Xu Hướng 2/2024 # Nhà Tuyển Chọn Thơ Trần Đình Thu: Thơ Dở Mà Xếp Với Thơ Hay Là Có Tội Với Bạn Yêu Thơ # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nhà Tuyển Chọn Thơ Trần Đình Thu: Thơ Dở Mà Xếp Với Thơ Hay Là Có Tội Với Bạn Yêu Thơ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Giữa năm 2009, nhà báo Trần Đình Thu, người viết nhiều cuốn sách nghiên cứu hấp dẫn như Bùi Giáng – thi sĩ kỳ dị, Giải mã nghi án văn học T.T.Kh… lập trang web chúng tôi để tìm kiếm thơ hay Việt Nam. Cuộc trao đổi thú vị sau đây về quan điểm chọn thơ giữa nhà văn Nguyễn Một và nhà nghiên cứu Trần Đình Thu được gửi riêng cho trannhuong.com.

Nguyễn Một: Tôi để ý thấy trên web chúng tôi thiếu vắng rất nhiều bài thơ nổi tiếng một thời của Nguyễn Duy, của Phạm Tiến Duật… Tại sao vậy?

Trần Đình Thu: Đúng là một số bài thơ có tiếng của các tác giả này không được tôi chọn. Lý do là vì nó không phù hợp với tiêu chí của tôi đưa ra ngay trong trang web.

Nguyễn Một: Tôi cũng có thấy mấy dòng tiêu chí vắn tắt ông đưa ra nhưng bây giờ tôi muốn ông phân tích sâu hơn để chứng minh cho việc chọn thơ của ông.

Trần Đình Thu: Nền tảng chung thì không có gì mới. Nhiều nhà văn chúng ta từ lâu rồi đã nhận thấy có một dòng văn học minh họa trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam. Trong tiểu luận “Con đường sáng tạo của nhà văn Việt Nam” tôi gọi đó là tác phẩm tuyên truyền cổ động. Nó có giá trị động viên quần chúng, động viên bộ đội xây dựng và bảo vệ đất nước nhưng nó không có giá trị văn học.

Khi xây dựng tiêu chí bình chọn thơ hay, tôi cũng xuất phát từ nền tảng lý luận cơ bản đó. Nhưng tiêu chí thì đòi hỏi anh phải diễn tả cô đọng bằng một vài câu văn, vì tiêu chí chính là quy phạm.

Lâu nay chúng ta mới đưa khái niệm về văn học minh họa chứ chưa ai định nghĩa thế nào là một “tác phẩm minh họa”, thế nào là một “tác phẩm không minh họa”?

Nên tôi phải tìm cách định nghĩa để áp dụng cho việc chọn thơ. Tôi cho rằng, “thơ không minh họa” là thơ được viết ra từ cảm xúc chân thành của cá nhân mình đối với cuộc sống, không viết nhằm mục đích chính trị hoặc tuyên truyền cổ động…

Nguyễn Một: Như vậy “cảm xúc chân thành của cá nhân” là yếu tố quyết định của một tác phẩm “thơ không minh họa”?

Trần Đình Thu: Đúng vậy. Đối với thơ, thì cái chân thành của cá nhân nó quyết định hết. Nó cực kỳ quan trọng. Tôi lấy thí dụ với hai bài thơ viết về chiến tranh. Một là bài Tây Tiến của Quang Dũng, bài kia là Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Bài của Quang Dũng chứa đựng đầy đủ tâm tư của người lính nơi trận mạc. Người lính ra trận để chiến đấu bảo vệ tổ quốc nhưng sự ác liệt của cuộc chiến cũng gieo vào lòng họ bao nỗi niềm. Đó là cảm xúc chân thành. Họ không cố vui, cố reo hò mà nói thật lòng mình: “Tây Tiến người đi không hẹn ước/Đường lên thăm thẳm một chia phôi”. Nó không phải là sự phản chiến mà là sự chân thành. Khác với người lính của Phạm Tiến Duật, cố giấu nỗi buồn bằng niềm vui gắng gượng: “Không có kính, ừ thì ướt áo/Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời/Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa/Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”. Đó là lối phát biểu tuyên truyền cổ động thôi.

Nguyễn Một: Ông nói cũng có lý. Nhưng làm thế nào để nhận ra “cảm xúc chân thành của cá nhân” trong một bài thơ? Cái này tôi thấy có vẻ trừu tượng ông à!

Trần Đình Thu: Sự giả tạo trong đời sống còn dễ nhận ra, huống chi là giả tạo ở trong thơ. Tôi lấy thí dụ câu thơ trong bài Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật mà nhiều người đã từng phân tích: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Trời ơi, từ cổ chí kim có con đường ra trận nào mà người lính thấy là “đẹp lắm” đâu!

Nguyễn Một: Ngoài vấn đề này ra, ông có xem xét thêm yếu tố nào trong quá trình chọn lựa thơ?

Trần Đình Thu: Nhiều bài thơ được trao giải từ ngày xưa, rất nổi tiếng nhưng thơ ngô nghê vụng về, cần phải loại bỏ. Tôi lấy thí dụ như bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy:

Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chất dồn lâu hóa nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

Nguyễn Một: Năm ngoái, ông Vũ Quần Phương, thay mặt Hội nhà văn Việt Nam, công bố tiêu chí tuyển chọn thơ hay đối với “Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ 20″ như thế này: Phải căn cứ vào hai đặc điểm của thơ Việt Nam thế kỷ XX là chủ nghĩa yêu nước và có những đổi mới về nghệ thuật thi pháp kể từ thơ mới 1930-1945 trở đi”. Ông nghĩ thế nào?

Trần Đình Thu: Ông ấy là nhà thơ mà phát biểu như vậy sao? Yêu nước là yêu nước, thơ là thơ. Yêu nước thuộc phạm trù đạo đức công dân, thơ thuộc phạm trù văn hóa nghệ thuật. Đây là một phát biểu vô trách nhiệm với nền văn học nước nhà. Tôi hết sức đau lòng khi nghe những phát biểu như vậy.

Hồi xưa, chúng ta đã phải cố gắng biết bao nhiêu để đưa những bài thơ như Tây Tiến của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử… trở lại văn đàn. Giờ đây ông ấy muốn quay ngược trở lại tiến trình ấy à?

Nguyễn Một: Hi hi biết làm sao được. Người ta có quyền mà.

Xưng Tội Với Linh Mục Là Chuyện Buồn Cười

Một người đàn ông đồ sộ vỗ vai một ông linh mục, vừa hỏi vừa cười hóm hỉnh:

– Chỗ anh em với nhau, tôi hỏi thiệt tình, anh đừng giận tôi nha.

– Chuyện gì mà vô đề long trọng dữ vậy?

– Tôi nghe người ta nói: đạo của anh bắt tín đồ có tội phải đi xưng tội với cha cố và cha cố tha tuốt luốt. Cái đó có không?

