Xu Hướng 2/2023 # Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười # Top 3 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lê Thị Thủy

Website Luyện thi online miễn phí,hệ thống luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí,trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí

Truyện cười dân gian, Các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện cười, Nghệ thuật của truyện cười, Khái niệm truyện cười lớp 10, Truyện cười dân gian về thầy đồ, Truyện cười trào phúng, Đặc trưng của truyện cười, Truyện cười khôi hài.

Truyện cười dân gian, Các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện cười, Nghệ thuật của truyện cười, Khái niệm truyện cười lớp 10, Truyện cười dân gian về thầy đồ, Truyện cười trào phúng, Đặc trưng của truyện cười, Truyện cười khôi hàiTam đại con gà là truyện gì, Soạn văn Nhưng nó phải bằng hai mày, Tam đại con gà siêu ngắn, Giáo án Tam đại con gà, Tam đại con gà tóm tắt, Bộ cục Tam đại con gà, Kịch bản Tam đại con gà, Tam đại con gà violet

Thể loại Truyện cười

Thể loại Truyện cười là gì?

– Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Đặc trưng của truyện cười:

    + Truyện cười luôn có yếu tố gây cười

    + Truyện cười xây dựng các tình huống đối thoại ngắn gọn.

– Phân loại truyện cười:

    + Truyện khôi hài: chủ yếu nhằm mục đích giải trí song vẫn có ý nghĩa giáo dục

    + Truyện trào phúng: chủ yếu nhằm mục đích phê phán, đối tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam xưa và các thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân.

I. Đôi nét về tác phẩm Tam đại con gà

1. Xuất xứ

    Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát.

2. Bố cục (3 phần)

– Phần 1 (từ đầu đến “mời đón về dạy trẻ”): Giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên

– Phần 2 (còn lại): Các tình huống mâu thuẫn gây cười

3. Tóm tắt

    Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ. Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài âm dương. Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên. Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà.

4. Giá trị nội dung

– Từ tình huống mẫu thuẫn trái tự nhiên, truyện bật lên tiếng cười phê phán thói dấu dốt – một thói xấu trong nội bộ nhân dân

– Qua đó, khuyên mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi

5. Giá trị nghệ thuật

– Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí.

– Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp.

– Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười.

II. Dàn ý phân tích Tam đại con gà

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Giới thiệu khái quát về truyện Tam đại con gà: Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát.

II. Thân bài:

1. Cách giới thiệu nhân vật và mâu thuẫn trái tự nhiên:

– Giới thiệu nhân vật chính – anh học trò dốt nát nhưng thích khoe chữ, “đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt”

– Có người mời anh ta về dạy trẻ

        → Mâu thuẫn trái tự nhiên: dốt nhưng dấu dốt, thích khoe chữ.

2. Tình huống mâu thuẫn gây cười

– Tình huống 1:

    + Gặp chữ “kê”, thấy mặt chữ nhiều, không biết chữ gì, học trò hỏi gấp, thầy nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”

    + Sợ sai, bảo học trò đọc khẽ

    + Thầy khấn thầm xin ba đài âm ở bàn thờ thổ công

    + Thổ công cho ba đài âm, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau ngồi bệ vệ trên giường, bảo trẻ đọc cho to.

        → Thầy đồ vừa dốt vừa mê tín, lừa bịp trẻ con. Tiếng cười bật ra từ chính sự ngu dốt, sĩ diện, thích khoe khoang của thầy đồ. Đồng thời, qua đó phên phán sự dốt nát của thầy đồ.

– Tình huống 2:

    + Khi bị bố học trò phát hiện, chất vấn, suy nghĩ của thầy đồ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”

        → Lời tự nhủ hài hước, biết mình dốt nhưng không chịu thừa nhận.

    + Lời ngụy biện của thầy: Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà, “Dù dì là chị con công, con công là ông con gà” để gỡ bí, lí sự cùn.

        → Tiếng cười bật lên từ sự vô lí, láu cá của thầy đồ.

