà Grimm vào thời điểm đó.

Bộ Sưu Tập Các Bài Thi Viết Chữ Đẹp Của Học Sinh Tiểu Học

Cuộc thi viết chữ đẹp lần 8 với bài thi viết chữ đẹp của học sinh tiểu học

Các bài thi viết chữ đẹp được đánh giá cao từ phía chuyên môn. Đồng hành đưa tin về cuộc thi ” Viết chữ đẹp online lần 8″. Do trung tâm luyện chữ đẹp Ánh Dương tổ chức. Đầu năm 2017 đã và đang diễn ra rất sôi nổi. Bài thi được gửi về từ khắp các trường tiểu học trên cả nước. Với bài viết chữ đẹp của các em học sinh khối lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 và lớp 5.

Để mang lại hiệu quả cao trong bài thi viết chữ đẹp. nên sử dụng bút lá tre 041. Với ưu điểm nổi bật tự tạo thanh đậm theo độ ấn tay của người viết.

Bộ sưu tập các bài thi viết chữ đẹp của học sinh tiểu học

Bút mài thầy Ánh với mong muốn được chia sẻ với đông đảo người yêu và luyện chữ đẹp trên khắp cả nước. Là học sinh, giáo viên, người đi làm với mục đích chính tiếp lửa cho phong trào luyện chữ viết đẹp. Qua đây rèn luyện kĩ năng, hoàn thiện nhân cách cho trẻ và rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ, trân trọng cái đẹp tới các em học sinh.

Ngoài ra Bút mài thầy Ánh muốn sưu tập lưu giữ lại các bài thi viết chữ đẹp bậc tiểu học làm tài liệu tham khảo. Khi luyện chữ đẹp cho các em học sinh lớp 1,2,3,4 và 5. Các thầy cô có thể qua ví dụ để sửa lỗi sai cho học sinh. Trong bài thi có thể còn một số lỗi thường gặp. Nhưng đây là bộ sưu tập các bài thi viết chữ đẹp của học sinh tiểu học.

Hi vọng sẽ có nhiều cuộc thi viết chữ đẹp tiếp tục được tổ chức trong thời gian sắp tới. Ngoài ra các bạn có thể tham khảo về các bài thi viết chữ đẹp của Giáo viên và Sinh viên sư phạm. Và các bài thi viết chữ đẹp của các bạn luyện chữ đẹp. Để có sự sưu tầm hoàn chỉnh hơn về nét chữ viết đẹp.

Danh Nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Văn Bản Thơ Nôm – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm- Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam)

1. Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm

Từ năm 1542 đến năm 1585, Nguyễn Bỉnh Khiêm nghỉ hưu tại quê nhà, tuy ông đã về nghỉ, nhưng vua nhà Mạc vẫn sai người đến hỏi quốc sự và thăng ông làm Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyên hầu, rồi Trình quốc công. Theo Đại Nam nhất thống chí大南一統志 “Họ Mạc từng đem việc nước hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đáp rằng: Sau này nếu có sự biến, thì Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ được vài đời. Sau quả như lời nói của ông”(2). Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy làm quan cho nhà Mạc, và khi cáo quan vẫn giúp nhà Mạc; nhưng với tinh thần nhập thế của một nhà Nho tinh đời, ông không ngần ngại bày kế sách cho cả vua Lê, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn. Nguyễn Bỉnh Khiêm bình thản nhìn sự đời thay đổi, chữ “trung” của ông được cắt nghĩa trong bài Trung Tân quán bi ký中津館碑記 như sau “Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là trung vậy”(3). Như vậy đủ biết, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Nho, luôn ý thức về “tam cương ngũ thường” của Nho giáo, nhưng ông không phải là người cố chấp, ngu trung. Lòng trung của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện là giữ vẹn điều thiện và lấy tình thực mà ứng đãi. Như vậy, việc Nguyễn Bỉnh Khiêm bày kế sách cho vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn là chí thiện và chí thành vậy. Theo Đại Nam nhất thống chí “Vua Lê Trung Tông (1549 – 1557) không có con nối ngôi, đại thần bàn định xem nên lập ai, nhưng chưa quyết được, mới sai người đến hỏi (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Ông không đáp và bảo người nhà rằng: Năm nay đã mất mùa, sao không mau tìm thóc giống cũ mà đem gieo trồng cho kịp thời vụ. Bề tôi nhà Lê suy ý lời nói ấy, bèn quyết kế rước lập vua Anh Tông”(4). Rồi việc “Khi Trịnh Tùng lăng loàn, có dị chí, ngầm sai người hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về số phận nhà Lê còn dài ngắn như thế nào? Ông không đáp bỏ ra chùa chơi, giả bộ giận các nhà sư bất cẩn, trách mắng rằng: Ngạn ngữ có câu “thờ Phật ăn oản, không biết thờ Phật thì mong gì được ăn oản”. Trịnh Tùng nghe nói mới thôi không cướp ngôi nhà Lê nữa”. Hay như việc “Đức Thái tổ Hoàng đế triều ta (Nguyễn Hoàng) luôn bị họ Trịnh chèn ép bức bách, muốn dời đi nơi khác, đã sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông trả lời: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân (nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sau bản triều xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, lời ông quả ứng nghiệm”(5). Như vậy, rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm rất tinh thông lý học, biết xem kham dư, dự đoán tương lai “Sứ nhà Thanh là Chu Xán từng khen rằng: Ở nước An Nam, giỏi lý học có ông Trình Tuyền (Nguyễn Bỉnh Khiêm)”(6). Cũng nhiều ý kiến cho rằng, những “mách nước” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là giai thoại, truyền thuyết; nhưng trên thực tế những giai thoại, truyền thuyết ấy được khá nhiều tư liệu ghi. Ngay cả sử liệu như Đại Nam thực lục大南實錄 do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cũng ghi việc Nguyễn Bỉnh Khiêm “mách nước” cho Nguyễn Hoàng mở về phương Nam: “Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ. Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng : “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý”(7).

Nguyễn Bỉnh Khiêm hưởng thượng thọ 95 tuổi, trong đó có 84 năm nằm gọn ở thế kỷ XVI và sống ở nơi quê hương mình. Như chúng ta đã biết, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm và cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người đi thi đỗ đạt rồi làm quan, khi bất đắc chí hay vì lý do nào đó cáo quan về ở ẩn, các ông thường chọn một nơi nào đó mà mình ưa thích để ở. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lúc thiếu thời, khi trưởng thành, lúc nghỉ hưu luôn gắn bó với làng quê Trung Am nhỏ bé. Đây là một điều đặc biệt ở con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, và cũng bởi ông tinh thông lý học, nên đã chọn được đắc địa đó là nơi chôn rau cắt rốn – làng quê Trung Am.

Chúng ta hãy hình dung làng quê Trung Am xinh đẹp qua một đoạn văn trích trong bài Trung Tân quán bi ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Mùa thu năm Nhâm Dần, tôi bỏ việc quan về nghỉ ở làng, bèn mời các vị cao niên trong làng cùng đi dạo ở bến Trung Tân, trong xa phía đông là biển; nhìn phía tây là kênh; ngắm phía nam là dòng Liêm Khê, nào là Trung Am, Bích Động trước sau kế tiếp; cúi nhìn phía bắc là Tuyết Giang, nào chợ Hàn, đò Nhật ôm bên tả hữu. Một con đường lớn chạy ngang ở giữa, ngựa xe tấp nập, chẳng biết là dài đến mấy ngàn dặm vậy. Nhân đó quay lại nói với các kỳ lão: các cầu Nghênh Phong, Trường Xuân trước đây các vị đã sửa dựng, đẹp thì cũng là đẹp rồi, nhưng chưa có chỗ đất nào đẹp như chỗ này”(8). Cách đây hơn bốn trăm năm, cái làng quê Trung Am bé nhỏ ấy đã đẹp đến thế. Trong nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả phong cảnh quê ông rất lãng mạn, nên thơ và thật hữu tình, là vùng đất địa linh mà ai ai cũng muốn đến tham quan. Trong bài thơ Trung Tân ngụ hứng中津寓興, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết địa thế của quán Trung Tân thật tao nhã của một miền quê vùng gần biển:

Phiên âm:

Nhân thôn quán tây nam,

Giang thủy quán tây bắc.