– Có. Thì đã sao nào?

– Thì đạo của anh buồn cười quá à.

– Những gì làm anh buồn cười, thì kể cho tôi nghe coi.

– Nhiều lắm. Thứ nhất: linh mục các anh là người như người ta; cũng biết ăn gian nói dối; cũng biết ngoại tình … thì tại sao lại dám ngồi tòa tha tội cho người gian dối, gian dâm?

– Ông chánh án ngồi tòa: tha bổng, kêu án tử hình, kêu án tù chung thân …, thì ông chánh án là người hay là thiên thần?

– Ông chánh án cũng là người nên cũng có thể phạm tội, nhưng ông ngồi tòa với tư cách là đại diện công lý, đại điện cho dân.

– Thì linh mục chúng tôi có tha tội cho tín đồ với tư cách của cá nhân mình đâu. Chúng tôi tha tội nhân danh Chúa và do yêu cầu của Chúa. Đức Giêsu trước khi về trời đã nói với các Tông đồ rằng: “Điều gì chúng con tha dưới đất, thì trên trời cũng tha”.

– Tội phạm tới Chúa thì xưng với Chúa và xin Chúa tha, hà cớ gì Chúa lại trao quyền ấy cho các anh?

– Để tôi kể cho anh một câu chuyện:

Có một người mẹ đang mổ cá, tay dơ quá. Thằng cu tí của bà đang chạy chơi trên sân sũng nước, vì trời mới mưa, bỗng té ạch một cái. Bà không dám bỏ rổ cá đang dang dở, vì con mèo cồ đang ngồi liếm mép. Bà kêu cô chị của thằng cu tí: “Hai! Con đi tắm cho em!”. Cô chị cũng chẳng sạch sẽ gì, mới quét chuồng heo xong, thoang thoảng mùi cháo thiu, vội vàng dìu cu tí đi tắm. Cu tí sạch boong, thay quần áo mới, tóc rẽ ngôi láng coóng, thơm thơm mùi nước hoa của mẹ, nhảy tưng tưng, cười toe toét, thương chị quá chừng.

Vậy đó. Bây giờ tôi hỏi anh: Ở trên đời này, có thằng cu tí nào thắc mắc với cô chị nó rằng: “Chị lấy quyền gì mà tắm cho tôi? Chị có sạch sẽ gì đâu mà dám tắm cho tôi, chải đầu cho tôi, thay đồ cho tôi, lại còn lấy dầu thơm của mẹ mà xức cho tôi nữa. Bày đặt!”. Xin lỗi anh. Nếu trên đời này có thằng cu tí nào nói như thế, thì nó chính là anh đấy.

– Anh trả lời hay. Cho anh mười điểm.

– Còn thắc mắc gì nữa nào?

– Thắc mắc thứ hai: Có tội thì phải phạt. Còn các anh thì tội gì cũng tha tuốt luốt. Như vậy là các anh vẽ đường cho hươu chạy, là xúi người ta cứ phạm tội tối đa.

– Linh mục chúng tôi là cô chị của thằng cu tí. Cô chị chỉ mong muốn một điều là thằng em hết dơ. Dĩ nhiên là thằng cu tí chẳng muốn té. Nhưng có thể là nó sẽ còn té nữa. Nếu nó té nữa, thì cô chị lại tắm cho nó, an ủi và khuyên nhủ nó. Như vậy đâu phải là cô chị vẽ đường cho hươu chạy. Nói cho vui vậy thôi, chứ vấn đề tha tội trong đạo không đơn giản như thế. Theo giáo lý, thì muốn được tha tội, thì phải có điều kiện. Điều kiện một là phải thành tâm sám hối, mà thành tâm sám hối, thì bao hàm việc quyết tâm chừa tội. Điều kiện hai là phải đền tội xứng đáng. Nếu ăn trộm, phá hoại thì phải bồi thường. Bồi thường tiền của. Bồi thường danh dự, … vân vân … Xét về mặt tâm lý, người Công giáo xưng tội xong cảm thấy tâm hồn sung sướng, giàu nghị lực để tránh tội, chứ không có ý đồ phạm tội lại, phạm tội thêm. Đó chính là tâm tư của thằng cu tí sau khi được chị nó tắm cho. Chị tắm và em được tắm nảy ra một tình cảm rất thân thương. Thằng cu tí thấy mình sạch quá, đẹp quá, thơm quá và chẳng muốn ở dơ chút nào.

-Cho anh thêm mười điểm nữa. Không ngờ mà đạo của anh vừa có tình vừa có lý. Và … bây giờ là thắc mắc thứ ba. Nếu tôi là tín đồ Công giáo, tôi chỉ dám xưng ba cái tội lặt vặt thôi, còn tội quan trọng …, thì tôi hổng dám đâu.

-Ví dụ tội gì nào?

– Ví dụ tôi xưng tội ăn cắp xe của bố anh, mà em của anh là trưởng ban công an xã, thì thế nào anh cũng móc điện thoại đi động gọi cho em của anh ngay. Ví dụ tôi xưng tội tò tí với em dâu của anh, thì thế nào anh cũng bật mí cho thằng em trai của anh liền. Đúng không nào?

– Chà. Kẹt dữ ạ.

– Vậy là anh thua rồi phải không?

– Có thể thua thôi, chứ chưa thua đâu. Nếu tôi vì quá thương bố mất xe, vì quá thương thằng em làm công an đang bí lối và thương thằng em trai bị vợ cắm sừng, thì tôi có thể làm bật mí tội của anh. Trong trường hợp này, theo Giáo Luật, thì tôi phạm một tội rất nặng. Tội này có tên là “Lỗi ấn tòa xá giải”. Sau khi phạm trọng tội này, tôi không thể đi xưng tội với bất cứ một linh mục nào. Tôi phải xin ơn tha tội nơi Tòa Thánh.

– Đã có một linh mục lỗi ấn tòa xá giải rồi.

– Ai và ở đâu?

– Một tín đồ ở miền Tây theo cách mạng, rải truyền đơn chống Pháp, đi xưng tội. Thế là ông cha báo cò Tây đến bắt, đày ra Côn Đảo.

– Rải truyền đơn chống Pháp thì tại sao lại bảo là tội, tại sao lại đi xưng làm chi? Người làm cách mạng không lẩm cẩm như vậy đâu. Về vấn đề “lỗi ấn tòa” tôi khẳng định với anh rằng: linh mục là người, thì có thể phạm lỗi ấy. Nhưng trên thực tế, thì tôi chưa thấy xảy ra điều đó, dù bên Tây hay bên Đông, dù thời xưa hay thời nay. Ngược lại có nhiều linh mục vì bảo vệ ấn tòa mà lâm nạn. Tôi kể cho anh nghe hai chuyện thôi:

*Chuyện một. Sau thế chiến thứ hai ở bên Ý xảy ra một chuyện rất thương tâm. Một linh mục chánh xứ đang làm việc tại bàn giấy. Vào lúc 20 giờ 30 có người gõ cửa. Mở cửa ra thì gặp người khách lạ xin xưng tội. Hắn quỳ mọp xưng tội rất vội vã, rồi vội vàng rút lui y như người bị rượt đuổi.