       

Thầy đồ bộc lộ rõ bản chất là một kẻ dốt nát nhưng thích giấu dốt, thích khoe khoang, láu cá, sĩ diện.

3. Ý nghĩa tiếng cười

– Phê phán những kẻ dốt nát nhưng lại dấu dốt, thích khoe khoang

– Phê phán thực trạng xã hội: dốt nát lại làm thầy

– Khuyên nhủ mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi

4. Nghệ thuật

– Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí.

– Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp.

– Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười.

III. Kết bài

– Khát quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật

– Bài học rút ra cho bản thân: Truyện vừa đem lại tiếng cười giải trí cho con người, đồng thời mang lại bài học sâu sắc, mỗi người phải không ngừng học hỏi để nâng cao hiểu biết của mình, không được dấu dốt, sĩ diện.

I. Đôi nét về tác phẩm Nhưng nó phải bằng hai mày

1. Xuất xứ

    Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng.

2. Tóm tắt

    Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải lót trước cho thày lí năm đồng, Ngô biện những mười đồng. Khi xử kiện, Cải bị phạt chịu roi. Nó vội xoè năm ngón tay cho ra hiệu cho thày lí rằng mình là phải. Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói: “…Nhưng… nó lại phải… bằng hai mày!”.

3. Giá trị nội dung

    Truyện phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam. Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng

4. Giá trị nghệ thuật

– Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ

– Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý

– Sử dụng cách chơi chữ

– Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu.

II. Dàn ý phân tích Nhưng nó phải bằng hai mày

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán.

– Giới thiệu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng.

II. Thân bài

1. Trước khi xử kiện

– Viên lí trưởng nổi tiếng là người xử kiện giỏi

– Cải và Ngô đánh nhau, mang nhau đi kiện, Cải lót trước cho thầy lí năm đồng, Ngô biện chè lá những mười đồng.

2. Trong lúc xử kiện

– Lí trưởng không cần điều tra, không cần xét hỏi mà ngay lập tức phán xét: “Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi”

        → Kết quả xử kiện của lí trưởng phụ thuộc vào số tiền đút lót của Cải và Ngô, ai đút nhiều hơn thì người ấy sẽ là người thắng kiện

– Cải: xòe bàn tay phải năm ngón

        → Ý nói con đã đút cho thầy năm đồng, thầy phải xử con thắng kiện mới đúng

        → Phê phán hành động đút lót của Cải. Đồng thời, tiếng cười cũng bật lên đầy chua chát khi Cải vừa mất tiền lại vừa phải chịu phạt.

– Lí trưởng:

    + Hành động: Xòe năm ngón tay trái, úp lên năm ngón tay phải trước mặt

    + Lời nói: “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày”

        → Câu nói và hành động của viên lí trưởng ngầm ý nó đút bằng hai mày nên xử nó thắng là điều tất nhiên. Tiếng cười bật lên từ chính hành động và lời nói của viên lí trưởng. Câu nói đã sử dụng hình thức chơi chữ với chữ “phải”.

       

Phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam. Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng.

3. Nghệ thuật

– Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ

– Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý

– Sử dụng cách chơi chữ

– Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện

 

Một Số Thể Loại Văn Học Thơ Truyện Giáo Án Kịch Nghị Luận Hay Nhất

một số thể loại văn học thơ truyện giáo án giúp học sinh cảm nhận được văn bản kịch, nghị luận căn cứ vào những hiểu biết về đặc điểm thể loại để viết bài nghị luận văn học.

II. Hình thức dạy học : DH trên lớp.

III. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh (một số thể loại văn học thơ truyện giáo án)

– Phương tiện, thiết bị:

+ SGK, SGV, Tư liệu Ngữ Văn 11, thiết kế bài học.

