Xu Hướng 12/2023 # Nhà Thơ Đài Trang Viết Về Quê Hương Vĩnh Phúc # Top 20 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nhà Thơ Đài Trang Viết Về Quê Hương Vĩnh Phúc được cập nhật mới nhất tháng 12 năm 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

LNV – Đài Trang là con út trong một gia đình 3 anh em, ở phường Khai Quang, Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), bố mẹ làm nông nghiệp, không có ai theo nghiệp bút sách, văn chương. Học xong phổ thông trung học, lực học khá, có năng khiếu văn học. Song Đài Trang cũng không chọn con đường lập thân, lập nghiệp bằng lối đi vào các trường đại học, cao đẳng, mà ở lại quê nhà cùng bố mẹ, gia đình tìm kiếm việc làm phù hợp với sở thích của bản thân, đỡ gánh nặng cho gia đình…

Những năm gần đây đất nước nói chung, quê hương Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc nói riêng đã và đang chuyển mình, đổi thay một cách chóng mặt, cùng với cảnh quan môi trường tươi đẹp của quê hương trung du đồng bằng ven sông như thúc giục Đài Trang, cầm bút viết ra những vần thơ rất hay và rất thực..

Trong bài thơ “Về quê em” Đài Trang viết : Anh có về Vĩnh Phúc quê em, Nơi Tam Đảo mờ sương trời mây phủ, Có Thiền viện giữa đại ngàn lộng gió, Có Sông Hồng bãi bồi đỏ phù sa. Anh về đây cảm nhận chốn quê nhà, Quê hương em một thời hoa lửa ấy, Lời ai vang lịch sử còn sống dậy, Là Anh hùng mang tên Nguyễn Viết Xuân. Về đây thăm thành phố nhỏ ngày đêm, Vĩnh Yên xanh đang cuộn mình đổi mới, Là Phúc Yên vươn lên trong chờ đợi, No ấm đẹp giàu tựa bức tranh hoa… Ghé về xuôi đến Đại Lải, Xuân Hoà, Lời cùng gió mênh mông đùa sóng nước, Tự bao giờ đã thấy hồ có trước, Vui sum vầy đón lữ khách gần xa, Người quê em tình thắm nghĩa mặn mà, Ai đã đến một lần thêm nhớ mãi. Và đây nữa, trong bài thơ “Mê Linh ngày anh về” Đài Trang viết: Anh có về với ngày hội làng xưa, Qua Sông Hồng mà nghe lời của gió, Tiếng trống dồn vang từ xa muốn ngỏ, Hội đền làng linh địa Hai Bà Trưng. Về Mê Linh hôm nay thật tưng bừng, Chợ quê em người vui náo nức, Hoa rung rinh trăm sắc màu nở rực, Trải cánh đồng bên xanh lúa, bên hoa. Đất Mê Linh dày lịch sử quê nhà, Hai Bà Trưng một thời xưa quật khởi, Để hôm nay cho quê hương đổi mới, Đẹp rộn ràng trong muôn những lời ca. Bông cỏ may lả lơi gió la đà, Nắng vương nhẹ hôn đùa nhành hoa thắm, Toả hương đồng muôn sắc hoa yêu ngắm, Mải đợi chờ anh nô nức về đây. Hẹn ngày về anh được thấy hôm nay, Bao sắc màu, bao làng nghề đất Việt, Trong yên bình cùng âm thanh tha thiết, Đất đẹp anh hùng! Em làng luá làng hoa. Hiện nay Đài Trang chưa có tập thơ in riêng, song đã có nhiều bài được đăng trên Báo Vĩnh Phúc, và báo tạp chí ở Trung ương, có 5 bài thơ được nhạc sĩ Đinh Văn Bình lựa chọn phổ nhạc, được công chúng Vĩnh Phúc và Thủ đô đón nhận, đánh giá cao. Trước thềm năm mới Đài Trang cũng đã viết tặng những người làm báo chúng tôi bài thơ: ” Tặng anh người làm báo”: Em gặp anh giữa trời xuân hoa nở, Nhánh mai vàng, lộc biếc đón chào nhau, Qua vần thơ, dòng ký sự nối cầu, Nghề làm báo trận tiền anh người cầm súng…. Việc đất nước đang từng ngày cuộn sóng, Trọn tâm tình với sự nghiệp vì dân, Mang ánh sáng trí thức khắp xa gần, Lòng chính nghĩa anh là người của Đảng, Để mỗi ngày đời dân mình tươi sáng, Ánh mai hồng trong ánh sáng truyền thông. Tâm bút sắc đẹp, tim nghĩa hoài mong, Thêm trân quý tình anh người làm báo. Như lời xưa Bác Hồ dạy bảo, Cách mạng này giữ bút sắc lòng trong, Nghề làm báo cần vững trí tiên phong, Trong nghiệp lớn dựng xây cho Tổ quốc.