Hắn vừa đi khỏi thì cảnh sát tới.

– Thưa linh mục, vừa có một vụ cướp của, giết người xảy ra ở nhà ga. Theo kinh nghiệm chuyên nghiệp của chúng tôi, thì hắn còn luẩn quẩn đâu đây. Vậy xin linh mục giúp chúng tôi chu toàn nhiệm vụ.

– Tôi không biết.

– Ủa, sao lại có khẩu súng lục ở trong sọt rác này?

– Tôi không biết.

– Nếu là súng của linh mục, thì xin vui lòng cho chúng tôi coi giấy chủ quyền. Nếu không phải của linh mục, thì xin vui lòng cho biết ai là chủ của nó. Khẩu súng này mới xài tức thời, vì nòng của nó có mùi khen khét.

– Tôi không biết.

– Chúng tôi sẽ khởi tố linh mục về tội sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Linh mục còn phải trả lời trước tòa: tại sao súng mới nhả đạn lại nằm trong sọt rác, dưới gầm bàn của linh mục, ngay sau thời gian có vụ nổ súng tại nhà ga.

Quả thật, linh mục chánh xứ ấy phải đứng trước vành móng ngựa. Quan tòa và công tố viên đặt ra rất nhiều câu hỏi. Nhưng câu hỏi nào cũng được trả lời y như nhau: “Tôi không biết” – Cuối cùng tòa buộc hai tội: cướp của – giết người và khinh dể tòa án. Rồi tuyên án tù chung thân.

Một linh mục đi tù chung thân vì tội giết người cướp của. Buồn quá! Nhục quá! Mà cũng oan khiên quá! Nhưng linh mục ấy đã cúi đầu chấp nhận chỉ vì lương tâm không cho phép bật mí bất cứ điều gì mình biết trong tòa xá giải.

Mười ba năm sau, tên trộm ấy ra tự thú. Linh mục đi tù oan được trả cả tự do lẫn danh dự. Chua quá! Nhưng cũng vinh dự quá!

*Chuyện hai. Chuyện này xảy ra trong một gia đình bất hạnh. Ông chồng thì đam mê cờ bạc, rượu chè, trai gái. Bà vợ thì cắn răng chịu đựng. Chịu đựng mãi thành hiện tượng dồn nén. Dồn nén mãi thì phải bùng vỡ. Hôm ấy ông chồng đi chơi mãi tới quá nửa đêm mới về. Ông gọi cửa. Bà mở cửa. Ông vừa đưa đầu vào, thì một lưỡi dao phập xuống …

Cơn điên qua rồi, bà vợ khóc lóc thảm thiết. Bà đến nhà thờ xưng tội với cha xứ, rồi đi thú tội với công an xã. Công an xã mời linh mục chính xứ tới để bổ túc hồ sơ.

– Bà Nguyễn Thị M. khai rằng bà đã đi xưng tội, kể lể hết mọi hành vi tội ác. Vậy yêu cầu linh mục cho chúng tôi biết bà M. đã khai gì với linh mục?

– Tôi không biết.

– Đương sự đã khai với linh mục, thì linh mục có nhiệm vụ phải khai với chính quyền, vì đây là vụ án quan trọng.

– Tôi không được nói, vì theo Giáo Luật, tôi không được làm lộ những gì người ta xưng trong tòa.

– Như vậy là ông coi thường chánh quyền. Nếu ông ngoan cố, tôi sẽ còng tay ông.

Ông trưởng ban công an xã đập bàn, giận dữ. Ông chủ tịch Mặt trận phải vội vàng chạy qua góp ý.

– Luật của đạo Thiên Chúa như vậy đó. Các anh cứ ghi nhận những gì bà M. đã khai – Bà M. đã tự thú, thì bà còn giấu giếm làm chi. Lời khai của bà là đủ rồi.

– Thôi, cụ đi về đi.

Anh công an hạ giọng, gấp hồ sơ, đứng dậy, đi tìm điếu cày …

Ông cha xứ 90 tuổi đi về, lòng buồn man mác. Anh công an rít một điếu thuốc lào, lòng nhẹ lâng lâng.

– Tôi giải đáp như thế là hết lời, hết ý rồi đấy. Anh vừa lòng chưa?

– Mới vừa lòng 90 phần trăm thôi.

– 90 hay 100 đã là “bên tám lạng bên nửa cân”. Tôi mừng lắm rồi. Chào anh.

Tạp bút của Lm Piô Ngô Phúc Hậu

Xưng Tội Với Linh Mục Là Chuyện Buồn Cười?

Một người đàn ông đồ sộ vỗ vai một ông linh mục, vừa hỏi vừa cười hóm hỉnh:

– Chỗ anh em với nhau, tôi hỏi thiệt tình, anh đừng giận tôi nha.

– Chuyện gì mà vô đề long trọng dữ vậy?

– Tôi nghe người ta nói: đạo của anh bắt tín đồ có tội phải đi xưng tội với cha cố và cha cố tha tuốt luốt. Cái đó có không?

– Có. Thì đã sao nào?

– Thì đạo của anh buồn cười quá à.

– Những gì làm anh buồn cười, thì kể cho tôi nghe coi.

– Nhiều lắm. Thứ nhất: linh mục các anh là người như người ta; cũng biết ăn gian nói dối; cũng biết ngoại tình … thì tại sao lại dám ngồi tòa tha tội cho người gian dối, gian dâm?

– Ông chánh án ngồi tòa: tha bổng, kêu án tử hình, kêu án tù chung thân …, thì ông chánh án là người hay là thiên thần?

– Ông chánh án cũng là người nên cũng có thể phạm tội, nhưng ông ngồi tòa với tư cách là đại diện công lý, đại điện cho dân.

– Thì linh mục chúng tôi có tha tội cho tín đồ với tư cách của cá nhân mình đâu. Chúng tôi tha tội nhân danh Chúa và do yêu cầu của Chúa. Đức Giêsu trước khi về trời đã nói với các Tông đồ rằng: “Điều gì chúng con tha dưới đất, thì trên trời cũng tha”.

– Tội phạm tới Chúa thì xưng với Chúa và xin Chúa tha, hà cớ gì Chúa lại trao quyền ấy cho các anh?