+ Máy tính, máy chiếu, loa…

2. Học sinh: Sách giáo khoa, bài soạn.

Một số thể loại văn học : Kịch, Nghị luận

1. Kiến thức :

a/ Nhận biết: Nêu được khái niệm về kịch, nghị luận

b/ Thông hiểu: Hiểu được một số thể loại văn học kịch, nghị luận;

c/Vận dụng thấp: Cảm nhận được văn bản kịch, nghị luận căn cứ vào những hiểu biết về đặc điểm thể loại.

d/Vận dụng cao:- Vận dụng hiểu biết về kịch, nghị luận để viết bài văn nghị luận văn học theo đặc trưng thể loại;

2. Kĩ năng :

a/ Biết làm: bài đọc hiểu về lí luận văn học;

b/ Thông thạo: sử dụng tiếng Việt khi trình bày một vấn đề mang tính chất lí luận văn học;

3.Thái độ : (một số thể loại văn học thơ truyện giáo án)

a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản lí luận văn học;

b/ Hình thành tính cách: tự tin khi trình bày kiến thức về lí luận văn học;

c/Hình thành nhân cách: có tình yêu văn học, hiểu biết về đặc trưng thể loại;

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về thể loại kịch, nghị luận;

– Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm sự khác nhau giữa thể loại kịch, nghị luận;

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC BÀI HỌC

Hoạt động của Thầy và trò

Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt, năng lực cần phát triển

– GV giao nhiệm vụ: Kể tên tác phẩm kịch, văn nghị luận đã học ở chương trình Ngữ Văn 11? – HS thực hiện nhiệm vụ: – HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ: Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng được xếp vào một thể loại nhất định. Tìm hiểu thể loại sẽ giúp ta hiểu rõ hơn đặc điểm hình thức tổ chức của tác phẩm. Ở HKI, chúng ta đã tìm hiểu Truyện và Thơ.Hôm nay, chúng ta hãy tìm hiểu hai thể loại nữa, đó là Kịch và nghị luận;

– Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học. – Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ. – Có thái độ tích cực, hứng thú.

2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC(70 phút)

* Thao tác 1 :Khái niệm: GV hỏi: -Nội dung kịch bắt nguồn từ đâu? -Sự thât cuộc sống – con người trong kịch có gì đặc biệt? -Hành động kịch có đặc điểm gì? Ví dụ. -Nhân vật kịch có đặc điểm gì? Ví dụ. -Ngôn ngữ kịch có mấy loại? Ví dụ. -Nhìn chung, ngôn ngữ kịch phải đảm bảo những yêu cầu gì? Ví dụ. -Những từ, câu, đoạn in chữ nghiêng, hoặc trong dấu (…) nhằm mục đích gì? GV bổ sung: Xung đột bên ngoài, giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với gia đình, dòng họ, xã hội, thời đại…(dẫn chứng Rô-mê-ô và Giu-li-ét). Xung đột bên trong – xung đột nội tâm trong tâm trạng, tâm lí, tình cảm, cảm xúc của nhân vật (dẫn chứng: tâm trạng Vũ Như Tô…). HS lần lượt theo SGK để trả lời và phân tích ví dụ trong các đoạn kịch đã học. – Kịch có các đặc trưng + Chọn những xung đột trong đời sống làm đối tượng miêu tả. + Những vấn đề thuộc bản chất cuộc sống được dồn nén quy tụ. + Xung đột kịch được cụ thể hóa bằng hành động kịch. Đó là tổ chức cốt truyện, nhân vật, tình tiết, biến cố. Nhân vật chính bộc lộ tính cách. + Những nhân vật được xây dựng bằng ngôn ngữ. Có 3 loại ngôn ngữ: đối thoại, độc thoại, đàm thoại. + Ngôn ngữ kịch mang tính hành động và khẩu ngữ cao. GV bổ sung: bi kịch: xung đột giữa cái mới – cũ, cao cả – thấp hèn; kết thúc cái mới, cái đẹp, cao cả tạm thời thất bại, kết thúc bi thảm (ví dụ: Hăm-lét); hài kịch: dùng tiếng cười hài hước châm biếm để xây dựng và kết thúc xung đột (ví dụ: Trưởng giả học làm sang; Nghêu, Sò, Ôc, Hến); chính kịch: phản ánh xung đột trong cuộc sống hằng ngày buồn vui lẫn lộn; ví dụ: Tôi và chúng ta; kịch lịch sử: lấy đề tài và xung đột trong lịch sử (ví dụ: Bắc Sơn). GV hỏi: Ngôn ngữ trong kịch có những loại nào và có gì khác biêt ngôn ngữ trong truyên, thơ? * Thao tác 2 :Yêu cầu về đọc kịch bản văn học – Nêu những yêu cầu cơ bản khi đọc kịch bản văn học?

