Xu Hướng 12/2022 # Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên / 2023 # Top 15 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ông vốn là gốc người Hà Nội, các cụ sinh ra ông lại về Hải Phòng lập nghiệp, từ những năm 1948 của thế kỷ trước, ông tốt nghiệp khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội 1965. Giảng dạy văn học nhiều năm là giáo viên giỏi. Sau đó về nhà xuất bản Hải Phòng kiêm phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng. Ông đã xuất bản 5 tập thơ “Hoa nắng” 1981. “Lời ru con của người yêu cũ” 1991 “Trầm tư” 1995, “Mảnh vỡ” 2001, “Đêm trở giấc” 2018. Hai trường ca “Đi dọc thời mình” 1986 và “Độc thoại mưa” 2010 và một tập lý luận phê bình có tựa đề “Một miền văn chương” 2008.

Phạm Ngà, ông là con người lịch lãm, chu đáo, cẩn trọng, nhường nhịn, chừng mực, trọng danh dự. Giữ gìn nhân cách của một nhà thơ. Chả thế mà khi ông làm giám đốc – tổng biên tập nhà xuất bản Hải Phòng. Chỉ vì cuốn sách “Làm người là khó” của ông Đoàn Duy Thành (cuốn sách của ông Thành để lưu hành nội bộ). Thế mà ông phải về hưu. Mọi người nể trọng ông. Vì ông bàn giao chức Giám đốc ngay tắp lự, không chần chừ đợi đủ thời gian mới rời gót ra đi. Có người bảo ông khôn, có người bảo ông dại. Có người khuyên nên gặp bề trên trình bày. Bởi cái lỗi ấy không phải ở nơi ông (vì có những đoạn, những chương Nhà xuất bản đã cắt sửa. Nhưng sách vẫn in. Có lẽ là bởi ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách do đề nghị của tác giả. Ông ra về thanh thản. Cái dáng bề ngoài mảnh khảnh, chỉn chu, nhỏ nhẹ chỉ là dấu đi ngọn lửa trong ông. Những bài thơ được in vào tập thơ của những năm đầu đổi mới làm bạn đọc không khỏi giật mình. Thường là thơ ngày ấy người ta thi nhau ca ngợi chiến công, ca ngợi người tốt việc tốt. Một đề tài nhậy cảm thường hay né tránh. Vậy mà ông dám viết về hậu chiến tranh, nỗi đau tai ương trong bài “Hai tiếng khóc””

“Chị chờ anh suốt 14 năm ròng

14 mùa xuân héo nụ cười thiếu nữ

Đột nhiên anh trở về.

Người lính chiến trường bom đạn từng trải

Bỗng giật mình trước tiếng trẻ sơ sinh”

(Hai tiếng khóc)

Ngày ấy người ta tung hô phụ nữ 3 đảm đang, thanh niên 3 sẵn sàng. Vậy mà 14 năm người lính trở về, người lính dạn dầy bom đạn bàng hoàng trước tiếng khóc sơ sinh trong vòng tay người yêu cũ. Ông trăn trở dày vò tiếc cho tuổi trẻ cả tin, thơ ngây, mơ mộng, hồn nhiên trong sáng. Bài thơ đâu chỉ nói cho riêng ông.

… “Cả tuổi trẻ, ngày xưa thôi cũng chẳng cần

Những hăng hái lỗi thời, mộng mơ phù phiếm

Cuộc mưu sinh đâu chỉ bằng kỷ niệm

Ảo ảnh vật vờ, hành khất chẳng ai xin

Dần vơi đi bao tâm trạng nỗi niềm

Hết kỷ niệm, tôi sẽ thành trống rỗng

Chẳng trăn trở, chẳng buồn đau vui sướng

Cuộc đời chỉ còn chiếc bóng vu vơ”

Từ những năm 1989 bài thơ này mà in được, kể ra cũng may cho ông. Nhà ông có phúc lớn.

Nhớ lại năm 1998 ông là Giám đốc và là Tổng biên tập, cho xuất bản cuốn “Về một hiện tượng phê bình” gồm các bài tranh luận trao đổi đã in trên khắp các báo lớn của các giáo sư với Trần Mạnh Hảo. Suýt nữa ông gặp nạn. Sau cuộc họp và giải trình của ông ở Trung ương.

Cuộc họp kết luận thu hồi cuốn sách. Trong đó cũng có những ý kiến công tâm đúng mực như ông Trần Hoàn, ông Tô Ngọc Thanh, nhà thơ Hữu Thỉnh… đề nghị không làm xáo trộn công việc và tổ chức của nhà xuất bản Hải Phòng. Ngày ấy đã có công văn của ông đồng nghiệp với ông Ngà nhưng ở cương vị cầm đầu tư tưởng là phải kỷ luật thật nghiêm Giám đốc – Tổng biên tập. Ấy vậy mà cuối năm ấy kỷ niệm 15 năm thành lập NXB và đón Huân chương lao động, ông kia về dự bắt tay ông Ngà, phát biểu chúc mừng tự nhiên như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Ông ấy rất thân với nhà thơ ĐĐB và về dự lễ tang ông bạn của ông tận một làng quê hẻo lánh ở Hải Phòng.

Vì vậy chương 2 với tựa đề “Hai nửa sáng tối” trong trường ca “Độc thoại mưa” ông đã viết ở trang 25:

… “Lắm cái bất ngờ, sao cứ đành chấp nhận

Bất ngờ nhận ra người quen là kẻ xấu

Bất ngờ chân tướng kẻ vẫn hằng tôn vinh

Bất ngờ tình yêu không còn như cổ tích

Bất ngờ lối xưa cũng khác lạ khi nào”

(Độc thoại mưa)

Và ông phẫn nộ:

“Niềm hoan lạc chính chuyên cứ như thể phụ tình

Lời rao giảng có khi thành hàng nhái

Ướp lạnh tư duy đóng gói cả ngôn từ

Nhìn người đẹp nghi ngờ bước ra từ mỹ viện

Mỹ viện dung nhan, mỹ viện nhân cách

Gặp người bạn xưa cứ như là dị bản

Đánh bóng hư danh bằng cấp trá hình”

(Trang 28 chương 2)

Ông tỉnh táo nhìn bằng con mắt căm giận, tự thú và nuối tiếc tuổi trẻ cả tin khờ dại, đâu chỉ riêng ông:

“Ta thà thành thân với một cô gái điếm

Hơn phải sống chung kẻ sách nhiễu tôi đòi”

(Chương 3 Cõi thực và hư vô, trang 62)

“Cội nguồn” là chương cuối cùng trường ca của ông. Ông đã ngộ ra và tổng kết một đời khờ dại, cả tin:

… “Ngày nào ta chỉ quen dõi nhìn những hào quang lấp lánh, thì nay ta biết thêm mặt khuất phía cao xa.

Ta cứ ngờ nơi chín tầng mây chỉ có không khí trong lành và ánh sáng; thì nay ta biết thêm sự vấy bẩn khí quyển đe dọa cả nhân gian”.

Phạm Ngà, cái mảnh khảnh bên ngoài để dấu đi cái sục sôi và lửa cháy bên trong. Thơ ông chắt lọc, ngôn ngữ kỹ lưỡng, cẩn trọng như chính phong cách sống của ông. Tôi trân trọng ông.

NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH KIÊN

Nói đến Nguyễn Đình Kiên, lại chợt nhớ đến bài thơ “Lời mẹ dặn” của cố thi sỹ Phùng Quán. Xin trích đoạn kết:

“Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Tôi chỉ muốn là nhà văn chân thật

Chân thành trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao

Viết văn lên đá.”

Kiên là người hiền lành, tử tế, yêu ghét sòng phẳng, đen trắng rõ ràng. Cuộc đời của Kiên đã được nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh viết kỹ càng trong tập phê bình và chân dung văn học “Sống giữa đời thường” NXB Hải Phòng 2017. Ở Kiên đâu chỉ có thơ tình, trữ tình và có cả thơ chính luận.