– Để tôi kể cho anh một câu chuyện:

Có một người mẹ đang mổ cá, tay dơ quá. Thằng cu tí của bà đang chạy chơi trên sân sũng nước, vì trời mới mưa, bỗng té ạch một cái. Bà không dám bỏ rổ cá đang dang dở, vì con mèo cồ đang ngồi liếm mép. Bà kêu cô chị của thằng cu tí: “Hai! Con đi tắm cho em!”. Cô chị cũng chẳng sạch sẽ gì, mới quét chuồng heo xong, thoang thoảng mùi cháo thiu, vội vàng dìu cu tí đi tắm. Cu tí sạch boong, thay quần áo mới, tóc rẽ ngôi láng coóng, thơm thơm mùi nước hoa của mẹ, nhảy tưng tưng, cười toe toét, thương chị quá chừng.

Vậy đó. Bây giờ tôi hỏi anh: Ở trên đời này, có thằng cu tí nào thắc mắc với cô chị nó rằng: “Chị lấy quyền gì mà tắm cho tôi? Chị có sạch sẽ gì đâu mà dám tắm cho tôi, chải đầu cho tôi, thay đồ cho tôi, lại còn lấy dầu thơm của mẹ mà xức cho tôi nữa. Bày đặt!”. Xin lỗi anh. Nếu trên đời này có thằng cu tí nào nói như thế, thì nó chính là anh đấy.

– Anh trả lời hay. Cho anh mười điểm.

– Còn thắc mắc gì nữa nào?

– Thắc mắc thứ hai: Có tội thì phải phạt. Còn các anh thì tội gì cũng tha tuốt luốt. Như vậy là các anh vẽ đường cho hươu chạy, là xúi người ta cứ phạm tội tối đa.

– Linh mục chúng tôi là cô chị của thằng cu tí. Cô chị chỉ mong muốn một điều là thằng em hết dơ. Dĩ nhiên là thằng cu tí chẳng muốn té. Nhưng có thể là nó sẽ còn té nữa. Nếu nó té nữa, thì cô chị lại tắm cho nó, an ủi và khuyên nhủ nó. Như vậy đâu phải là cô chị vẽ đường cho hươu chạy. Nói cho vui vậy thôi, chứ vấn đề tha tội trong đạo không đơn giản như thế. Theo giáo lý, thì muốn được tha tội, thì phải có điều kiện. Điều kiện một là phải thành tâm sám hối, mà thành tâm sám hối, thì bao hàm việc quyết tâm chừa tội. Điều kiện hai là phải đền tội xứng đáng. Nếu ăn trộm, phá hoại thì phải bồi thường. Bồi thường tiền của. Bồi thường danh dự, … vân vân … Xét về mặt tâm lý, người Công giáo xưng tội xong cảm thấy tâm hồn sung sướng, giàu nghị lực để tránh tội, chứ không có ý đồ phạm tội lại, phạm tội thêm. Đó chính là tâm tư của thằng cu tí sau khi được chị nó tắm cho. Chị tắm và em được tắm nảy ra một tình cảm rất thân thương. Thằng cu tí thấy mình sạch quá, đẹp quá, thơm quá và chẳng muốn ở dơ chút nào.

-Cho anh thêm mười điểm nữa. Không ngờ mà đạo của anh vừa có tình vừa có lý. Và …bây giờ là thắc mắc thứ ba. Nếu tôi là tín đồ Công giáo, tôi chỉ dám xưng ba cái tội lặt vặt thôi, còn tội quan trọng …, thì tôi hổng dám đâu.

-Ví dụ tội gì nào?

– Ví dụ tôi xưng tội ăn cắp xe của bố anh, mà em của anh là trưởng ban công an xã, thì thế nào anh cũng móc điện thoại đi động gọi cho em của anh ngay. Ví dụ tôi xưng tội tò tí với em dâu của anh, thì thế nào anh cũng bật mí cho thằng em trai của anh liền. Đúng không nào?

– Chà. Kẹt dữ ạ.

– Vậy là anh thua rồi phải không?

– Có thể thua thôi, chứ chưa thua đâu. Nếu tôi vì quá thương bố mất xe, vì quá thương thằng em làm công an đang bí lối và thương thằng em trai bị vợ cắm sừng, thì tôi có thể làm bật mí tội của anh. Trong trường hợp này, theo Giáo Luật, thì tôi phạm một tội rất nặng. Tội này có tên là “Lỗi ấn tòa xá giải”. Sau khi phạm trọng tội này, tôi không thể đi xưng tội với bất cứ một linh mục nào. Tôi phải xin ơn tha tội nơi Tòa Thánh.

– Đã có một linh mục lỗi ấn tòa xá giải rồi.

– Ai và ở đâu?

– Một tín đồ ở miền Tây theo cách mạng, rải truyền đơn chống Pháp, đi xưng tội. Thế là ông cha báo cò Tây đến bắt, đày ra Côn Đảo.

– Rải truyền đơn chống Pháp thì tại sao lại bảo là tội, tại sao lại đi xưng làm chi? Người làm cách mạng không lẩm cẩm như vậy đâu. Về vấn đề “lỗi ấn tòa” tôi khẳng định với anh rằng: linh mục là người, thì có thể phạm lỗi ấy. Nhưng trên thực tế, thì tôi chưa thấy xảy ra điều đó, dù bên Tây hay bên Đông, dù thời xưa hay thời nay. Ngược lại có nhiều linh mục vì bảo vệ ấn tòa mà lâm nạn. Tôi kể cho anh nghe hai chuyện thôi:

*Chuyện một. Sau thế chiến thứ hai ở bên Ý xảy ra một chuyện rất thương tâm. Một linh mục chánh xứ đang làm việc tại bàn giấy. Vào lúc 20 giờ 30 có người gõ cửa. Mở cửa ra thì gặp người khách lạ xin xưng tội. Hắn quỳ mọp xưng tội rất vội vã, rồi vội vàng rút lui y như người bị rượt đuổi.

Hắn vừa đi khỏi thì cảnh sát tới.

– Thưa linh mục, vừa có một vụ cướp của, giết người xảy ra ở nhà ga. Theo kinh nghiệm chuyên nghiệp của chúng tôi, thì hắn còn luẩn quẩn đâu đây. Vậy xin linh mục giúp chúng tôi chu toàn nhiệm vụ.

– Tôi không biết.

– Ủa, sao lại có khẩu súng lục ở trong sọt rác này?

– Tôi không biết.

– Nếu là súng của linh mục, thì xin vui lòng cho chúng tôi coi giấy chủ quyền. Nếu không phải của linh mục, thì xin vui lòng cho biết ai là chủ của nó. Khẩu súng này mới xài tức thời, vì nòng của nó có mùi khen khét.

– Tôi không biết.

– Chúng tôi sẽ khởi tố linh mục về tội sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Linh mục còn phải trả lời trước tòa: tại sao súng mới nhả đạn lại nằm trong sọt rác, dưới gầm bàn của linh mục, ngay sau thời gian có vụ nổ súng tại nhà ga.