Trung hữu bán mẫu viên,

Viên hữu Vân am trắc.

Luân chuyển trần bất đáo,

Hoa trúc thủ tự thực…

Nghĩa là:

Làng xóm ở phía tây nam quán,

Sông ngòi ở mạn tây bắc quán.

Giữa có nửa mẫu vườn,

Cạnh vườn có am Bạch Vân.

Bụi xe chẳng bén tới,

Hoa, trúc tự tay trồng… (9)

Trong bài Hạ cảnh 夏景, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả đôi nét về cảnh quan của quán Trung Tân vào ngày mùa hạ sao mà đẹp đẽ nên thơ, phong cảnh hữu tình làm sao:

Phiên âm:

Nhật trường Tân quán tiểu song minh,

Phong nạp hà hương viễn ích thanh.

Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc,

Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh.

Nghĩa là:

Ngày dài ở quán Trung Tân, cửa sổ nhỏ sáng sủa, Gió đượm hương sen, càng xa càng thơm mát. Tình thơ vô hạn, ai là người hiểu được, Chiều tà ở trên lầu, tiếng ve ngân vang.

Hay trong một khổ bài thơ Tức sự 息事, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả làng quê Trung Am thật thanh bình và rất lãng mạn:

Phiên âm:

Tá tiểu trì viên bạng Tuyết khê, Xuân thâm cổ mộc tự thành khê. Giang thiêm tình thái thiên hoa túy, Bích nhiễu hàn khê vạn trúc đê…

Nghĩa là:

Nhờ vào mảnh vườn, cái ao nhỏ bên cạnh sông Tuyết, Xuân muộn hàng cây cổ thụ tự thành hàng lối. Vẻ quang tạnh làm đẹp sông nước, ngàn đóa hoa say, Màu biếc vây quanh khe mát, muôn khóm trúc rủ…

Chính nơi đây, trên miền quê thơ mộng này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cùng mọi người trong làng xây dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân; tạo nên một thú quê thanh đạm mà ông hằng yêu mến:

Ba gian am quán lòng hằng mến, Đòi chốn sơn hà mặt đã quen. Thanh vắng thú quê dầu nấn ná, Dữ lành miệng thế mặc chê khen. (Thơ chữ Nôm – bài 8)

Một địa thế có phong cảnh tuyệt vời như vậy, ắt hẳn cuộc sống nơi đây cũng phong lưu phồn thịnh, con người nơi đây cũng nồng ấm tình quê. Trong bài Nhân thôn 閒村, Nguyên Bỉnh Khiêm đã miêu tả:

Phiên âm:

Tổng tổng lâm lâm sinh chí phồn, Sở cư xứ xứ hữu hương thôn. Hào hoa hấp nhĩ tỷ lân hội, Nhân hậu y nhiên mỹ tục tồn. Tác tức tư đào Nghiêu nhật nguyệt, Âu ca cộng lạc Thuấn kiền khôn…

Nghĩa là:

Nườm nượp xum xuê sinh sản ra rất đông đúc, Nơi nơi có người ở là có xóm làng. Hào hoa tụ hội, xóm giềng kề bên nhau, Lòng người nhân hậu vẫn thế, phong tục tốt đẹp còn nguyên.

Làm việc nghỉ ngơi thoải mái với những ngày tháng đời vua Nghiêu,

Cùng ca hát vui chung trong trời đất thời vua Thuấn (ý là thời thịnh trị)…

Và trong bài Ngụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết:

Phiên âm:

Bán y thô thị bán nhân hương, Trung hữu trì viên nhất mẫu cường. Am quán trường nhàn xuân bất lão, Giang san nhập họa bút sinh hương…

Nghĩa là:

Nửa dựa vào chợ quê, nửa dựa vào xóm làng, Trong đó có ao, có vườn khoảng hơn một mẫu. Chốn am quán mãi mãi thư nhàn, xuân không già, Non sông đưa vào tranh vẽ, bút thêm hương sắc…

Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có một tấm lòng yêu quê và làng quê Trung Am nhỏ bé ấy đã hun đúc nên con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, tâm hồn Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hình ảnh quê hương đẹp đẽ như tranh vẽ, gấm thêu luôn lắng đọng trong tâm hồn và trong thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Giang sơn tám bức như tranh vẽ Phong cảnh tư mùa ấy gấm thêu. (Thơ chữ Nôm)

Hay trong bài Ngụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ một bức tranh tuyệt tác quê mình:

Phiên âm:

Giang quán đăng lâm nhật hướng tà, Thừa nhàn bả tửu thính ngư ca. Bán thiên lương đệ thanh phong hảo, Lưỡng ngạn tình thiêm lục thụ đa. Hứng kịch dã tình thiên ái cúc,…

Nghĩa là:

Ở quán lên ngắm cảnh bên sông khi mặt trời tà, Lúc nhàn cầm chén rượu nghe tiếng hát làng chài. Từ lưng trời, hơi lạnh đưa lại luồng gió mát, Hai bờ sông, trời quang cây xanh nảy nở. Cảm hứng trào dâng, tình quê ưa riêng hoa cúc,…

Như vậy, cách chúng ta khoảng hơn 500 năm, làng quê Trung Am đã được mô tả khá nhiều trong các bài thơ, bài văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm với những nét đẹp văn hóa truyền thống. Qua thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngày nay chúng ta hoàn toàn có thể thấy được làng quê Trung Am nhỏ bé bên bờ sông Thái Bình xưa kia, đã là một nơi thắng địa, một khu di tích văn hóa và xã hội có cuộc sống sinh hoạt phồn thịnh ở vào thế kỷ XVI. Chính cái làng quê Trung Am này, đã tạo nên nhân cách con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, là nguồn cảm hứng vô tận tạo nên cốt cách trong thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tạo nên những thi phẩm của ông.

2. Trước tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm không những tinh thông lý học, mà còn có tài văn chương lỗi lạc; thơ văn của ông luôn được hậu thế ngợi ca. Nhận xét về thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân (1703-?) trong Bạch Vân Am cư sỹ Nguyễn công Văn Đạt phả ký viết: “Văn chương Tiên sinh rất tự nhiên, không cần điêu luyện, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng có quan hệ đến sự dạy đời”(10). Còn Phan Huy Chú (1782 – 1840) nhận xét về thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: “Đại để là thanh tao, tiếu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên… Lời và ý đều nhẹ nhàng nhàn nhã, có thể thấy được chí không thích làm quan”(11). Thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được chính tác giả đề tựa: “Tôi lúc nhỏ được gia đình dạy dỗ, lớn lên đứng vào hàng sĩ phu, đến khi về già thích nhàn tảng ẩn dật, vui cảnh non nước, vụng về làm thơ. Tuy vậy cái bệnh ham thơ lâu ngày tích lại chưa chừa được, mỗi khi thư thả lại nảy hứng ngâm vịnh… thảnh thảnh ghi lại thành thơ nói về chí, tất thảy được ngàn bài, biên tập thành sách, tự đặt là Bạch Vân Am thi tập”(12). Thế hệ sau ghi chép về tình hình thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:

Vũ Khâm Lân (1703-?), trong Bạch Vân Am cư sỹ Nguyễn công Văn Đạt phả kýghi: “Riêng về thơ phú quốc ngữ, tiên sinh cũng soạn rất nhiều, trước đã xếp thành một tập gọi tên là Bạch Vân thi tập, tất cả đến hơn ngàn bài, ngày nay sót lại độ hơn một trăm, và một thiên Trung tâm quán phú, còn thì thất lạc cả”(13).

Lê Quí Đôn (1726 – 1784), trong Đại Việt thông sử mục Nghệ văn chí ghi: “Bạch Vân Am tập: ? quyển, lại 1 bộ … quyển. Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn, tự đề tựa, tổng cộng có 1.000 bài thơ, một bộ không có lời tựa, vả lại so về thơ với nguyên văn chỉ có một phần mười, đây hẳn do người đời sau soạn, nhưng không biết tên, họ. Bạch Vân quốc ngữ thi: 2 quyển, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn”(14).