Đời Kiên cũng buồn nhiều hơn vui, rời cây súng trở về làm thợ tiện, phụ lái xe, rồi về một cục, số tiền hưu non ấy như lá vàng vèo bay qua ô cửa. Không lương hưu khác nào xe đạp không chân chống. Hai lần tai biến, rồi vợ chồng chia tay. May 2 đứa con ở Mỹ tháng tháng gửi tiền về nuôi bố. Kiên tồn tại đến hôm nay, nhưng thơ không làm được nữa. Nhưng những bài thơ anh sáng tác trước kia thì thuộc lòng và bây giờ vẫn đọc lại vanh vách. Ngoài tập thơ in chung vào năm 1995 (tôi không nhớ), Kiên đã xuất bản được 3 tập thơ: “Vầng trăng của mẹ” in năm 2004; “Quả vỡ” 2007; “Những trang thơ còn sót lại” 2015. Đặc biệt ở Kiên với Kiên coi thơ là cõi thiêng. Ai mà có ý xúc phạm đến thơ là Kiên tỏ thái độ ngay. Bởi vậy trong bài “Nghĩ về thơ” mở đầu Kiên đã viết:

“Khi nhìn đời bằng cảm xúc mỗi trang thơ

Niềm vui lớn và nỗi đau cũng thế

Đời trung thực nặng lòng như sóng bể

Câu thơ ơi! Đừng theo gió ngả nghiêng lòng”

và thấu tỏ tận đáy tâm hồn. Kiên nhìn ra:

“Hạnh phúc bên ngoài, đau khổ phía bên trong

Thơ nằm giữa để chia phần quả ngọt”

Đời đã dậy Kiên nhìn ra loài ăn bám, bất tài mà leo cao và Kiên ví von:

“Cây tầm gửi bò lên cao chót vót”

Còn sự chân thật thì thật đắng cay:

“Đời âm thầm chẳng biết nói năng chi”

Kiên nhận định và khái quát:

“Thơ là nỗi khổ đau và hạnh phúc của con người

Là cái ở vô cùng giữa bao điều quen thuộc”

Thơ là thánh địa, là ngôi đền linh thiêng thật sự. Không thể mang thơ làm đồ trang sức, thơ là máu thịt với Kiên:

… “Lật trang thơ soi khuôn mặt cuộc đời

Ta soi cả tâm hồn mình vào đó

Máu người đổ trên trang thơ viết dở

Ta mang nợ cuộc đời, đời nợ mỗi câu thơ”

Bài thơ này Kiên viết từ năm 1980 của thế kỷ trước.

Với lòng trắc ẩn và giằng xé trong tâm hồn. Kiên còn có một trái tim thơ ngây trong trẻo, trong trẻo đến sững sờ. Làm thơ về người lớn đã khó. Kiên còn hóa thân thành chú bé nhi đồng ngộ nghĩnh, tươi trẻ đến không ngờ. Đó là thơ trẻ con. Có thể nói thần đồng của tuổi 60, tập thơ “Vầng trăng của bé” 2004 với 46 bài (những bài Kiên viết khi chưa bị tai biến. Tập hợp lại mà in thành sách đã bị thất lạc nhiều). Tôi nghĩ thơ viết cho thiếu nhi đã khó, còn thơ viết cho tuổi mẫu giáo nhi đồng càng khó hơn. Cả Hải Phòng này duy nhất có Kiên. Kiên là số một. Không ai vượt qua Kiên cho đến hôm nay. Hãy đọc một vài bài trong tập “Vầng trăng của mẹ” để minh chứng cho điều tôi đã nói:

46 bài thơ đều mang đậm chất nhân văn, tính giáo dục cao, ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc.

Kiên là như thế đấy! Người bạn thân thiết của tôi. Một tín đồ trung thành với thơ ca.

Bài Thơ Đôi Dép (Nguyễn Trung Kiên) / 2023

Nội Dung

Theo thông tin do tác giả cung cấp, bài thơ này được sáng tac vào năm 1995 khi đó lần đầu tiên được đăng trên tạp chí Thế giới mới vào năm 1997. Tại thời điểm viết bài thơ này tác giả chỉ mới 22 tuổi và chưa có người yêu, khi đó anh cũng đang mơ tưởng về một tình yêu thủy chung, son sắt. Anh đã tìm được cảm hứng cho mình tại cuộc tranh luận về đôi dép trong câu lạc bộ thơ. Và cuối cùng đã sáng tác ra bài thơ này.

Mặc dù đây là một bài thơ hiện đại nhưng nó vẫn đảm bảo việc tuân thủ cách gieo vần truyền thống nghiêm ngặt. Và cảm xúc chủ đạo trong bài thơ chính là sự nhớ nhung, sự cuồng nhiệt khi yêu.. Và đó chính là hạnh phúc. Cụ thể hơn bài thơ này bàn sâu về triết lý thủy chung trong mối quan hệ giữa vợ và chồng.

Bài thơ Đôi dép được đông đảo bạn đọc yêu thích và nó còn được in và treo ở vị trí trang trọng. Và cũng có người so sánh bài thơ này với những áng thơ văn kiệt xuất như Quê hương của Giang Nam, Màu tím hoa sim của Hữu Loan… Sở dĩ có điều này bởi Nguyễn Trung Kiên đã khéo léo sử dụng hình ảnh giản dị mà thân thương để nói đến sự thủy chung của cuộc sống vợ chồng.

Trước đây chưa từng có ai sử dụng hình ảnh đôi dép để nói đến sự thủy chung trong cuộc sống vợ chồng. Chính điều này làm nên sự đặc biệt cho bài thơ Đôi dép. Đó là một vật quen thuộc, bình thường lại được nhìn ở một khía cạnh khác mới đáng yêu làm sao. Hơn nữa, đôi dép rất phù hợp để chuyển tải tình cảm bởi nó gắn bó bên nhau và không rời dù trong bất cứ trường hợp nào.

Đôi dép là một vật vô tri mà còn gắn bó với nhau đến vậy nên cũng không có lý do gì mà cuộc sống vợ chồng lại không thể thủy chung bên nhau. Gắn bó bên nhau chia sẻ mọi buồn đau hạnh phúc và cũng là sống chết có nhau đó mới là lẽ phải.

Và nếu một ngày nào đó một chiếc dép bị hư, đứt và buộc phải thay thì cũng là lúc con người ta bị “lệch pha” trong lòng. Bởi đó sẽ là một khoảng trống không cách nào lấp đầy được, đó cũng chính là lý do con người ta cảm nhận sự khập khiễng và đau lòng, trống trải trong trái tim mình.

Ở đoạn thơ này tác giả đã sử dụng cụm từ “khập khiễng”, “hụt hẫng”, “chênh vênh”…. Để thể hiện cảm xúc của chính bản thân mình nếu chẳng may một trong hai người phải rời xa người kia trước. Với động từ “nghiêng” ta có thể cảm nhận rõ ràng được điều đó. Đó chính là sự thiếu cân bằng của cơ thể, là tình cảm của một người cứ nghiêng về phía người kia mà không cách nào cân bằng được. Và có thể nói rằng không có ai có thể bù đắp được sự thiếu vắng này cả. Và đó cũng chính là sự gắn kết trong tình cảm vợ chồng.

Và “vợ chồng không thể sống thiếu nhau” như một lời “tuyên ngôn”, lời nhắc nhở. Là một lời cảnh tỉnh sâu sắc. Bởi nếu khi vợ chồng mà chỉ còn một thì cũng không là gì cả. Đó cũng chính là chân lý của cuộc sống này. Đó chính là triết lý sâu sắc được gợi lên từ hình tượng đôi dép rất thân quen.