Quả thật, linh mục chánh xứ ấy phải đứng trước vành móng ngựa. Quan tòa và công tố viên đặt ra rất nhiều câu hỏi. Nhưng câu hỏi nào cũng được trả lời y như nhau: “Tôi không biết” – Cuối cùng tòa buộc hai tội: cướp của – giết người và khinh dể tòa án. Rồi tuyên án tù chung thân.

Một linh mục đi tù chung thân vì tội giết người cướp của. Buồn quá! Nhục quá! Mà cũng oan khiên quá! Nhưng linh mục ấy đã cúi đầu chấp nhận chỉ vì lương tâm không cho phép bật mí bất cứ điều gì mình biết trong tòa xá giải.

Mười ba năm sau, tên trộm ấy ra tự thú. Linh mục đi tù oan được trả cả tự do lẫn danh dự. Chua quá! Nhưng cũng vinh dự quá!

*Chuyện hai. Chuyện này xảy ra trong một gia đình bất hạnh. Ông chồng thì đam mê cờ bạc, rượu chè, trai gái. Bà vợ thì cắn răng chịu đựng. Chịu đựng mãi thành hiện tượng dồn nén. Dồn nén mãi thì phải bùng vỡ. Hôm ấy ông chồng đi chơi mãi tới quá nửa đêm mới về. Ông gọi cửa. Bà mở cửa. Ông vừa đưa đầu vào, thì một lưỡi dao phập xuống …

Cơn điên qua rồi, bà vợ khóc lóc thảm thiết. Bà đến nhà thờ xưng tội với cha xứ, rồi đi thú tội với công an xã. Công an xã mời linh mục chính xứ tới để bổ túc hồ sơ.

– Bà Nguyễn Thị M. khai rằng bà đã đi xưng tội, kể lể hết mọi hành vi tội ác. Vậy yêu cầu linh mục cho chúng tôi biết bà M. đã khai gì với linh mục?

– Tôi không biết.

– Đương sự đã khai với linh mục, thì linh mục có nhiệm vụ phải khai với chính quyền, vì đây là vụ án quan trọng.

– Tôi không được nói, vì theo Giáo Luật, tôi không được làm lộ những gì người ta xưng trong tòa.

– Như vậy là ông coi thường chánh quyền. Nếu ông ngoan cố, tôi sẽ còng tay ông.

Ông trưởng ban công an xã đập bàn, giận dữ. Ông chủ tịch Mặt trận phải vội vàng chạy qua góp ý.

– Luật của đạo Thiên Chúa như vậy đó. Các anh cứ ghi nhận những gì bà M. đã khai – Bà M. đã tự thú, thì bà còn giấu giếm làm chi. Lời khai của bà là đủ rồi.

– Thôi, cụ đi về đi.

Anh công an hạ giọng, gấp hồ sơ, đứng dậy, đi tìm điếu cày …

Ông cha xứ 90 tuổi đi về, lòng buồn man mác. Anh công an rít một điếu thuốc lào, lòng nhẹ lâng lâng.

– Tôi giải đáp như thế là hết lời, hết ý rồi đấy. Anh vừa lòng chưa?

– Mới vừa lòng 90 phần trăm thôi.

– 90 hay 100 đã là “bên tám lạng bên nửa cân”. Tôi mừng lắm rồi. Chào anh.

Tạp bút của Lm Piô Ngô Phúc Hậu

Chỉ Vì Ghen Với Chồng Mà Trở Thành Nhà Thơ Nổi Tiếng?

Nguyễn Việt Chiến: Chỉ vì ghen với chồng mà trở thành nhà thơ nổi tiếng?

Câu chuyện hy hữu nói trên về nữ nhà thơ Đỗ Bạch Mai, vợ cố nhà thơ Bế Kiến Quốc tôi đã được nghe cả hai người kể cách đây hơn hai chục năm, khi tôi còn làm ở Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.

 Chợt bên Vệ nữ – chợt kề Tây Thi

Nửa đêm gió chuyển mang mangThời gian trở lại, không gian trở về…Cổ kim xáo trộn bộn bềChợt bên Vệ Nữ – chợt kề Tây ThiMị Nương đến, Chiêu Quân điKhuất sau liễu – Dương Quý Phi ôm đànKiều sắc sảo, Vân đoan trangVõ Tắc Thiên tựa ngai vàng ngẩn ngơ…Các em – người đẹp ngàn xưaChập chờn ẩn hiện tỏ mờ gần xaNa-ta-sa với La-raGiô-giê-phin, Ma-ry-lyn và Bác-đô…Đã qua bao cuộc hẹn hòGặp bao lỡ dở, tình chưa trọn đầyGiật mình choàng thức, chạm tayAi? Bờ vai ấm sát ngay bên mìnhChờ nhau mấy độ hoá sinhLà em đã tới cùng anh cõi này.

Tôi còn nhớ, khi đọc cho tôi nghe bài thơ nói trên, Bế Kiến Quốc cười hóm hỉnh sau làn khói thuốc: “Chú thấy anh viết bài thơ lục bát này theo giọng điệu hiện đại, có độc đáo không? Trong giấc mơ, anh tập hợp tất cả các người đẹp nổi tiếng trên thế gian từ xa xưa tới hôm nay, từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu về điểm danh chỉ trong một đêm để thưởng ngoạn.

Nhưng hóa ra, ngần ấy mỹ nữ “vang bóng một thời” lại hiện thân trong người đẹp là vợ mình ở ngay bên cạnh, thế thì mới biết vợ ta là chúa muôn loài!”. Tôi cũng cười: “Bác là hoàng-đế-thơ có khác, hơn hẳn các bậc vua chúa ngày xưa.

Một đêm, bác gọi tới cả chục mỹ nữ, cung tần xuyên lục địa về hầu thì thế gian này không ai bằng bác. Nhưng từ Tây Thi đến Chiêu Quân rồi Ma-ry-lin… cũng không em nào bằng vợ bác là Bạch Mai “quận chúa” thì bác cũng xứng danh là đệ nhất thiên hạ “thích nịnh vợ” vì thời gian yêu nhau trước khi cưới, có ngày bác làm 6 bài thơ tặng vợ, có tháng làm tới 26 bài thì bác vô địch về khoa tán gái rồi”.

Cũng chính vì tình yêu nồng cháy thể hiện qua thi ca của Bế Kiến Quốc nên nàng sinh viên đại học sư phạm Đỗ Bạch Mai đã “phải lòng thơ”, rồi theo chàng về làm việc tại Báo Văn nghệ đến khi nghỉ hưu. Trong những năm tháng hạnh phúc, Đỗ Bạch Mai đã sinh hạ cho Bế Kiến Quốc hai đứa con và cũng đã từng chứng kiến một số “nàng thơ” khác xuất hiện trong đời thơ tài hoa của chồng mình.