Phan Huy Chú (1782 – 1840), trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí ghi: “Bạch Vân Am tập, 10 quyển. Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn, một nghìn bài thơ… Bạch Vân quốc ngữ thi: 2 quyển, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn”(15).

Trần Văn Giáp (1902 – 1973), trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm nhận xét về thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: “Về thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì thơ chữ Hán được tập hợp trong Bạch Vân Am tập, và thơ chữ Nôm được tập hợp trong Bạch Vân quốc ngữ thi. Không thấy bản in tập thơ chữ Nôm, có lẽ đương thời cũng như về sau thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa từng được khắc ván in. Vì vậy, rải rác trong nhiều tập sao chép thấy có thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhưng số bài nhiều ít không giống nhau, tam sao thất bản, lẫn lộn thơ người nọ với thơ người kia cũng nhiều”(16).

Hiện nay thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu giữ ở nhiều nơi, ở đây chúng tôi xin nêu những văn bản hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam

Tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gồm có các văn bản:

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu A.2256, thơ chữ Hán, 260 trang, sách chúng tôi các nhà nghiên cứu, đây là bản in đầu triều Nguyễn. Nội dung sách gồm, Bạch vân am thi tập tự白雲庵詩集序 (bài tựa do Nguyễn Bỉnh Khiêm viết), Bạch Vân am sự tích白雲庵事跡 (viết về hành trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm), tiếp là phần chép thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần chép thơ văn chia là 2 làm quyển, Quyển 11 và Quyển 12, tổng cộng có 626 bài, trong đó có 3 bài ký văn xuôi. Theo Trần Văn Giáp, phần thơ văn chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong bộ sách có tên chung là Danh thi hợp tuyển名詩合選, do viên Trấn thủ Hải Dương là Trần Công Hiến biên tập và đưa in năm Gia Long thứ 13 (1814)(17).

– Bạch Vân Am thi tập quyển thập nhất白雲庵詩集卷十一, ký hiệu A.1350, 134 trang, sách in, thơ chữ Hán. Nội dung có Bạch vân am thi tập tự, Bạch Vân am sự tích và Quyển 11, giống như phần Quyển 11 của bản ký hiệu A. 2256.

– Bạch Vân tiên sinh thi tập 白雲先生詩集, ký hiệu VHv.2615, thơ chữ Hán, sách chép tay, 142 trang, ghi niên đại năm Đinh Mùi niên hiệu Duy Tân thứ 1 (1904). Chữ Hán, chép không đều, có thể do nhiều người sao chép.

– Bạch Vân Am thi văn tập 白雲庵詩文集, A.296/1 -2, sách chép tay, thơ chữ Hán, 582 trang.

– Bạch Vân Am thi tập tịnh tự白雲庵詩集並序, ký hiệu VHv.144, thơ chữ Hán, sao vào tháng giêng năm Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức (1868), 172 trang.

– Bạch Vân tiên sinh thi tập hạ白雲先生詩集下, ký hiệu VHv188, sách chép tay, thơ chữ Hán, 114 trang.

– Bạch Vân Am tiên sinh Trạng nguyên Trình quốc công thi tập tịnh tự白雲庵先生狀元程國公詩集並序, ký hiệu VHv.850, sách chép tay, thơ chữ Hán, 114 trang.

– Bạch Vân Am thi tập 白雲庵詩集,ký hiệu VHv.1794, sách chép tay, thơ chữ Hán, 240 trang.

– Bạch Vân Am tiên sinh Trạng nguyên Trình quốc công thi tập tiền tự白雲庵先生狀元程國公詩集前序, ký hiệu VHv. 2081, sách chép tay, thơ chữ Hán, 172 trang.

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu VHv.1453/ 1-2, sách chép tay, thơ chữ Hán, 426 trang.

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu A.2591, sách chép tay, thơ chữ Hán, 68 trang.

– Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, sách chép tay, thơ chữ Hán, 75 trang.