Chúc cho cây bút trẻ Đài Trang bước sang năm mới Tân Sửu, bút lực dồi dào, sẽ có thêm nhiều bài thơ hay, áng thơ đẹp viết về quê hương, đất nước.

Bài, ảnh: Phạm Trường Sơn

Vĩnh Phúc Quê Em…! (Thơ Kim Giang)

VĨNH PHÚC QUÊ EM

Vĩnh Phúc quê em Không cao lương mĩ vị cho ai đem về mỗi dịp đi qua Mà bánh đúc bánh đa sâu chuỗi ngày vất vả Một miền quê dân dã với những con người hiền như đụn rạ đụn rơm Như củ khoai lùi như củ sắn thơm

Vĩnh Phúc quê em không nổi tiếng với câu ví điệu then Nhưng lời ru ngọt ngào ở đâu cũng có Bởi Đất Tổ sinh đôi cùng người anh em Phú Thọ Quan đi qua không họ vài bước chân Quan Họ Bắc Ninh

Con gái Vĩnh Phúc không xinh Chỉ đủ để các chàng Sơn Tinh Thủy Tinh tranh nhau làm rể Những cô gái cổ tay trắng ngần bánh tẻ Eo thon má hồng – hiền ngoan thỏ thẻ Nhất mực yêu chồng trung hậu đảm đang

Xin ngược dòng lịch sử Lô Giang Ngân vang giọng hò Trống Quân – Đức Bác Sóng vùi chôn tàu Pháp, vào chiến dịch Thu Đông Chuyện Vườn Cò Hải Lựu – đợi chồng Người đi đánh giặc mãi không trở về Hồn thiêng còn nhớ trời quê Bóng anh nhòa giữa bốn bề Cò bay

Máu xương gìn giữ đất này Cho quê Vĩnh Phúc cho ngày Vĩnh Yên Đầm Vạc lấp lánh sao đêm Vạc nghèo lột xác bước lên thuyền rồng

Cái giàu đâu được cho không Gội sương gội nắng cho đồng rau xanh Gọi Bình Xuyên nhớ Hương Canh Mồ hôi nháo đất vại sành muối dưa

Chiếc nôi Đồng Đậu cổ xưa Yên Lạc đó ghé chợ Chùa hôm nay Chưa cầm đã ấm bàn tay Lạc khoai mới dỡ luống cày vừa phơi Cha Rồng xuống biển là nơi Đất lành lập nghiệp truyền đời cháu con

Rồng Tiên nguồn cội Nước Non Suối Tiên xuống tắm trăng còn ngẩn ngơ Quờ mây Tam Đảo cung mơ Trúc Lâm Thiền Viện, Phật thờ tại tâm

Quê em Mẹ gọi là Bầm Bầm ơi!!! Con vẫn hát thầm khi xa Phúc Yên vùng đất Hai Bà Dựng cờ nợ Nước thù nhà báo ân Bao gương Liệt Nữ hồng trần Sáng trong sử sách lòng dân miếu thờ

Vĩnh Tường vương vấn khách thơ Xuân Hương ơi – Phủ Vĩnh Tường giờ vẫn say Thăm Trường em đó – Lê Xoay Vẫn cây Bàng đỏ lá ngày chia tay Ăn cùng miếng Đậu Rùa này Hương sen quyện gió đồng lay ngõ hồn Lạ rồi quen sẽ bồn chồn Những nơi muốn đến như dồn bước chân Quê Anh Hùng Nguyễn Viết Xuân Tiếng Anh hô … … ” chẳng khiếp sợ quân thù nào…” ! Cây cầu Vĩnh Thịnh vươn cao Sông Hồng thao thiết chẳng rào ngăn ai Hà Nôi Vĩnh Phúc kề vai Thương nhau gần lắm chỉ vài bước thôi

Lập Thạch cứng đá mềm môi Soi sông Phó Đáy nụ cười chênh chao Tam Dương Vải Dứa…nôn nao Quán Tiên mời khách tiên vào cõi Tiên