Năm ấy, nhà thơ Bế Kiến Quốc đi công tác tại các tỉnh phía Nam và gặp một “nàng thơ” trẻ trung, xinh đẹp ở vùng Đồng Tháp. Hai bên cảm mến nhau vì nàng cũng đang tập làm thơ lại được gặp một nhà thơ nổi tiếng ở Trung ương về địa phương đi thực tế sáng tác.

Có lần, Bế Kiến Quốc đã mua cả một gánh hoa hồng ở chợ hoa Sa Đéc mang về tặng nàng thơ Đồng Tháp khiến nàng chứa chan cảm xúc. Nhưng hạnh phúc còn hơn thế nữa khi Bế Kiến Quốc ngày nào cũng mang những bài thơ tình mới nhất đến tặng nàng.

Có lẽ công đoạn sản xuất thơ tình này chỉ còn kém thơ tặng Đỗ Bạch Mai ngày trước chút ít, trong đó có bài thơ sau này nhạc sĩ Trần Tiến đã phổ nhạc thành bài hát “Ngẫu hứng lý qua cầu” nổi tiếng với những câu: “Bằng lòng đi em về với quê anh/ Một cù lao xanh một dòng sông xanh/ Một vườn cây xanh hoa trái đưa hương/ Thuyền ai qua sông giọng cười mênh mông/ Bằng lòng đi em anh đón qua cầu/ Mùa mưa, cầu tre dẫu khó đưa dâu/ Bằng lòng đi em dưới mái tranh nghèo/ Về đây người quê chỉ có tấm lòng/ Có chiếc xuồng ba lá để yêu nhau/ Ôi đóa hoa tím trôi liu riu/ Dòng sông nước chảy liu riu/ Anh thấy em nhỏ xíu, nhỏ xíu anh thương/ Ôi những đêm ngắm sông, nhớ em buồn muốn khóc/Mình anh ca điệu lý qua cầu…”.

Chân dung Nhà thơ Đỗ Bạch Mai

Còn một bông cuối dịu dàng tỏa hương

Có thể vì phải giấu vợ mối tình “đột xuất” này nên phần lớn thơ tình tặng nàng thơ Đồng Tháp, Bế Kiến Quốc gửi cho người bạn thân của mình là nhà thơ Trần Quốc Toàn ở TP. Hồ Chí Minh giữ hộ. Sau chuyến công tác đó, Bế Kiến Quốc trở ra Hà Nội và hai bên vẫn thư từ liên lạc với nhau.

Chợt một hôm, Đỗ Bạch Mai vô tình lục ngăn tủ của chồng mình tại Báo Văn nghệ (khi đó chị còn đang công tác ở báo này), chị phát hiện ra cả một đống thư từ của nàng thơ Đồng Tháp và thơ tình của Bế Kiến Quốc. Đỗ Bạch Mai lặng lẽ đến bàn làm việc của chồng mình và đặt lên đó cả tập thư nói trên. Bế Kiến Quốc lẳng lặng lau kính, cười tủm tỉm “chịu trận” và đốt thuốc liên tục.

Đêm hôm đó, Quốc xin lỗi vợ và “thành thực khai báo” mọi chuyện để Mai mở lòng tha thứ vì anh biết vợ mình là người giàu tình cảm và cũng giàu lòng vị tha. Đỗ Bạch Mai bỏ qua mọi chuyện và Bế Kiến Quốc cũng rời xa nàng thơ Đồng Tháp.

Cái bông hồng cuối cùng trong bài thơ này chính là bông hoa tình yêu vừa đi qua những rạn vỡ ban đầu trong đời sống vợ chồng của hai nhà thơ.

Đến năm 40 tuổi, Đỗ Bạch Mai mới làm thơ với sự chín chắn trong cảm xúc và sâu lắng trong tư duy ngôn từ và trong bài “Lý do của một bài thơ” chị đã viết: “Những thăng giáng của đời, âm nhạc không nói hết/Những cay đắng của đời, thơ ca không thốt lên/ Và bóng tối, những bức tranh không thể hiện/ Người nghệ sĩ chỉ hướng về cái đẹp” và “Người đàn bà diệu kỳ bằng trái tim minh triết/ Đã tạo ra tình yêu, lẽ phải, niềm vui/ Chị đã yêu từ một nghìn đêm trước? Hay chỉ yêu từ đêm nghìn lẻ hai”.

Với Đỗ Bạch Mai, đúng là tình yêu từ đêm nghìn lẻ hai với Bế Kiến Quốc đã đưa chị đến với thơ để hàn gắn những vết thương lòng. Cái người phụ nữ ấy trước đó đã từng thổn thức: “Tìm thơ như thể mò kim/ Thơ tìm chẳng được, em tìm thấy anh” và trong giây phút dỗi giận, hờn ghen chị đã trách thầm người mình yêu: “Anh buồn, em có vui đâu/ Ngọn cao chớm rét, rễ sâu lạnh rồi/ Mà sao những lúc anh vui/ Phấn thì gửi gió, hương thời gửi mây”.

Đọc thơ Đỗ Bạch Mai, tôi chợt thấy khi người phụ nữ đi tìm cái mơ mộng trong thi ca thì trái tim khôn ngoan lại mách bảo, dẫn họ đến với tình yêu đích thực để rồi “Người đàn bà dắt dẫn người đàn ông” đi xa dần sự lầm lạc trên thế gian.

Sau này, cả Bế Kiến Quốc và Đỗ Bạch Mai đều cho tôi biết, chính cơn ghen ấy là “cú hích” quyết định đưa Đỗ Bạch Mai đến với thi ca và tập thơ “Một lời yêu” của chị được NXB Văn học in năm 1992 và tập thơ “Năm bông hồng trắng” NXB Hội Nhà văn in năm 1996 đã đưa Đỗ Bạch Mai trở thành hội viên Hội Nhà văn vào năm 1997.

Cũng xin được “bật mí”, nàng thơ Đồng Tháp khá tài hoa từng gặp Bế Kiến Quốc năm xưa, năm 1998 cũng trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với nhiều giải thưởng thơ danh giá. Điều đặc biệt, mối quan hệ giữa hai nữ nhà thơ này cũng rất đồng cảm và thân thiện. Sau khi Bế Kiến Quốc qua đời năm 2002, họ đã từng gặp nhau và nữ nhà thơ Đồng Tháp cho biết, sẽ chuyển những bài thơ Bế Kiến Quốc viết tặng chị cho Đỗ Bạch Mai lưu giữ như một giá trị của tinh thần sáng tạo mà Bế Kiến Quốc đã để lại cho cuộc đời.

Nguyễn Việt

chúng tôi

1001 Ảnh Cô Gái Mùa Thu Đẹp Với Chút Buồn (Có Thơ Ngắn Hay)

(iini.net) Mời các bạn cùng ngắm bộ ảnh những cô gái Mùa Thu thật xinh đẹp với chút nét buồn man mác cùng với những vần thơ tình ngắn hay về Mùa Thu.