– Trạng nguyên Trình Quốc công sấm ký狀元程國公讖記, ký hiệu AB.345, sách chép tay, chữ Nôm, 33 trang.

– Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 98 trang

– Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 44 trang.

– Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và hơn 70 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Trình Quốc công sấm ký 白雲庵居士阮程國公讖記, ký hiệu VNb.3, sách chép tay bằng bút sắt trên giấy học sinh, 25 trang. Một số bài thơ và câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Sấm ký bí truyền 讖記祕傳, ký hiệu VHv.2261, sách chép tay, chữ Nôm, 34 trang. Những câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Trình Quốc công sấm ký 程國公讖記, ký hiệu AB.345, sách chép tay, chữ Nôm, 33 trang. Những câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Trình tiên sinh quốc ngữ 程先生國語, ký hiệu AB.444,sách chép tay, chữ Nôm, 22 trang. Nhưng ghi chép hương ước, không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Tam giáo tượng minh bi三教像銘碑, N04662.

Ngoài ra, thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có trong các sách lưu giữu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Danh thi hợp tuyển名詩合選, Địa học trích anh地學摘英, Hàn các tùng đàm翰閣叢談, Nhất tích thiên văn gia truyền一蹟天文家傳, Quách thị gia tàng郭氏家藏, Quảng lãm danh ngôn tập lục廣覽名言集錄, Quảng Ngãi tỉnh nữ học trường 廣義省女學場, Thi sao詩抄, Thi văn tạp ký nội phụ Hán tự đối liên tế văn trướng văn詩文雜記內附漢字對聯祭文帳文, Thiên gia thi tập天家詩集, Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ天南語錄外紀, Tiên chính cách ngôn先正格言, Toàn Việt thi lục全越詩錄, Trần vương truyện khảo陳王傳考, Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh越南山河海峒賞詠, Việt thi tục biên越詩續編, Việt tuý tham khảo 越粹參考, v.v…

Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có 4 bản thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm:

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, với 03 ký hiệu R.2017, R.1917, R.1718 ; trong đó bản ký hiệu R.2017 trùng với bản A.2256 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

– Bạch Vân Am tiên sinh白雲庵先生, ký hiệu R.101, sách chép tay, thơ chữ Hán, 75 trang.

Như vậy, có thể thấy thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu truyền đến nay chép trong nhiều văn bản; khi nghiên cứu, biên dịch và giới thiệu thơ văn của ông, một yêu cầu đặt ra là công tác văn bản học phải đặt ra đầu tiên. Đây thực sự là việc làm khó khăn, chả thế mà đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên dịch và giới thiệu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm mà số lượng thơ văn của ông, nhất là số bài thơ Nôm đã chưa có được tiếng nói chung.

Văn bản thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 3 văn bản chép thơ Nom của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309; Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157 và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635.

Trong đó 02 bản Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309 và Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157 đều thống nhất chép 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, chép 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và hơn 50 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm. So sánh 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong 3 thi tập nêu trên, Phạm Văn Ánh nhận xét “về cơ bản đều giống nhau, thậm chí giống cả trật tự các bài (trừ một vài trường hợp không đáng kể)”(18). Có lẽ do ấn tượng về lời nhận xét của Vũ Khâm Lân “tất cả đến hơn ngàn bài, ngày nay sót lại độ hơn một trăm”, nên người sưu tập sau này đã dừng lại ở con số 100 là đáng tin cậy. Còn hơn 70 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm chép trong Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, hiện cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Trong bản AB.635, từ tờ 19b chép thêm các phần: 1/ Trình Trạng nguyên hựu thi nhất thủ程狀元又詩一首, nhưng lại chép 2 bài thơ Nôm. 2/ Trình công ngâm thi程公吟詩, chép 51 bài thơ Nôm đều không đề tên bài, trong đó bài số 15 trùng với bài số 51. 3/ Từ tờ 29b, chép tiếp 21 bài thơ Nôm đều có đầu đề. 4/ Từ tờ 33b, chép 9 bài thơ văn chữ Nôm và chữ Hán, trong đó có 3 bài thơ Nôm và 6 bài thơ văn chữ Hán.