Bài Thơ Nhớ Của Nguyễn Đình Thi / 2023

Nhà văn Nguyễn Đình Thi

BÀI THƠ NHỚ VÀ SỰ CÁCH TÂN TRONG THƠ TÌNH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

Nguyễn Đình Thi là người đã khởi xướng cách tân thơ bằng việc làm thơ không vần, gây một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới văn nghệ sĩ ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp. Không chỉ nói lí thuyết, nhà thơ còn thể nghiệm bằng những bài thơ của chính mình. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bàn đến sự cách tân thơ tình trong một bài thơ cụ thể. Bài Nhớ của Nguyễn Đình Thi được công bố năm 1954. a) Từ nỗi nhớ hẹp trong ca dao đến nỗi nhớ rộng của người chiến sĩ Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây Rõ ràng, về cách nhìn sự vật qua tâm trạng nhớ, bằng con mắt nhớ, khổ thơ gợi cho ta liên tưởng ngay đến cách nói của ca dao: Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt Nhưng tác giả bài Nhớ không hề lặp lại ca dao. Tiếp thu cách nói ấy, người viết đã đổi mới nó, nâng lên tầm vóc mới, tương xứng với tầm hoạt động của người chiến sĩ của cách mạng và kháng chiến. Ngôi sao và ngọn lửa không chỉ được nhìn bằng tâm trạng nhớ, là cái cớ để bộc lộ nỗi nhớ. Sao và lửa mang nỗi nhớ CHÁY SÁNG để tham gia vào cuộc chiến đấu này, để “soi đường”, để “sưởi ấm” cho người chiến sĩ chứ không phải chỉ là người thuần túy tương tư. Như vậy là người yêu, người nhớ và người chiến sĩ gắn bó hài hòa. Người chiến sĩ đem đến cho người đang yêu trong mình, tạo cho anh một tư thế, một tầm vóc lớn, gắn với không gian rộng dài hơn không gian của tình yêu bình thường. Trong các bài ca dao tình yêu, không gian nhớ thường bó hẹp trong phạm vi căn nhà. Thời ấy nhớ ai thì “ra ngẩn vào ngơ” hoặc là ra ngõ mà trông, ra đứng ngõ sau, ra đứng bờ ao…Cuộc cách mạng đem đến cho người chiến sĩ một tầm hoạt động rộng lớn : trên đèo mây, giữa ngàn cây. Và nỗi nhớ của anh do đó cũng rộng hơn, lớn hơn, có kích thước vũ trụ hơn. Nỗi nhớ ấy có thể cháy bỏng, gần gũi như ngọn lửa, nhưng cũng có thể lấp lánh, xa vời như ngôi sao. b) Từ ngôi sao và ngọn lửa riêng lẻ đến ngôi sao và ngọn lửa cùng chung tượng trưng cho sức mạnh tình yêu Trước đây, trong ca dao, nỗi nhớ đã từng được ví với lửa: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than Trong ca dao, nhớ đã từng được vọng tới sao : Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ Ở bài NHỚ này, hình ảnh ngôi sao và ngọn lửa lần đầu tiên cùng được nhắc trong một bài, để diễn tả một tâm trạng. Sao và Lửa không chỉ là khách thể, là một cái cớ để bộc lộ nội tâm, mà chính Sao và Lửa tham gia vào đời sống nội tâm, dẫn lối soi đường ( soi sáng đường), sưởi ấm (sưởi ấm lòng) người chiến sĩ. Vậy là lần đầu tiên, tình yêu riêng tư có chức năng dẫn đường, sức mạnh của tình yêu riêng tư được thừa nhận như sức mạnh của giác ngộ lí tưởng. Nó không chỉ sưởi ấm, mà còn soi đường, vừa là con đường cụ thể cũng là con đường chiến đấu, con đường đi tới lí tưởng. c) Đất nước lần đầu được ví với người yêu say đắm Trong khổ thơ thứ nhất đang xét ở trên, diễn tả nỗi nhớ nên đại từ nhân xưng đều có tính phiếm chỉ: ai và người chiến sĩ. Nhưng nỗi nhớ đó là nỗi nhớ của trai gái yêu nhau chứ không phải nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ ông bà, cha mẹ, nhớ bạn phương trời hay nỗi nhớ vợ con. Đã là nỗi nhớ của tình yêu gái trai thì phải được nói bằng ngôn ngữ của tình yêu. Cho nên đến khổ thơ thứ hai người chiến sĩ và ai được gọi bằng cách xưng hô muôn thuở của tình yêu – Anh và Em: Anh yêu em như anh yêu đất nước Có lẽ chưa bao giờ có một tuyên bố táo bạo và mạnh mẽ như trong câu thơ tưởng chừng rất đỗi hiền lành này. Người yêu- Em được trang trọng đặt ngang hàng với đất nước, được ví với đất nước. Tình yêu riêng ( thường được coi là nhỏ bé) đặt ngang hàng với lí tưởng chung. Trong khi các thi sĩ của Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới thường ví đất nước như người mẹ ( Mẹ-tổ quốc; Đất nước-mẹ hiền) có được mấy ai ví đất nước như người yêu? Nói ra điều ấy ở một xứ sở mà người ta mang nặng tinh thần phong kiến, coi chuyện “yêu đương” là chuyện nhỏ, cần phải quên đi, phải dẹp đi ( hoặc giả nếu có được thừa nhận thì trong trái tim, nó cũng chỉ đáng được nhận một phần bé nhỏ, khiêm tốn nhất so với phần dành cho lí tưởng); nói ra điều ấy vào những năm mà tuyển tập thơ Việt Nam không có một bài thơ tình nào thì quả là một cách tân lớn trong nhận thức. Hơn thế nữa, nói ra điều ấy mà không làm cho ai thấy bất bình thường thì thật là một cách tân ngoạn mục. Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần Có người đã bình rất hay về câu thơ này, đã chỉ ra sự vô ngần vất vả, vô ngần thương đau, vô ngần tươi thắm của em, và cũng là những em, những người phụ nữ Việt Nam. Sở dĩ người ta không thấy bất bình thường chính là vì người chiến sĩ không chỉ yêu em, mà còn yêu đất nước. Anh có hai người yêu : EM và ĐẤT NƯỚC. Em vất vả đau thương tươi thắm vô ngần. Đất nước cũng vất vả đau thương tươi thắm vô ngần. Em gắn chặt với Đất nước, em hòa trong Đất nước. Anh yêu Em là anh yêu Đất nước, anh nhớ Em cũng là anh nhớ Đất nước, nhớ đến nhiệm vụ giải phóng Đất nước. Những câu thơ bộc lộ hết sức đẹp đẽ sự hài hòa, thống nhất, gắn bó giữa tình yêu và lí tưởng, giữa tình riêng và tình chung, thống nhất đến mức khó mà tách bạch ra được. Vì thế, khi nhớ riêng về em thôi thì tình cảm ấy cũng không hoàn toàn mang tính chất riêng tư vì đó là nỗi nhớ trên đường làm nhiệm vụ với đất nước: Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn Có ba chữ “mỗi” nhưng đã chỉ toàn bộ thời gian 24 trên 24 giờ trong một ngày của một con người. Hành quân, dừng chân, lại hành quân- đó là toàn bộ hoạt động của người chiến sĩ. Chữ “mỗi” như là thừa số chung của vô tận những bước đường, những tối nằm và những bữa ăn. Tất cả những hoạt động đó đều gắn liền với một nỗi nhớ da diết. Bởi vậy mà có thể nói rằng nỗi “nhớ” đã được nhân với vô tận những hoạt động của người chiến sĩ, nói theo ngôn ngữ toán thì “nhớ” được nâng lũy thừa không phải với số mũ “3” ( ba lần chữ “mỗi”), mà là số mũ “n”. d) Cách xưng hô “Chúng ta” đầy kiêu hãnh Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người Ngọn lửa và Ngôi sao trong khổ thơ thứ nhất được nhắc lại ở đây với mục đích nhắc lại sự vững bền, trường cửu, nồng nàn của tình yêu ( Không bao giờ tắt, bập bùng đỏ rực). “Ai” với “chiến sĩ”, “em” với “anh” đồng nhất vào trong một cách xưng hô mới đầy kiêu hãnh : “Chúng ta”! Lại một cách xưng hô rất lạ, rất mới mẻ. Thống kê toàn bộ thơ tình của Xuân Diệu trong Tuyển tập Xuân Diệu tập một ( Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1983), chúng tôi thấy thi sĩ chỉ có hai lần xưng “chúng tôi” ở hai bài: Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ Trăng Chúng tôi ngồi vây phủ vởi trăng thâu Biệt li êm ái Chưa một lần thi sĩ viết “chúng ta”. Ngay tác giả Nguyễn Đình Thi trong ba tập thơ: Người chiến sĩ, Dòng sông trong xanh, Tia nắng cũng chỉ viết “chúng ta” cả thảy 4 lần, chưa một lần nào viết “chúng mình”. Phải chăng, khi viết về tình yêu nam nữ đơn thuần, người ta dễ dàng xưng hô “chúng mình”. Còn trong bài thơ Nhớ này, Em và Đất nước hòa quyện trong nhau, tình yêu trai gái khăng khít với tình yêu đất nước; mặt khác, bài thơ như một lời tuyên ngôn về tình yêu và lí tưởng của người chiến sĩ, vì thế phải vang lên kiêu hãnh hai tiếng “Chúng ta”? Chúng ta gồm chúng tôi và mọi người đứng về phía chúng tôi. Có thể là một suy diễn chăng, nhưng nếu nếu thay “Chúng ta” bằng “chúng tôi” hoặc “chúng mình” thì chắc chắn vẻ đẹp của bài thơ không còn như cũ được nữa. Như vậy, trong một bài thơ tình, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện bốn điểm cách tân như đã phân tích. Thời đại đã đem đến cho người chiến sĩ, nhà thơ một tầm vóc mới, một cách nhìn mới đối với thơ nói chung và thơ tình nói riêng. Diễn đạt tình yêu do đó cũng đòi hỏi một sự đổi mới, cách tân tương xứng. Bài thơ Nhớ của Nguyễn Đình Thi được yêu mến bởi rất nhiều lí do, nhưng theo chúng tôi, sự cách tân thành công của nhà thơ là một lí do quan trọng cần được ghi nhận.