Em muốn gom …mùa thu và nỗi nhớ Thu giăng mành …hờn dỗi gió vấn vương Lá vàng rơi …công viên vắng mù sương Như ảo ảnh chúng tôi mờ trong tĩnh lặng.

Nhớ đến anh …nhớ ly cà phê đắng Cuối chiều tà …lãng đãng lá vàng rơi Thu sang rồi …mà sao thấy chơi vơi Nhành hoa tím …vấn vương nhìn trăng lỡ.

Thu lại về em ngập ngừng bước chân Gió dường như cũng tần ngần lặng lẽ Anh có nghe lời thì thầm khe khẽ Mình xa mấy mùa …có nhớ nhau không?!

ẢNH CÔ GÁI MÙA THU XINH ĐẸP

Thu sang rơi lá rụng nhiều Anh xa em cũng làm chiều buồn hơn Bao giờ em hết cô đơn Để thôi nhung nhớ nỗi hờn chân mây.

Anh có nghe thu về trên lối nhỏ Cuối con đường nơi những đám lá rơi Kỉ niệm buồn ùa lại tự xa xôi Làm em nhớ mùa thu chiều hôm đó…

Ngày xa anh cũng con đường lối nhỏ Nơi hàng cây trút đám lá cuối thu Gió cuốn theo những chiếc lá mịt mù Hình bóng anh mờ dần trong nước mắt.

Mùa thu vàng vẫn in hằn vết cắt Chẳng giống màu vàng chín của tình yêu Thu cứ đến cho nỗi nhớ thêm nhiều Chôn kỉ niệm là điều em không thể.

Mùa thu ơi sao khiến ta phiền muộn Ta làm gì mà buồn thế thu ơi Liệu rời xa nỗi nhớ đó có vơi Thu ơi ! Ta muốn quên đi tất cả.

ẢNH CÔ GÁI TRONG RỪNG THU

Trời đã vào thu rồi anh ạ Nắng bảy màu trong nỗi nhớ bâng quơ Anh có đợi em về phố cũ làm thơ Bàn chân bước theo bàn chân lặng lẽ…

Có lẽ tại mùa thu nên nhớ một người Từng giọt cà phê lăn đều trong tâm tưởng Về đi anh… Nhận gia tài mùa thu chuyển nhượng Là em và thương nhớ mênh mông…

Anh có nghe thu về trên phố Bóng chiều nghiêng nhớ dáng anh qua Thu bẽn lẽn thầm thì muốn nói Nhớ thật nhiều người ở phương xa…

Thật lòng ánh mắt ngả thu Nhớ nhau chẳng biết mấy mùa lá rơi Bây giờ mỗi đứa mỗi nơi Thu ơi sao để mình tôi lỡ làng…

Mùa thu đến bên thềm sao nhung nhớ Cơn mưa chiều như nức nở luyến thương Tiễn Hạ qua lòng dạ trót vấn vương Tương tư mãi những con đường kỉ niệm.

ẢNH TÂM TRẠNG BUỒN CỦA CÔ GÁI KHI THU VỀ

Thu đang về nghe sao dịu dàng quá Để lòng người mơ màng khao khát yêu Nàng thu ơi ta nhớ biết bao điều Như nhịp thở với rất nhiều cảm xúc.

Ngẩn ngơ ở cuối con đường Chiều hoang nhuộm sắc gợi tương tư tình Bến chờ người đợi chung trinh Chỉ còn xao xuyến một mình với thu.

Nơi này bình yên Thu về lá đỏ Nhắc một thời anh ngỏ vội lời thương Rồi hôn trộm lên đôi má thắm hường Em mắc cỡ mà nghe vương vấn lạ.

Gió lao xao bâng khuâng chiều thu tím Ánh trăng non huyễn hoặc muốn tìm về Buông vào hồn một nỗi nhớ đam mê Mùa thu cũ trầm mê vòng kí ức.

Ta giấu mình giữa vòng xoay muôn thủa Giấu tiếng thở dài vào nỗi nhớ thu xưa Tay vụng về nhặt chiếc lá đầu mùa Chợt đánh rơi chút hương nồng tê tái.

Lá vàng theo gió khẽ bay Hương thu trong trẻo ngất ngây tâm hồn Chiều rơi nghiêng ánh hoàng hôn Anh về nơi ấy có buồn không anh?

THƠ NGẮN HAY HỌA ẢNH CÔ GÁI MÙA THU

Bức tranh thu đẹp đến say mê Trời trong xanh như màu xanh ngọc bích Mây nhởn nhơ trên tầng không bát ngát Gió rì rào ngân khúc nhạc đồng quê.

Thu về rồi, em càng nhớ anh hơn Nỗi nhớ mênh mông như trời thu vời vợi Ở nơi phương xa, anh ơi có thấy Phút giây này em đang nhớ về anh!

Liệu anh có còn nhớ tới em không? Bởi thu về chẳng nắng hồng…phượng đỏ Chắc tại tình anh cuốn theo chiều gió Nên chiếc ghế ngồi…chỉ có mình em.

Nếu không cùng nhau trên chặng đường dài Thì trả lại em tháng ngày nhung nhớ Bao mùa vàng…loài cúc kia đã nở Để thu về…lại bỡ ngỡ như xưa!

Anh đã về chốn cũ đó hay chưa? Chiếc ghế đá….ven hồ mình hay tới Mùa thu xưa…gợi nỗi buồn vời vợi Liệu thu này…có phải đợi không anh?

(còn cập nhật…)

Tuyển Chọn 100+ Bài Thơ Hay Về Tình Bạn Tri Kỷ Ngắn Gọn Mà Chân Thành

[Tập] Thơ hay về tình bạn thân thiết vô cùng ý nghĩa Những bài thơ hay về tình bạn tri kỉ lắng đọng nhất

Những bài thơ hay về tình bạn tri kỉ lắng đọng là tiếng lòng viết cho bạn, viết cho tri kỉ của ta. Một người bạn tri kỉ sẽ luôn bên ta, cùng ta chia sẻ những buồn vui, trong cuộc sống này và sẽ không bao giờ phản bội ta.

Tuyển tập thơ hay về tình bạn chế hài hước

Thơ hay về tình bạn chế 4

Còn gặp nhau thì hãy cứ say

Say tình say nghĩa bấy lau nay

Say thơ say nhạc say bè bạn

Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Thơ hay về tình bạn chế 5

Ta đem trái đất ngâm thành rượu

Ta lấy càn khôn nướng thành mồi

Ước chi ta gặp người tri kỷ

Đem rượu mồi ra túy lúy say.