             *** Dẫu đi khắp chốn mọi miềnNgười ơi…Vĩnh Phúc niềm tin đợi chờ …!

Tác giả Kim Giang (Pari – Pháp)

Viết Về Quê Hương Em

Hoà Bình là quê hương em. Đây là mảnh đất em đã sinh ra và lớn lên. Từ lúc rời quê lên Hà Nội học nhưng lúc nào em cũng nhớ về quê hương.Với nhưng dãy núi cao và những dải đồi xanh ngát,thửa ruộng bậc thang do thiên nhiên tự tạo,tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc.Đó đây, những cụm nhà sàn khiêm nhường ẩn mình giữa rừng cây.Dốc Cun ngày xưa một thời hiểm hách, nay đã được san bằng và mở rộng cho những đoàn xe nối đuôi nhau lên Thủy Điên Hòa Bình, và đưa khách về tới khu du lịch sinh thái Kim Bôi. Mảnh đất cửa ngõ của miền Tây Bắc đang từng ngày thay da,đổi thịt.Nếu có dịp, xin mời các bạn một lần ghé qua quê hương tôi, chắc chắn sẽ làm các bạn hài lòng về con người và cảnh vặt nơi đây.

Viết về quê hương em – Bài 2

Em sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, một thành phố tuyệt đẹp. Hà Nội nổi tiếng với những khu phố cổ, những món ăn ngon. Thời tiết ở Hà Nội có bốn mùa rõ rệt: Mùa xuân, hạ, thu, đông. Khi mùa thu đến, thời tiết mát mẻ và hơi se lạnh. Còn mùa đông, có những hôm trời rét đậm. Đó là những nét đặc trưng nổi bật về thời tiết khiến Hà Nội không thể nhầm lẫn với thành phố khác. Ở Hà Nội có mội ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, đó là chùa Một Cột. Ngoài ra , cũng có rất nhiều khách sạn thiết kế rất đẹp và lâu đời nằm tại Hà Nội. Những năm gần đây, em còn thấy rất nhiều tòa nhà cao tầng, trung tâm thương mại mới được xây dựng khiến Hà Nội trông hiện đại hơn nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp cổ kính trước đây của Hà Nội. Em đặc biệt thích Hà Nội bởi vì có rất nhiều của hàng sách thiếu nhi bán đủ các loại truyện. Có một lần em đi mua truyện, sau đó em vội đi việc khác ngay nên em để quên số truyện đó tại cửa hàng. Tuy nhiên, ngày hôm sau em quay lại thì người bán hàng vẫn cất số truyện đó rất cẩn thận và vui vẻ trả lại em đó là kỷ niệm không bao giờ quên và đó nói nên tính cách của người Hà Nội: văn minh, lịch sự và trung thực. Em rất yêu Hà Nội.

Viết về quê hương em – Bài 3

Mỗi người ai cũng có một quê hương, nơi in đậm những kỷ niệm tuổi thơ. Quê hương yêu dấu của tôi là Hà Nội. Hà Nội có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hồ Hoàn Kiếm, Tháp Rùa, Văn Miếu Quốc Tử Giám,… Đường phố luôn tấp nập người qua lại. Những ngôi nhà cao tầng lung linh trong nắng sớm. Hà Nội còn có những trung tâm thương mại sầm uất, lúc nào cũng nhộn nhịp. Quê em có những công viên sạch đẹp để mọi người đến đây giải trí. Có những khu vui chơi cho các bạn và các em nhỏ. Kỷ niệm em nhớ nhất là lần em được bố cho ra sân vận động thả diều vào buổi chiều gió mát. Vào những đêm trăng sáng, em thường ngồi ngắm trăng, sao. Người Hà Nội rất văn minh, thanh lịch, … Ôi, quê hương của em mới đẹp làm sao! Em đã gắn bó với quê hương này bao năm rồi. Em sẽ luôn nhớ về quê hương dù em có đi đâu. Em yêu quê em lắm!