Bài đăng trên tạp chí NHÀ VĂN số tháng 9/2010

Bài Thơ ” Đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi / 2023

Nguyễn Đình Thi

Đất nước Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa đất trời Gió thổi rừng tre phất phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Rừng xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn như nhớ mắt người yêu Từ những năm đau thương chiến đấu Đã ngời lên nét mặt quê hương Từ gốc mía bờ tre hồn hậu Đã bật lên những tiếng căm hờn Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta Thằng giặc tây thằng chúa đất Đứa đè cổ đứa lột da Xiềng xích chúng bay không khoá được Trời đầy chìm và đất đầy hoa Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước thương nhà Khói nhà máy cuộn trong sương núi Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh Súng nổ tung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam như máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà. Bài tham khảo                                     Tiếng thơ hào sảng về đất nước Khởi đầu bài thơ là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội : Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Đó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội : không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới. Câu thơ gợi tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian và quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm. Hương cốm mới là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội. Dường như đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội. Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội : “Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ. (Hà Nội băm sáu phố phường ) Sau này, hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn ( Nhớ mùa thu Hà Nội ) cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành : “Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu / … Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua… Nguyễn Đình Thi đã đưa vào thơ những gì đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội. Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội thấm thía xao xác khi ở xa trông về. Nguyễn Đình Thi kể, hồi nhỏ đi học trung học, ông thường lên vùng Hồ Tây ngồi ngắm bầu trời và những áng may bay. Cảm hứng về bầu trời thu, về những làn gió mát, về hương vị cốm xanh và những dòng sôn, ruộng đồng ở đoạn sau của nhà thơ “cũng chính là cảm hứng về đất nước” ( Nguyến Đình Thi – Bài thơ Đất nước ) Dòng thơ thứ ba là một sự chuyển mạch. Thực ra, ở hai câu thơ đầu đã có hình ảnh mùa thu xưa rồi, nhưng đến đây có lẽ không kiềm được dòng hồi tưởng nên lời thơ như buột phát ra : “Tôi còn nhớ những ngày thu đã xa” Ở đây, còn có một lý do nữa : Trong bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa, vốn là vị trí của câu thơ có hình ảnh đẹp : “Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Câu thơ mang dáng dấp suy nghĩ tình cảm và tình cảm của một trí thức Hà Nội. Thời ấy, có thể không hợp với suy nghĩ của nhiều người trong hoàn cảnh kháng chiến nên Nguyến Đình Thi đã thay đi. Song, dù sao thì sự chuyển mạch ấy cũng hợp lý, kết nối được hình ảnh toàn bài thơ. Bốn câu thơ kế tiếp miêu tả về mùa thu Hà Nội xưa : Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài ). Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng. Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động. Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyến Đình Thi vì thế mang vẻ đẹp của tâm trạng. Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được những phút giây kì diệu ấy của mùa thu. Ở đất nước, Nguyến Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có lẽ mùa thu ấy từ lâu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ.  

Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa. Thơ thu của Nguyến Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến : Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng là rơi đầy Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “ người ra đi” trong câu thơ trên. Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ Thủ đô khi kháng chiến bùng nổ. Lại có ý kiến cho rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đô khi rút khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên. Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946. Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945. Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại ) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và lặng lẽ : Hình ảnh ấy gần với người ra đi của Thâm Tâm: Đưa người, ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình, một dửng dưng… -Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏ Chí lớn không về bàn tay không (Tống biệt hành ) Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ : Người ra đi này cũng không phải tác giả hoặc một người cụ thể – người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nói mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ. Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bạn đọc,ngày 14.12.1983) Dù gì đi nữa thì khổ thơ trên vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ đất nước. Có những người nói đó là “những câu thơ thật mới mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng, Nhân Dân chủ nhật, ngày 11.8.1991) Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc : Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phất phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phất phới, áo mới ). Cảnh sắc thiên nhiên cũng có sự thay đổi. Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phất phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha. Tất cả sự thay đổi ấy hoà nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khoẻ mạnh và tươi sáng. Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới : âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn. Từ cảm xúc về mùa thu đất nước,Nguyến Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào : Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ của đất nước. Ngay cả sự liệt kê (một cách khái quát, bằng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ây. Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyến Đình Thi hết sức chú ý : Trời xanh đây là của chúng ta. Hình ảnh ấy vừa chân thực,lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người. Trên cái nền không gian rộng mở, được miêu tả từ nhiều mặt, Nguyến Đình Thi chuyển sang chiều dài thời gian, nói lên đặc điểm, truyền thống và độ sâu lắng của đất nước và con người Việt Nam. Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Thực ra, quá khứ, truyển thống của dân tộc không chỉ có vậy. Nhưng có lẽ, trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến toàn dân lúc bấy giờ, Nguyến Đình Thi tập trung nói về truyền thống bốn nghìn năm kiên cường chống giặc ngoại xâm. Câu thơ có sự khái quát rất cao, nhưng lại gợi mở về những lớp người, những thế hệ đã anh dũng hy sinh, sẵn sàng hiến dân cho đất nước. Tất nhiên, cùng với nhiều truyền thống tốt đẹp khác, tinh thần bất khuất của dân tộc hợp thành tiếng nói bền bỉ, liên tục, tiếp sức cho hiện tại : Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau. Nguyến Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại. Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về mối quan hệ ấy. Từ Huy Cận : Cha ông yêu mến thời xưa cũ Trần trụi đau thương bỗng hoá gần Những bước mất đi trong thớ gỗ Về đây, tươi vạn dặm đường xuân (Các vị La Hán chùa Tây Phương) đến Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?), Lê Anh Xuân, Thu Bồn… rồi Nguyễn Khoa Điềm ở những năm tháng đánh Mỹ : Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em, đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời… (Mặt đường khát vọng) Phần hai bài thơ tập trung vào một ý lớn : đất nước từ trong đau thương căm hờn đứng lên ngời sáng. Mở đầu là một hình ảnh về đất nước trong chiến tranh : Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Câu thơ giàu giá trị tạo hình, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bằng hình ảnh đập mạnh vào cảm giác. Nhiều người nói, Nguyễn Đình Thi sử dụng thủ pháp ngược sáng (contre soleil) của điện ảnh, trong ánh chiều tà, dây thép gai ở đồn giặc vươn lên tua tủa như đâm vào bầu trời. Nguyễn Đình Thi có dịp thổ lộ, ngày ấy “trên những chặng đường công tác mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, nhìn về những chân trời xa thấy đồn bốt giặc với những lô cốt, những hàng dây thép gai giăng đầy làm cho chân trời bị xé nát, nham nhở – gây một tức tối căm giận”. Nên nhớ rằng, đây là một buổi chiều thu, vốn đẹp và nên thơ. Hình ảnh ấy biểu hiện cái nhìn tinh tế và tình cảm chân thật của người viết : chiến tranh tàn phá tất cả, chiến tranh đồng nghĩa với sự huỷ hoại, với cái ác. Không ít nhà thơ cùng thời với Nguyễn Đình Thi cũng đã có những cái nhìn tinh tế và đau xót ấy : Có làng trung đoàn ta đi qua Máu đông in dấu giày đinh giặc Nền tro, gạch sém, ngách buồng ai Chiếc tả đầu giường đang cháy dở (Quang Dũng- Những làng đi qua,1947)   Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau (Vũ Cao – Núi đôi, 1956) Trên cái nền của hiện thực ấy là tâm trạng của người chiến sĩ : Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu được đặt ở cùng khổ thơ, tạo thành kết cấu : ngoài/trong. Hai câu đầu là ngoại cảnh, hai câu sau là tâm trạng. Giữa dòng thơ còn có sự đối xứng khác: những / bỗng nung nấu/bồn chồn Cách đối xứng đó làm bật lên phẩm chất ở người chiến sữ : tình cảm thường xuyên là căm thù giặc, ý chí giải phóng đất nước và tình cảm có vẻ đột xuất là nỗi nhớ thương người yêu dâu. Sự xử lý mang tính lịch sử của thời kỳ ấy : tình cảm chung nổi trội hơn tình cảm riêng, nhưng không vì thế mà không có tình cảm riêng. Điều đáng nói ở những khổ thơ cuối của bài Đất nước là những hình ảnh, những ý mới : Ôi đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng … Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh Về nghệ thuật, đó là cách sử dụng nhiều động từ và trạng từ chỉ các hành động và trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, kèm theo là các trạng ngữ và việc mở rộng thành phần vị ngữ của các câu thơ làm cho trọng tâm câu thơ dồn vào phần vị ngữ : Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu … Đã ngời lên nét mặt quê hương … Đã bật lên những tiếng căm hờn … Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta … Đứa đè cổ đứa lột da… Các câu thơ với hình ảnh tương phản ( xiềng xích / trời, súng đạn / lòng dân) khi trùng điệp, tiếp nối (khói nhà máy, kèn gọi quân, ngày nắng đốt, đêm mưa dội…) diễn tả những ý tưởng về đất nước được nhà thơ suy ngẫm trong thời gian dài. Bây giờ, những ý tưởng ấy đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi người, nhưng ở thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới hình thành, nhất là trong cuộc kháng chiến khốc liệt, đó lại là sự trải nghiệm phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng máu xương của hàng vạn, hàng triệu con người. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh tượng trưng cho sự đứng dậy hào hùng, chói lọi trong khói lửa chiến đấu, từ đau thương căm hờn của đất nước . Bốn câu thơ thể sáu chữ với cách ngắt nhịp đều đặn, dồn dập tạo âm hưởng dõng dạc, hùng tráng. Hình ảnh này hình thành từ cảnh thực tác giả đã chứng kiến tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954. Nhà thơ giải thích những câu thơ “đã tiếp nhận được những âm vang mạnh mẽ của chiến trường khi hàng dàn đại bác cùng thi nhau bắn vào đầu giặc…Bài thơ đã kết thúc với âm hưởng chiến thắng của chiến trường Điện Biên Phủ”. Nguồn từ: VanMau.Com   Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ :”Đất nước” của Nguyễn Đình Thi “Sáng mát trong… nắng lá rơi đầy”. Thu Hà Nội, hồn thu Thăng Long từng để thương để nhớ vơi đầy trong lòng bao người đã bao lâu nay. Một dáng liễu Cổ Ngư, một tiếng chuông Trấn Vũ, một”mặt gương Tây Hồ”, một màu vàng ”hồn thu thảo”, một ánh trăng thu Cổ thành… tất cả đã ”hóa tâm hồn” mỗi chúng ta: “Trăng ơi đừng bỏ Kinh thành Hồn cố đô vẫn thanh bình như xưa”. (“Trăng Kinh thành”) Thu Hà Nội đẹp, một vẻ đẹp mơ màng, thơ mộng man mác bâng khuâng. Thu li biệt Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi nửa thế kỉ trước cứ vương vấn mãi hồn ta: “Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”… 1. Đoạn thơ gợi lên một nét thu Hà Nội trong tâm hồn ”người ra đi” - một khách chinh phu của thời đại mới. Cấu trúc đoạn thơ là từ cảm xúc thu hiện tại mà ”nhớ” những ngày thu đã xa, một mùa thu li biệt Kinh thành ngàn năm. Hai câu thơ mở đầu bài thơ ”Đất nước”, Nguyễn Đình Thi xúc động nói lên cái hồn thu đất nước muôn đời: “Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới” Những buổi sáng mùa thu, thu năm xưa cũng như thu hiện tại, không khí trong lành, bầu trời trong xanh, không một gợn mây, thoáng đãng, mênh mông, bao la ”xanh ngắt mấy từng cao”(Nguyễn Khuyến). Gió thu nhè nhẹ thổi mát hồn người và lòng người, ai cũng cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng, lâng lâng. Chỉ 2 chữ ”mát trong” mà nhà thơ đã nhận diện vẻ đẹp của sắc thu, khí thu và hồn thu muôn đời của đất nước. Câu thơ thứ nhất là một so sánh rất gợi: ”Sáng mát trong như sáng năm xưa”. Đất nước trải qua những năm dài chiến tranh, bao mùa thu đã trôi qua, nhưng đất nước vào thu vẫn ”mát trong”, vẫn đẹp như thế ! Đất nước bền vững muôn đời nên thu vẫn đẹp muôn đời. Câu thơ thứ hai nói lên hương thu của đất nước: ”hương cốm mới”. Gió thu thổi qua những cánh đồng, mang theo hương ”lúa nếp thơm nồng”, “hương cốm mới” phả vào lòng người, ủ ấp hồn người cái hương vị quyến rũ, đậm đà của quê hương xứ sở. Câu thơ cho thấy chất tài hoa, chất Hà Nội trong hồn thơ Nguyễn Đình Thi. Có lẽ lần đầu tiên ”hương cốm mới” hiện diện trong thơ ? Trong văn xuôi, Thạch Lam và Vũ Bằng đã viết rất thơ về cốm Vòng Hà Nội. Cốm là ”thức quà riêng của đất nước”, là ”thức quà thanh nhã và tinh khiết”. Trong cốm có ”cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ; trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc”… (“Hà Nội 36 phố phường”, 1943, Thạch Lam) Với Vũ Bằng, trong những năm dài đất nước bị chia cắt, cùng với nỗi buồn của kẻ xa xứ là nỗi buồn nhớ Bắc Việt, nhớ Hà Nội – quê mẹ mến yêu. Suốt đêm ngày năm tháng, nỗi thương nhớ như trải dài, như dồn tụ lại thành ”Thương nhớ mười hai”. Mùa thu chớm đến, ông ao ước”Không biết đến bao giờ mới lại được nghe thấy hơi may về với hoa vàng” ? Ông khắc khoải tự hỏi: ”Mà ở đâu đây có cái hương thơm gì mà dìu dịu thế ?”. Ông nhớ khôn nguôi ”hương lúa ba giăng”. Ông nhớ day dứt cái vị ”thơm ngọt ngào mùi chuối trứng cuốc ngon lừ !”. Quân thù nào có thể chia cắt được đất nước, có thể làm vơi cạn, khô kiệt được nỗi nhớ ấy ? Qua đó, ta cảm nhận được ”hương cốm mới” trên trang văn của Thạch Lam, của Vũ Bằng, trong thơ Nguyễn Đình Thi là nét đẹp của mùa thu đất nước, là hồn thu Thăng Long – Hà Nội mến yêu. 2. Ba câu thơ tiếp theo nhắc lại nỗi nhớ ”những ngày thu đã xa”, buổi đầu thu ”trong lòng Hà Nội”. Cảm xúc dồn nén, hoài niệm rung lên như dây tơ của cây nguyệt cầm với bao man mác: “Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may”.  “Những ngày thu đã xa”là những ngày thu giã biệt Hà Nội, ra đi vì nghĩa lớn, vì đất nước và dân tộc thân yêu. Cuộc giã biệt ấy đã để lại trong lòng nhà thơ bao nỗi nhớ. ”Nhớ” cái ”chớm lạnh”buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu. Hai chữ ”chớm lạnh” buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu. Hai chữ ”chớm lạnh” rất tinh tế trong gợi tả và biểu cảm, vừa diễn tả cái lành lạnh những buổi sáng sớm đầu thu, vừa thể hiện chất xúc giác trong cảm nhận. Trong hơi may lành lạnh còn có âm thanh ”xao xác” của lá thu bay trong gió, nhẹ cuốn trên hè phố, trong lòng đường của ”những phố dài” Hà Nội. Từ láy ”xao xác” là tiếng thu, của lá vàng rơi, của những nhánh cây khẽ rùng mình trong hơi may ”chớm lạnh” mà thi sĩ Xuân Diệu đã từng xúc động: “Những luồng run rẩy rung rinh lá  Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh” (“Đây mùa thu tới”) Thu xưa trong thơ, mùa thu Hà Nội thấm bao nỗi buồn man mác, bâng khuâng. Thoáng buồn trong ”xao xác hơi may” của lá thu bay, của ”mái buồn nghe sấu rụng”  (Chính Hữu). Chỉ bằng một vài nét vẽ, một vài chi tiết nghệ thuật về những ngày thu Hà Nội ”những ngày thu đã xa”, trong đó có cái ”chớm lạnh” của hơi may cảm được, có cái ”xao xác” của lá thu bay nghe được, Nguyễn Đình Thi đã để lại trong lòng mỗi chúng ta cái hồn thu Kinh thành văn hiến ngàn năm. Phải là người tài hoa, mang tình yêu sâu nặng đối với Hà Nội mới viết được những vần thơ hàm súc, đẹp mà buồn như thế. Đoạn thơ ấy đã được khơi nguồn cảm hứng từ bài thơ ”Sáng mát trong như sáng năm xưa”(1948), hoài niệm trào dâng, đồng hiện trong một không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật đầy ấn tượng: “Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em Gió thổi mùa thu vào Hà Nội Phố dài xao xác hơi may Nắng soi ngõ vắng Thềm cũ lối ra đi lá rụng đầy”. 3. Hai câu cuối đoạn thơ thể hiện tâm trạng người ra đi từ ngày thu ấy. Giọng thơ lẳng lặng buồn: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. “Người ra đi”theo tiếng gọi của Non Sông, ”lên chiến khu”? ”Người ra đi mang theo bao kỷ niệm sâu sắc về mùa thu Hà Nội.”. “Hương cốm mới”, cái ”chớm lạnh” trong ”hơi may” buổi đầu thu, cái ”xao xác” của lá me, lá sấu bay trong ”những phố dài” Hà Nội đã trở thành hành trang, đã trở thành kỉ niệm sâu sắc, thân thiết. ”Người ra đi” ôm ”chí nhớn” của một ”li khách”với quyết tâm ”đầu không ngoảnh lại” ! Câu thơ ”Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” là một câu thơ thật hay. Có màu vàng nhạt của nắng thu, có sắc vàng tươi của lá thu đã ”rơi đầy”, đã trải dài trải rộng trên thềm phố. Câu thơ chứa đầy tâm trạng. Tác giả đã lấy ngoại cảnh, lấy nắng thu, lá thu để gợi tả tình lưu luyến. Ra đi với quyết tâm ”đầu không ngoảnh lại” nhưng vẫn cảm nhận được ”Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” với bao tình lưu luyến, nhớ thương. Vì thế, trải qua bao năm tháng, bao mùa thu trôi qua, đến ”mùa thu nay…”, ”tôi đứng vui nghe giữa núi đồi” mà vẫn bâng khuâng ”nhớ những ngày thu đã xa”. Nhớ thu xa cũng là nhớ Hà Nội, nhớ ngày giã biệt ra đi… Mọi cuộc lên đường đều đáng nhớ. Quên sao được Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội mến yêu ! Quên sao được Hồ Tây, Hồ Gươm, chợ Đồng Xuân, Ô Chợ Dừa… ”đi học về qua luôn hát vui ca”. Người chiến sĩ từ mọi chiến trường mà nhớ về Hà Nội với tất cả niềm yêu thương tự hào: – “Từ thuở mang gươm đi giữ nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ) – “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. (Quang Dũng) – “Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa Cả Đô thành nghi ngút cháy sau lưng…” (Chính Hữu) Thơ đích thực làm phong phú, thanh cao tâm hồn. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi đem đến cho ta một tình yêu đẹp: yêu Hà Nội mến yêu !   