Khi khảo về 21 bài thơ Nôm chép từ tờ 29b – tờ 33a trong bản AB.635, Nguyễn Tá Nhí cho rằng “21 bài thơ Nôm có đầu đề này rất có thể không phải của Nguyễn Bỉnh Khiêm … 21 bài thơ này được ghi đầy đủ trong tác phẩm Sô Nghiêu đối thoại (bản ký hiệu AB.469) in năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780) của An Lạc cư sỹ”(19). Hay như 3 bài thơ Nôm chép ở phần cuối bản AB.635 cũng không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Như vậy thơ Nôm cho là của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ các nguồn tư liệu là 153 bài, nhưng các nhà nghiên cứu như Bùi Duy Tân, Bùi Văn Nguyên, v.v… cho rằng có khoảng 30 bài trùng nhau giữa thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bùi Duy Tân nhận xét: “Phần chắc là 2 bản thơ Nôm của hai đại gia (Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm) đều là những bản sao đi chép lại ở thời sau, từ sau khi nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời 1585 đến trước khi bản Phúc Khê được in 1868, quãng ba bốn trăm năm, quá nhiều thời gian để hai tập thơ (Quốc âm thi tập và Bạch Vân Am thi tập) có thể lẫn lộn vào nhau”(20).

Còn như, theo ghi chép của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Trần Văn Giáp; Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân quốc ngữ thi, hiện trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam không thấy có sách này, mà ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có Trình tiên sinh quốc ngữ 程先生國語, ký hiệu AB.444,sách chép tay, chữ Nôm, 22 trang. Nhưng ghi chép hương ước, không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ trước đến nay đã có nhiều bản phiên âm. Từ năm 1930, Sở Cuồng Lê Dư trong Quốc học từng san, tập 1 đã phiên âm giới thiệu 96 bài thơ Nôm. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu như Trần Trung Viên, Hoàng Xuân Hãn, Paul Schneider, v.v… cũng phiên âm, giới thiệu thơ, văn Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng đem lại những dấu ấn về việc phiên âm và giới thiệu thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm phải kể đến các công trình:

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1983, do Đinh Gia Khánh chủ biên, Hồ Như Sơn phiên âm giới thiệu phần thơ Nôm đã tuyển chọn 161 bài thơ Nôm.

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1989, do Bùi Văn Nguyên phiên âm giới thiệu 177 bài thơ Nôm.

– Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, Nguyễn Tá Nhí chủ biên, phần thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân quốc ngữ thi) đã phiên âm giới thiệu 176 bài thơ Nôm.

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2014, phần khảo thơ Nôm do Phạm Văn Ánh thực hiện, giới thiệu 152 bài thơ Nôm.

Như vậy, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhiều nhà nghiên cứu phiên âm giới thiệu, số lượng bài thơ không thống nhất. Về 100 bài thơ là thống nhất, còn số lượng hơn 100 thì chưa được thống nhất. Chúng tôi biết rằng vấn đề văn bản học trong các tác phẩm thơ Nôm như Quốc âm thi tập國音詩集 của Nguyễn Trãi (1380-1442), Hồng Đức quốc âm thi tập洪德國音詩集 của Lê Thánh Tông và các tác giả khác trong Hội Tao đàn, Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v… là rất khó khăn; nhưng giới nghiên cứu Hán Nôm và nghiên cứu văn học không nên để mãi tình trạng nhầm lẫn và khi công bố ghi là tạm thời chấp nhận như hiện nay. Chúng ta đã có những nhà nghiên cứu tiến hành minh định thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, dựa trên cơ sở về phong cách thơ, hay ngữ âm lịch sử, v.v… như Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Tài Cấn, Nguyễn Văn Hiệp; bước đầu đã có những căn cứ để biện minh về hơn 30 bài thơ trùng lặp của hai đại thi hào, thiết nghĩ trong tương lai khi làm lại thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nên giải quyết các bài thơ trùng lặp này.

Lời kết

Chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết sức lớn lao, đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường và khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt. Như mọi người đều biết, tiếng Việt của chúng ta rất giàu hình ảnh, là tiếng nói của nhân dân, là lời văn trong sáng của các nhà ngoại giao và là ngôn ngữ cảm xúc văn học trong các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn và là kho tàng ca dao trong sáng tác văn học dân gian. Tiếng Việt của chúng ta giàu tình cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử.