Viết về quê hương em – Bài 4

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

Câu ca dao đó nói đến cảnh đẹp của xứ Nghệ và đó cũng chính là quê hương em. Quê em có dòng sông Lam hiền hòa, nước trôi lững lờ. Hai bên bờ sông là những xóm làng trù phú với những bãi ngô xanh mướt. Xa xa là núi Hồng Lĩnh như bức tường thành bảo vệ dân làng. Quê em không có những ngôi nhà khang trang mà chỉ có những ngôi nhà ngói đỏ nằm xem giữa những vườn cây tươi tốt. Tuy cuộc sống còn lam lũ và khó khăn nhưng người dân ở đây đều hiền lành, dễ mến. Vào ký nghỉ hè, em rất thích được mẹ đưa đến bờ đê chơi vào buổi chiều vì phong cảnh ở đây rất đẹp. Em yêu quê em và mong được về thăm quê vào mỗi mùa hè.

Viết về quê hương em – Bài 5

Mỗi người đều có một nơi để sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đi xa thì luôn nhớ về. Nơi đó chính là quê hương. Em cũng có một nơi luôn ở trong trái tim, là mảnh đất này, có ba mẹ, có ông bà, có bạn bè và có cả tuổi thơ tràn đầy những kỉ niệm đáng nhớ nhất. Em yêu quê em, yêu những con người nơi đây đậm nghĩa đậm tình.

Trong suy nghĩ của em thì mỗi một vùng quê đều có một nét riêng đặc trưng không thể lẫn lộn. Con người ở miền quê đó cũng vậy, có tính cách và tình cảm riêng. Quê hương em có cánh đồng lúa bao la, chạy dài bạt ngàn mà em chưa đi hết. Mẹ bảo đi hết cánh đồng lúa này còn xa lắm nên em chưa dám đi bao giờ. Vào mùa lúa chín màu vàng ươm của lúa khiến cho em có cảm giác như một tấm thảm màu vàng bất tận. Có những chú trâu cần mẫn gặm cỏ trên những triền đê cao và dài. Nơi đó chúng em có thể nằm im và ngắm bầu trời có mây trôi, ngắm mặt trời lặn mỗi khi mặt trời đổ xuống dãy núi cao cao kia.

Sáng Tác Thơ Về Quê Hương Vĩnh Lộc Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới

Sáng tác thơ về quê hương Vĩnh Lộc trong xây dựng nông thôn mới

Nhằm ngợi ca và góp phần phục vụ cho công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh về vùng đất, con người Vĩnh Lộc trong quá trình phấn đấu xây dựng nông thôn mới – đô thị văn minh, huyện Vĩnh Lộc đã tổ chức cuộc vận động sáng tác thơ về quê hương trong xây dựng nông thôn mới.

Các tác phẩm dự thi.

Cuộc vận động đã thu hút nhiều tác giả, nhà thơ chuyên và không chuyên trong và ngoài huyện hưởng ứng tích cực. Sau 3 tháng phát động, có gần 180 bài thơ sáng tác về xây dựng nông thôn mới của huyện, đã phản ánh bản sắc văn hóa, ngợi ca quê hương, thiên nhiên, con người và thế mạnh của vùng đất và con người Vĩnh Lộc; những thành công trong thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Vĩnh Lộc; khuyến khích những đề tài sáng tác về bảo vệ môi trường, các mô hình điển hình trong sản xuất, kinh doanh, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, những hình ảnh đẹp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, gương mẫu thực hiện xây dựng nông thôn mới – đô thị văn minh.

Đây là hoạt động thiết thực ghi nhận những thành quả to lớn mà huyện VĨnh Lộc đạt được trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXV, nhiệm kỳ 2023-2023 nhằm cổ vũ, động viên toàn đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục xây dựng quê hương Vĩnh Lộc ngày càng phát triển về mọi mặt.

Ban Tổ chức sẽ tuyển chọn những tác phẩm xuất sắc để in thành tập thơ.

Tô Hà

Viết Về Cây Nho Quê Hương

Cây nho có nguồn gốc từ các nước Âu- Mỹ xa xôi đã bén rễ rồi duyên nợ với vùng đất Phan Rang hơn nửa thế kỷ qua. Những vườn nho trĩu quả, dòng sông Dinh tha thiết ân tình, bóng dáng Tháp Chàm cổ kính, vịnh Vĩnh Hy, biển Ninh Chử… là những hình tượng đặc trưng của Ninh Thuận được nhiều người cầm bút khai thác gởi gắm tình cảm về miền đất nắng gió tràn đầy yêu thương. Nho Phan Rang- vị ngọt quê nhà xuất hiện khá dày trong nhiều tác phẩm thi ca.