Thơ hay về tình bạn chế 6

Còn chút gì để mà nhớ mà thương

Đừng gợi lại những nỗi lòng đau khổ

Đường gợi lại những buồn đau tủi hổ

Kỉ niệm xưa xin giữ mãi trong lòng.

Thơ hay về tình bạn chế 7

Tình bạn là mối tình trong trắng

Sáng như sao và đẹp như hoa

Như rừng xanh ko bao giờ hết lá

Như biển xanh luôn cuồn cuộn sóng vào bờ.

Những bài thơ hay về tình bạn khác giới chuẩn không cần chỉnh

Trong cuộc sống luôn tồn tại những tình bạn đẹp, đặc biệt là tình bạn khác giới. Những người bạn luôn mang lại những điều tốt đẹp nhất, mang lại cả một kỉ ức tuyệt đẹp. Nếu như bạn đang có một tình bạn khác giới thì hãy dành cho bạn của mình bài thơ hay về tình bạn khác giới để thể hiện sự trân trọng tình bạn của mình thôi nào!

1, Chút Tình Đầu

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Em chở mùa hè của tôi đi đâu ?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì ?

Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp

Lá áo người trắng cả giấc ngủ mê

Lá bài thơ cứ còn hoài trong cặp

Giữa giờ chơi mang đến lại…. mang về.

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp

Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây

Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại

Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…

Mối tình đầu của tôi có gì ?

Chỉ một cây đàn nhỏ

Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm

Ai cũng cũng hiểu – chỉ một người không hiểu

Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi… thành câm.

Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng

Em hái mùa hè trên cây

Chở kỷ niệm về nhà

Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại

Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

2, Bạn Ơi

Nếu ngày mai khi cổng trường khép lại

Bóng bạn hiền yêu dấu vút ngân nga

Trên đường đời đầy rẫy những phong ba

Kỉ niệm cũ còn đây là nét chữ

Nếu ngày mai tôi đã là cát bụi

Thì gió ơi xin đừng cuốn tôi đi

Để tôi mãi phơi mình trên sa mạc

Và vô tình chứng kiến cảnh biệt ly

Dù khóc hay cười cũng vậy thôi

Quả đất tròn xoay còn gặp lại

Hẹn ngày tình bạn mãi không phai

3, Mắc Nợ

Tôi còn nợ bạn hai cân mận

Định cuối xuân này sẽ trả xong

Ngờ đâu hôm ấy mình tới lớp

Bạn ốm ở nhà có tiếc không

Nhà bạn ở bên kia sông Đuống

Tôi ở bên này cách quá xa

Ngờ đâu cái tên lớp trưởng

Hát những gì mỗi lúc đi qua

Ngày tháng lần lượt rủ nhau đi

Chồi non lộc biếc lá xanh rì

Định đến cuối xuân mình trả nợ

Lại sợ người ta… tưởng tượng gì!

(Thạch Hoàng Việt)

4, Chỉ Là Bạn Thôi

Mình với cậu chỉ là bạn thôi

Không thể hơn, suốt đời chỉ vậy !

Dù vằng cậu, mình có buồn thật đấy

Nhưng buồn, đâu phải đã cô đơn.

Mình với cậu chưa có phút giận hờn

Nhớ về cậu chưa bao giờ mình khóc

Gặp nhau ở cầu thang chỉ cười bằng mắt

Chỉ cười hoài… vì là bạn, không hơn.

Cậu ở bên mình luôn thấy rất vui

Nhưng không bực khi cậu đi cùng người khác

Và hồng trắng là hoa mình yêu nhất

Cậu biết rồi sao lại tặng hồng nhung?

(Khuyết danh)

5, Lớn Lên Cùng Tuổi Thơ

Tôi lớn lên cùng tuổi thơ của tôi

Cùng những con đường đạp xe không mệt mỏi

Những buổi chiều “dịu dàng không chịu nổi”

Những cái tên như khắc chạm trong đầu

Cứ ngỡ rằng mình đã lớn từ lâu

Sao càng lớn càng mơ về thơ ấu?

Lấy ngây thơ trèo me, nhặt sấu

Làm thước đo cho những quãng đời

Tôi như người của năm tháng xa vời

Nhặt nhạnh những cũ xưa gom góp về thực tại

Tập làm người với những điều khôn dại

Tập nhìn đời nhân hậu như trẻ thơ

Cô bé con hai bím tóc ngày xưa

Luôn nhìn tôi (thật buồn cười!) nghiêm nghị

Tôi có quên, có quên gì không nhỉ:

Ngôi nhà thân yêu nuôi lớn những ước mơ

Câu chuyện kể đêm mưa với kết thúc bất ngờ

Những trò chơi triền miên bên đống cát

Đêm lửa trại người đàn, người hát

Ngày ra trường nước mắt đẫm vai nhau…

Tôi bước đi về nơi đâu, nơi đâu

Cũng thấy mình bé hơn cô bé có hai bím tóc

Nhớ về tuổi thơ mình và khóc

Và lớn lên…

(Thụy Anh)

6, Vần Thơ Tình Bạn

Tình bạn là những vần thơ

Tối về đắp gối ngâm quơ vài lời

Tình bạn áo trắng một thời

Bây giờ áo bạc phai rồi vẫn treo

Tình bạn hạt giống mang theo

Suốt đời tri kỉ ai gieo ai trồng!?

(Khuyết danh)

7, Chiếc Lá Đầu Tiên

Em thấy không, tất cả đã xa rồi

Trong tiếng thở của thời gian rất khẽ

Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế

Hoa súng tím vào trong mắt lắm mê say

Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay

Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước

Con ve tiên tri vô tâm báo trước

Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu

Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu

Lời hát đầu xin hát về trường cũ

Một lớp học buâng khuâng màu xanh rủ

Sân trường đêm – rụng xuống trái bàng đêm

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em

Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ

Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế

Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi

“Có một nàng Bạch Tuyết các bạn ơi

Với lại bảy chú lùn rất quấy!”

Mười chú chứ, nhìn xem, trong lớp ấy

(Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao)

Những chuyện năm nao, những chuyện năm nào

Cứ xúc động, cứ xôn xao biết mấy

Mùa hoa mơ rồi đến mùa hoa phượng cháy

Trên trán thầy, tóc chớ bạc thêm

Thôi đã hết thời bím tóc trắng ngủ quên

Hết thời cầm dao khắc lăng nhăng lên bàn ghế cũ

Quả đã ngọt trên mấy cành đu đủ

Hoa đã vàng, hoa mướp của ta ơi

Em đã yêu anh, anh đã xa rồi

Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi

Anh nhớ quá, mà chỉ lo ngoảnh lại

Không thấy trên sân trường chiếc lá buổi đầu tiên.

(Hoàng Nhuận Cầm)

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhà Tuyển Chọn Thơ Trần Đình Thu: Thơ Dở Mà Xếp Với Thơ Hay Là Có Tội Với Bạn Yêu Thơ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!