Bình giảng  một đoạn thơ trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi “Mùa thu nay khác rồi… vọng nói về”.                Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đích thực tài hoa và giàu sáng tạo. Trên các lĩnh vực văn xuôi, thơ, nhạc, kịch bản văn học, lí luận phê bình,… ông đều có thành tựu đáng tự hào. Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn từ. Thơ ông giàu cảm xúc khi viết về đất nước trong chiến tranh. Bài thơ ”Đất nước” trích trong tập thơ ”Người chiến sĩ”, nó được thai nghén và hình thành trong một thời gian khá dài từ năm 1948-1955. Từ thực tiễn lịch sử và sự sống còn của dân tộc, nhà thơ suy ngẫm về đất nước. Đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về cảm hứng quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Biểu lộ niềm vui phơi phới của người chiến sĩ cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương, lòng yêu thương tự hào đất nước về cảnh sắc thiên nhiên, về truyền thống anh hùng của dân tộc, Nguyễn Đình Thi đã viết: … “Mùa thu nay khác rồi ……………………. Những buổi ngày xưa vọng nói về”. Cảm hứng yêu nước, tự hào dâng lên dào dạt trong tâm hồn nhà thơ, trong tâm hồn những người chiến sĩ ”đã đứng lên thành những anh hùng”. Người chiến sĩ đã ra đi từ mùa thu ấy , khi”Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Chính Hữu), giã từ phố cũ thân yêu, dấn thân vào lửa máu. Đối lập với ”những ngày thu đã xa” đẹp mà buồn, là ”Mùa thu nay khác rồi”. Nhà thơ reo lên sung sướng tự hào, một niềm vui phơi phới dâng trào. Đứng giữa núi đồi chiến khu, say mê ngắm đất trời. Thiên nhiên bao la tươi đẹp như xôn xao niềm vui với con người. Bốn chữ ”tôi đứng vui nghe” thể hiện một tư thế, một dáng đứng kiêu hãnh tuyệt đẹp. Con người chan hòa cùng cây cỏ và say đắm trong màu sắc quê hương. Ngọn gió mát lành mùa thu quyện ”hương cốm mới” như hát cùng đất nước. Hình ảnh ”rừng tre phấp phới” diễn tả thật hay sức sống mãnh liệt của đất trời quê hương: “Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới…”. Mùa thu lại về với đất nước và con người trong sắc màu tươi sáng: ”Mùa thu thay áo mới – Trong biếc nói cười thiết tha”. Bao trùm đất nước là cả một không gian bao la, một thiên nhiên đẹp hữu tình được nhân hóa, gắn bó hòa hợp với con người. Con người kháng chiến với khát vọng tự do, nên tầm nhìn cũng cao xa, mênh mông. Có lẽ vì thế, nhà thơ đặc biệt chú ý đến bầu trời. Năm lần nhà thơ nói đến bầu trời, mỗi lần có một cách nói, cách cảm nhận đầy khám phá: – “Trời thu thay áo mới”. – “Trời xanh đây là của chúng ta”. – “Trời đầy chim và đất đầy hoa”. – “Dây thép gai đâm nát trời chiều”. – “Trán cháy rực nghĩ trời đất mới”. Cái khác của mùa thu nay được diễn tả qua vần điệu náo nức, xôn xao, được đặc tả qua hình ảnh sống động, tươi mát: ”Gió thổi rừng tre phấp phới”, được thể hiện ở ánh mắt, nụ cười:”Trong biếc nói cười thiết tha”. ”Biếc” ở trời xanh, ”biếc” ở con mắt những chàng trai, cô gái đang say mê ngắm trời thu thời máu lửa. Nguyên nhân của niềm vui ấy thật sâu xa, rộng lớn. Cách mạng thành công, nhân dân đã và đang đem tài năng và xương máu để giữ gìn và xây dựng đất nước. Đất nước là của nhân dân. Nguyễn Đình Thi như reo lên, hát lên niềm hạnh phúc tột cùng của những con người đang làm chủ đất nước: “Trời xanh đây là của chúng ta, Núi rừng đây là của chúng ta, Những cánh đồng thơm mát, Những ngả đường bát ngát, Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Một lối nói khẳng định: ”của chúng ta” vang lên đĩnh đạc, tự hào. Một dân tộc đã gan góc đứng lên đánh Pháp mới có tiếng nói hào hùng ấy. Tất cả những gì cao quý, thiêng liêng trên đất nước thân yêu này là ”của chúng ta”, của nhân dân chúng ta. Sau những đêm dài nô lệ, nước nhà độc lập, nhân dân ta mới có niềm vui tự hào mênh mông ấy. Khát vọng làm chủ đất nước với tất cả niềm tự hào là của bao thế hệ con người Việt Nam trong suốt bốn nghìn năm lịch sử:”Của ta, trời đất, đêm ngày – Núi kia đồi nọ, sông này của ta !” (“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” – Tố Hữu). Với nghệ thuật diễn tả trùng điệp, với cách liệt kê, sử dụng điệp từ điệp ngữ (của chúng ta,… đây là… những) tác giả đã tạo nên giọng thơ lôi cuốn, hấp dẫn mang âm điệu anh hùng ca. Dáng hình đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi hiện lên sống động qua những vần thơ tráng lệ. Nhà thơ như đang ngước mắt và chỉ tay về ”trời xanh” và ”núi rừng”,… mà reo lên sung sướng. Có tình yêu nào lớn hơn tình yêu đất nước ? Đất nước bao la, hùng vĩ với trời cao, biển rộng, sông dài,… trở nên thân thiết, thiêng liêng. Đất nước với những cánh đồng quê mênh mông thẳng cánh cò bay, ”thơm mát” hương lúa bốn mùa. Đất nước với những nẻo đường tự do, những dặm đường kháng chiến ”bát ngát” đến mọi chân trời. Đất nước với những dòng sông – sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Mã, Cửu Long Giang,… ”đỏ nặng phù sa”, bồi đắp nên những cánh đồng màu mỡ, nuôi sống nhân dân ta tự bao đời nay. Các tính từ: ”Xanh”, “thơm mát”, “bát ngát”, “đỏ nặng”,… cực tả vẻ đẹp và sự bền vững đất nước, đồng thời cho thấy ngòi bút thơ tài hoa, điêu luyện của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn ngôn từ để hình tượng hóa vần thơ, tạo nên sắc điệu trữ tình đằm thắm. “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi” (Tố Hữu). Cảm xúc dào dạt ấy về đất nước cứ ngân nga mãi trong lòng chúng ta khi tiếp cận và cảm thụ những vần thơ của tác giả ”Người chiến sĩ” nói về dáng hình đất nước. So với lớp nhà thơ đương thời, Nguyễn Đình Thi là nhà thơ có cái nhìn mới mẻ, sâu sắc về đất nước. Cảm hứng lịch sử và truyền thống được kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng thời đại. Chí khí quật cường của tổ tiên từ nghìn xưa như đem đến cho nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh một sức mạnh vô biên mà không một thế lực thù địch bạo tàn nào có thể khuất phục được: “Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất, Những buổi ngày xưa vọng nói về”. Ba chữ ”nước chúng ta” là sự khẳng định ý chí tự cường, niềm tự tôn dân tộc. Đất nước và dân tộc với lưỡi cày, thanh gươm và chiếc gộc tre ”chưa bao giờ chịu khuất”. “Những buồi ngày xưa” mà nhà thơ nhắc đến là những năm tháng đau thương và vinh quang của giống nòi. Quên sao được ngày Bà Trưng, Bà Triệu xuất quân, khi Lý Thường Kiệt viết ”Nam quốc sơn hà” trên chiến tuyến sông Cầu – Như Nguyệt, khi Trần Quốc Tuấn bắt sống Ô Mã Nhi trên Bạch Đằng Giang, khi Liễu Thăng bị quân ta chém đầu tại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghị quăng cả ấn tín, triều phục chạy tháo thân qua biên giới,… Nhân dân mãi mãi tự hào về ”những buổi ngày xưa” ấy: … “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn. Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”. (“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” – Chế Lan Viên) Hai chữ ”đêm đêm” nói lên tính liên tục dòng chảy lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc. Từ láy ”rì rầm” như một nốt nhạc trầm hùng vang xa trong bài ca Tổ quốc, nó gợi tả cái mạch ngầm của giang sơn, giống nòi, đó là truyền thống anh hùng bất khuất chống xâm lăng. Biên độ câu thơ mở, khép tài tình, lúc rút ngắn lại 3 từ, lúc duỗi dài ra 8 từ, các câu lục ngôn, thất ngôn đan chéo vào nhau, cài chặt vào nhau làm nên tính nhạc phong phú. Cảm xúc dào dạt, âm hưởng hào hùng, ngôn ngữ đẹp và tinh tế. Song song với chuỗi hình ảnh về dáng hình đất nước là sự phát triển của chuỗi liên tưởng về quá khứ hào hùng, về sức mạnh Việt Nam.   Bình giảng một đoạn thơ  trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi “Ôi những cánh đồng quê… nhớ mắt người yêu”.  