Cây nho “bén rễ” cho những mùa trái ngọt trên vùng đất Ninh Thuận.

Mỗi người có một cách nói rất riêng về sắc màu, hương vị độc đáo của cây nho nhưng đều quy về nỗi nhớ mong với khát vọng sống và viết hết lòng cho quê hương. Chuẩn bị chào đón Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014, tác giả Thái Sơn Ngọc đã viết:

“Ơi, thành phố Phan RangNồng nàn hương nho vang.Ngất ngây hồn lữ kháchBờ biển xanh nắng vàng.”

(Hội Nho vang)

Tác giả Lương Sơn có cách so sánh rất duyên dáng, chùm nho chín đỏ như mặt trời nho nhỏ thắp lên niềm vui tươi đẹp cho cuộc sống:

“Đong đưa đong đưaChùm nho chín đỏMặt trời nho nhỏThắp lên niềm vui.”

(Mặt trời chín đỏ)

Tác giả Hữu Lợi có lời mời gọi bè bạn gần xa qua miền Trung nhớ ghé về thăm Ninh Thuận, mảnh đất thiếu mưa thừa nắng đã nuôi lớn loài cây cho hương thơm vị ngọt gởi nhớ khắp trăm miền:

“Qua miền Trung, bạn ghé về Ninh ThuậnNơi có những vườn nho mọng ngọtTình quê tôi gởi khắp mọi miền”

(Ninh Thuận quê tôi)

Tác giả Minh Châu có cách viết dung dị đã liên tưởng chùm nho chín mọng như môi thơm cô gái đang độ xuân thì, cách so sánh khá thi vị làm xao xuyến lòng người:

”Nhớ chùm nho quả mọngNhư môi gái xuân thìNíu lòng bao du kháchĐến rồi chẳng muốn đi”

(Nhớ Phan Rang)

Với Kiều Đình Minh, tuy vùng đất nắng gió quê mình không có mùa đông nhưng cái nắng và gió dư dã đã làm cho hoa trái Phan Rang trở nên ngọt ngào hơn. Để rồi đôi khi đi tận phương trời nào, ta vẫn da diết nhớ quê:

“Không có mùa đông hoa trái ngọt ngào hơnCây tỏi, cây hành cũng cay nồng sắc lửaQuả mận chín hồng, chùm nho mọng đỏCứ đong đưa mời mọc mắt ta nhìn”

(Thị xã mình không có mùa đông)

Lê Tấn Nghĩa có cái nhìn phơi phới về những vườn nho chín đỏ căng đầy nhịp sống mùa xuân tuổi hai mươi:

“Em đã có mùa xuân hai mươiVườn nho chín đỏ gió reo vuiEm giấu tình ai trong mắt thắmTròn căng nhựa sống nhịp xuân tươi”

(Phan Rang chiều vào xuân)

Tác giả Ánh Hồng cảm thông chia sẻ sâu sắc với những người nông dân lam lũ một nắng hai sương trên cánh đồng dâng cho đời mùa trái ngọt đưa hương:

“Vườn nho chín mọng đưa hươngMồ hôi em lẫn giọt sương cuối mùa”

(Quê em)

Vi Thị Phan có cảm nhận trong trẻo ân tình khi viết về cánh đồng nho Phan Rang. Chị đã có những nét chấm phá khá duyên dáng tạo thành bức tranh quê tươi thắm sắc màu:

“Hàng hàng nụ cười lung linh trong nắngĐỏ màu môi em chín mọng trĩu cànhĐen màu mắt em rợp giàn sai quảNho vào mùa, tít tắp một màu xanh”

(Phan Rang)

Một vài trích dẫn nêu trên của chúng tôi mang tính khơi gợi giữa rất nhiều bài thơ viết về nho Phan Rang. Nắng sớm tháng bảy lung linh trên những vườn nho căng đầy trái ngọt. Những người nông dân vẫn cần mẫn một nắng hai sương với ước vọng làm nên mùa vàng no ấm. Viết về nho Phan Rang là đề tài văn học luôn mới mẻ đầy sức hấp dẫn đối với những người cầm bút. Lễ hội Nho và Vang Quốc tế- Ninh Thuận 2014 đang đến rất gần tạo tâm lý phấn khởi cho văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm mới đặc sắc về cây nho quê hương.

Phượng Vĩ

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhà Thơ Đài Trang Viết Về Quê Hương Vĩnh Phúc trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!