Chữ Nôm ra đời, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển của nền văn hóa dân tộc, giai đoạn nước Đại Việt vững bước trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất. Ở thời nhà Lý, chữ Nôm xuất hiện trong các văn bản chỉ đơn thuần là những từ ghi tên người hay tên đất; nhưng sang thời nhà Trần thì đã phát triển thịnh hành và bắt đầu dùng trong ghi chép trước thuật để tạo nên văn học chữ Nôm. Theo các tài liệu đã công bố, chúng ta còn lưu giữ được một số văn bản được coi là văn học chữ Nôm ở vào thời kỳ này. Trước hết phải kể đến Cư trần lạc đạo phú居塵樂道賦 và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca得趣林泉成道歌 của vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tổ thứ nhất của phái Thiền tông Trúc Lâm; tiếp đến là Hoa Yên tự phú花煙寺賦 của Lý Đạo Tái (1254 – 1334), đạo hiệu là Huyền Quang, tổ thứ ba của phái Thiền tông Trúc Lâm. Sau này Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân Am thi tập, Ngự đề Thiên hòa doanh bách vịnh御提天和營百詠 gồm của Trịnh Căn (1633 – 1709), Càn nguyên ngự chế thi tập 乾元御制詩集của Trịnh Doanh (? – 1767), Thiên Nam ngữ lục天南語錄 (khuyết danh), Thiên Nam minh giám天南明鋻 (khuyết danh), Chinh phụ ngâm khúc征父吟曲của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) và của Phan Huy Ích (1750 – 1822),Ai tư vãn哀思晚 của Lê Ngọc Hân (thế kỷ XVIII), Đoạn trường tân thanh 斷腸新聲 của Nguyễn Du (1765 – 1820), Hoa tiêntruyện 花仙傳 của Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790 Lục Vân Tiên 蓼雲仙của Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), v.v… đã nói lên sức sống mãnh liệt, một bước tiến mới của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật và khẳng định vai trò của văn học chữ Nôm trong nền văn học trung đại Việt Nam.

——————————-

Chú thích:

1. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012, tr. 30.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (bản dịch), Tập 2, Nxb. Lao Động – Trung tâm Văn hóa Đông Tây, tr. 1274.

3.Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2014, tr.124-125.

4,5,6. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (bản dịch), Tập 2, sđd, tr. 1274.

7. Đại Nam thực lục, tập 3 (bản dịch), Nxb. Giáo dục, 2001, tr.29.

8. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2014, tr.124.

9. Các bản dịch thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn trong bài này đều theo Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1983.

10. Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Giáo dục, 2001, tr. 632.

11. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí (bản dịch), Tập III, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 127 – 130.

12. Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Nguyễn Tá Nhí (chủ biên), Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 643.

13. Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu), sđd, tr. 632.

14. Lê Quí Đôn: Đại Việt thông sử (bản dịch), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.109.

15. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí (bản dịch), Tập III, sđd, tr. 127 – 130.

16, 17. Trần Văn Giáp: Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 901.

18. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, sđd, tr.100.

19. Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Nguyễn Tá Nhí (chủ biên), Tập 1, sđd, tr. 646.

20. Bùi Duy Tân: Khảo và luận một số thể loại tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 220 – 221.

—————————–

Tài liệu tham khảo:

– Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa-François Gros đồng chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

– Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985.

– Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Võ Quang Nhơn, Mai Cao Chương và Nguyễn Lộc: Văn học Việt Namtừ thế kỷ X đến năm 1945 (ba tập), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000-2002 (tái bản).

– Trịnh Khắc Mạnh: “Chữ Nôm và nền văn học Nôm”, Tạp chí Hán Nôm, số 6/2004.

– Tổng tập văn học Việt Nam (nhiều tập), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhà Văn Mai An Nguyễn Anh Tuấn Về Một Bộ Sưu Tập Văn Học Đồ Sộ: Thơ Bạn Thơ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!