 

Có những vần thơ xao xuyến bồi hồi. Có những vần thơ ngọt ngào say đắm. Lại có những vần thơ đĩnh đạc, hào hùng. Còn có lúc, ta bị ám ảnh khôn nguôi trước những vần thơ yêu thương và căm giận: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu, Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bốn chồn nhớ mắt người yêu”. (“Đất nước” – Nguyễn Đình Thi) “Đất nước”là bài thơ sáng giá nhất của Nguyễn Đình Thi viết trong kháng chiến chống Pháp, cũng là bài thơ kiệt tác viết về đề tài quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Nó đã được tác giả thai nghén và hình thành trong một quá trình lịch sử khá dài (1948-1955). Các áng thơ ”Đêm mít tinh”, “Sáng mát trong như sáng năm xưa” - đã khơi nguồn cảm hứng để Nguyễn Đình Thi khám phá và thể hiện tuyệt đẹp tình yêu nước một cách nồng nàn, say đắm. Nhà thơ – người chiến sĩ – như đang nắm chắc tay súng ”lắng hồn núi sông ngàn năm”, lắng nghe những âm vang của lịch sử, giống nòi ”rì rầm trong tiếng đất” tự nghìn xưa ”vọng nói về”: những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… bất tử ! Từ quá khưa nghìn xưa trở về hiện tại, câu thơ vút lên nghẹn ngào, đau đớn: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu”. Cảnh tượng đau thương mà nhà thơ nói đến là mùa thu 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt ! Nhiều đô thị, nhiều vùng nông thôn rộng lớn của đất nước ta đang bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo ”Đương làng bao xương máu tơi bời – Vườn không nhà trống tàn hoang” (“Làng tôi” – Văn Cao). ”Những cánh đồng quê chảy máu” - hình ảnh hóan dụ tượng trưng cho đất nước thân yêu, những làng xóm thân thuộc đang bị quân thù càn quét, bắt giết dã man. Máu những người nông dân hiền lành đã chảy ngập đường thôn, luống cày… dưới làn bom đạn của lũ cướp nước. Xưa kia thuở thanh bình, đất nước là ”những cánh đồng thơm mát…”, “xanh xanh bãi mía bờ dâu…”, thì kể từ khi ”súng giặc đất rền”, đã trở nên tang thương, điêu tàn với ”những cánh đồng quê chảy máu”. Nhân dân ta bị giặc Pháp tàn sát dã man. Hai chữ ”chảy máu” lên án tội ác và chính sách tam quang của quân cướp nước: giết sạch, cướp sạch, đốt phá sạch ! Từ “Ôi” cảm thán diễn tả nỗi lòng đau đớn, xót xa không thể nào kể xiết ! Từ cái nhìn toàn cảnh về không gian đau thương, về ”những cánh đồng quê chảy máu”, nhà thơ đứng lặng nhìn về các phía chân trời. Một nét vẽ thậm xưng, độc đáo, rất sáng tạo: “Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Quân giặc tàn bạo ra sức bắn giết, càn quét, chiếm đất, dồn dân. Đồn giặc như nấm độc mọc lên khắp mọi nơi. “Dây thép gai” cũng là một hình ảnh hóan dụ nói về bốt đồn giặc, sự chiếm đóng dã man của quân cướp nước. Những núi thép gai, những hàng rào dây thép gai tua tủa nhọn hoắt bao bọc xung quanh đồn giặc không chỉ nhằm chống đỡ những trận tấn công vũ bão của quân đội ta, mà còn ”đâm nát trời chiều”. Một cách nói thậm xưng đầy ấn tượng về tội ác và âm mưu cướp nước của giặc Pháp. ”Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” là những chiều thôn trang êm đềm có ”cánh cò trắng vẫy mênh mông”, có ”tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn”, có tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về thôn… Nhưng nay còn đâu nữa ? Cảnh trời chiều quê hương đã và đang bị dây thép gai đồn giặc “đâm nát”. Nỗi đau từ đất trời như đangcứu nát, đâm nát lòng người ! Ở phần đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi nói về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của đất nước với trời xanh, núi xanh, những cánh đồng quê thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa - và tất cả đều “của chúng ta”. Nhưng từ khi giặc tràn tới, đồng quê thì “chảy máu”, trời chiều thôn trang thì bị dây thép gai “đâm nát”, biết bao đau đớn, căm hờn ! Tác giả ”Đất nước” tạo nên sự đối lập, tương phản đầy ấn tượng: xưavà nay, thanh bình với chiến tranh, hữu tình nên thơ với điêu tàn, tang tóc - để lên án tội ác dã man của giặc Pháp mà trời không thể dung tha, người người đều căm giận ! Sự kết hợp tài tình các biện pháp tu từ hoán dụ, cảm thán, thậm xưng, và tương phản đã tạo nên vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm. Qua đó, ta cảm nhận được cốt cách thi sĩ của Nguyễn Đình Thi: hồn thơ đẹp, tài hoa, cảm xúc dồn nén, ngôn từ xác thực, hình tượng sáng tạo. Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm với hiện thực đất nước một thời khói lửa, mở rộng cho ta một trường liên tưởng về không gian nghệ thuật để mọi người cùng suy ngẫm về dòng chảy lịch sử và hành trình bi tráng của dân tộc. Và đó cũng là cái giá của độc lập tự do để ta nhớ và tự hào ! Gần 150 năm về trước, trong bài thơ ”Chạy giặc”, Nguyễn Đình Chiểu đã căm giận lên án quân xâm lược: “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây… (…)  Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”. Có biết bao câu thơ xúc động làm sôi sục lòng người những năm tháng đất nước ”ra trận”: “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang…”. (“Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm). Đó là những vần thơ một thời tạc vào thời gian và lòng người để ta nhớ mãi. Câu thơ thứ ba nói lên tâm trạng người chiến sĩ ra trận: “Những đêm dài hành quân nung nấu”. Câu 1 nói về ”những cánh đồng quê chảy máu”, câu ba tứ thơ chỉ rõ ”Những đêm dài hành quân nung nấu”, từ không gian đau thương mở ra thời gian căm giận, không chỉ một đêm, năm mười đêm mà là ”những đêm dài”… Cấu trúc song hành, điệp lại 2 lần chữ “những”, chữ “nấu” vần với chữ “máu” (vần chân) đã tạo nên giai điệu, nhạc điều trầm hùng đang nung nấu tâm hồn người chiến sĩ xung kích trên đường hành quân ra trận. ”Nung nấu” vì căm thù dữ dội. Lòng súng nóng bỏng, lưỡi lê nhọn hoắt căm thù ! Mối thù đối với giặc Pháp cướp nước nung nấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sục trong lòng, không chỉ trong một thời gian hữu hạn mà kéo dài trong thời gian vô hạn ”Những đêm dài hành quân nung nấu”. Hai chữ ”nung nấu”biểu hiện sâu sắc tình yêu nước của “những người áo vải – Đã đứng lên thành những anh hùng !”. Càng nung nấu quân xâm lược bao nhiêu thì càng yêu quê hương đất nước bấy nhiêu. Người lính ra trận nung nấu, sôi sục căm thù giặc khi nhìn thấy đất nước tang tóc, điêu tàn ”những cánh đồng quê chảy máu…”, nhìn thấy ”những bóng thù hắc ám”, những đồn giặc mọc lên với bao ”dây thép gai đâm nát trời chiều”. Câu thơ thứ tư tiếp theo là một nét vẽ, nét khắc chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ ra trận; nhiều khám phá và sáng tạo: “Bỗng bốn chồn nhớ mắt người yêu”. “Nung nấu”căm thù và “bồn chồn nhớ” là hai nét biểu hiện của một tâm trạng, làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của anh Vệ quốc quân thời kháng chiến 9 năm đánh Pháp. Anh ra trận với sức mạnh căm thù giặc, với tình yêu nước thương dân, với bao nỗi nhớ. Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ“người tình chung”…“nhớmắt người yêu”. “Mắt người yêu” cũng là một hình ảnh hoán dụ rất đắt diễn tả hình bóng quê hương, vẻ đẹp duyên dáng ”người tình chung” sau lũy tre làng mà anh nhớ lắm: “Vầng trán em mang trời quê hương Mắt em như giếng nước thôn làng Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em đã bao ngày em nhớ thương ?…” (“Mắt người Sơn Tây” – Quang Dũng) “Nhớ mắt người yêu”với bao kỉ niệm đẹp một thời trai trẻ. ”Xa em năm nhớ – gần em mười thương”. Chàng trai cày ngày xưa nhớ quê nhà là nhớ hương vị đậm đà ”bát canh rau muống, quả cà giòn tan”, là ”nhớ ai tát nước bên đường hôn nao”. Anh bộ đội Cụ Hồ giã từ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ”nước mặn đồng chua”, nơi ”đất cày lên sỏi đá”, có người nhớ thầm: ”Bầm ra ruộng cấy bầm run – Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non”. Có người nhớ ”người vợ trẻ – mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Chàng lính trẻ hào hoa trong đoàn binh Tây Tiến thì lại ”Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Có trăm nghìn nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương:”Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét – Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng” (Chế Lan Viên), v.v… Trở lại câu thơ ”bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”, hai chữ ”bồn chồn” nghĩa là nóng ruột, không yên tâm (Từ điển tiếng Việt); diễn tả nỗi nhớ xôn xao, rung động, dâng lên như những đợt sóng vỗ mãi trong lòng. Đã có nỗi nhớ ”bổi hồi bồi hồi”. Đã có sự vấn vương ”không yên một bề”. Đã có tâm tình khao khát ”nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai…”. Câu thơ ”Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” là một nét vẽ rất đẹp thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Đình Thi. ”Nhớ”là cảm hứng nhiều màu sắc và dáng vẻ đã làm nên những câu thơ hay, những vần thơ đẹp của Nguyễn Đình Thi trong tập thơ ”Người chiến sĩ”: … “Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”… (Nhớ) Trong cái chung nhớ nước, nhớ ”nguồn thiêng ông cha” (Hữu Loan), lại có cái riêng ”bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Có nỗi hờn ”nung nấu”, có nỗi nhớ ”bồn chồn” nên mới có sức mạnh chiến đấu và niềm tin thắng trận: ”Anh lại tìm em – Em mặt yếm thắm – Em thắt lụa hồng – Em đi trẩy hội non sông – Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” (Hoàng Cầm). Tình cảm là cái gốc của thơ ca, là ngọn nguồn sáng tạo của thơ ca. Thơ chỉ đẹp khi thơ ca hút màu mỡ, phù sa trong lòng đất – hiện thực cuộc sống – mà nảy mầm xanh tươi, đơm hoa kết trái dâng hương thơm, vị ngọt cho đời. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi như một bông hoa đẹp trong cành hoa đẹp đã mang hơi thở nóng hổi của thời đại, mang tình yêu mãnh liệt của đất nước và con người Việt Nam trong ba ngàn ngày khói lửa. Đọc đoạn thơ trên, ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, một hồn thơ giàu cá tính sáng tạo. Hiện thực chiến tranh: đất nước điêu tàn, dân tộc đau thương trong bom đạn quân thù đã được diễn tả một cách tuyệt vời qua những vần thơ hàm súc, biểu cảm và giàu hình tượng. “Cánh đồng quê chảy máu”, ”Giây thép gai đâm nát trời chiều” là những hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo và hay. ”Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” là một hình ảnh mang tính kế thừa sáng tạo, thể hiện một hồn thơ chiến sĩ cho ta nhiều rung cảm thấm thía. Đọc ”Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, tâm hồn ta được bồi đắp bao tình cảm đẹp trở nên trong sáng và phong phú, để ta yêu, để ta nhớ, ta sống lại và tự hào về những năm tháng hào hùng và oanh liệt với ngọn lửa Điện Biên thần kì của đất nước và dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.  

 Châu Bảo ( Sưu tầm)

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhà Thơ Phạm Ngà, Nguyễn Đình Kiên / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!