I/Kịch: 1. Khái niệm: a/Khái niệm: (SGK) b/Đặc trưng của nghệ thuật kịch: – Xung đột và cách giải quyết xung đột kịch: + Đối tượng mô tả của kịch là những xung đột trong đời sống; ở đó, những vấn đề thuộc bản chất của hiện thực được dồn nén, quy tụ , nổi bật + Xung đột kịch được giải quyết , cụ thể hoá bằng hành động kịch àđược thực hiện bởi các nhân vật kịch. – Nhân vật kịch bộc lộ đặc điểm, tính cách của mình qua ngôn ngữ kịch (lời thoại).Có 3 loại: đối thoại; độc thoại và bàng thoại . -Ngôn ngữ kịch mang tính hành động và tính khẩu ngữ cao. c/.Phân loại: – Xét theo nội dung và ý nghĩa của xung đột à : bi kịch, hài kịch, chính kịch. -Xét theo hình thức ngôn ngữ:àkịch thơ, kịch nói, ca kịch. 2.Yêu cầu về đọc kịch bản văn học: 4 bước – Đọc kĩ lời giới thiệu, tiểu dẫn hiểu tg, tp, thời đại và vị trí đoạn trích. – Tập trung vào lời thoại và xác định mối quan hệ, hiểu đặc điểm, tính cánh nhân vật – Phân tích hành động kịchà xác định xung đột, phân tích diễn biến, kết quả các xung đột – Từ xung đột và nhân vậtà xác định Chủ đề tư tưởng + Ý nghĩa xã hội.(xung đột là cơ sở của kịch)

* Thao tác 1: Hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản GV hỏi: Nghị luận là thể văn có đặc điểm chủ yếu gì? Thế nào là vấn đề? Mục đích của văn nghị luân? Làm thế nào để đạt mục đích ấy? Các thao tác chủ yếu của văn nghị luân là gì? Ví dụ: vấn đề hút thuốc lá, tham nhũng, quyền sống con người trong Truyện Kiều, Ý nghĩa vãn chương, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta… GV hỏi: Xưa nay, người ta đã căn cứ vào đâu để phân loại văn nghị luân và phân loại như thế nào? Ví dụ. Thao tác 2: GV hỏi: Ngoài các yêu cầu chung như đối với một văn bản văn học, cần chú ý những yêu cầu đặc thù, riêng biêt gì khi đọc – hiểu văn bản nghị luận? HS nêu và diễn giải các yêu cầu chung và riêng của văn bản và văn bản nghị luận. Thao tác 4: Hướng dẫn HS tổng kết bài học

II. Văn Nghị luận: 1. Khái lược về văn nghị luận: a./ Khái niệm: Nghị luận là thể loại văn học đặc biệt, dùng lập luận; luận điểm; luận cứ, để bàn luận về một vấn đề xã hội , chính trị hay văn học nghệ thuật. b./ Đặc điểm: – Sâu sắc về tư tưởng và tình cảm – Suy nghĩ và trình bày mạch lạc, chặt chẽ – Lập luận thuyết phục. – Ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, mang tính học thuật và xã hội cao. c./ Phân loại: – Xét nội dung: Văn chính luận; Văn phê bình văn học – Theo Trung đại: Chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần… – Hiện đại: Tuyên ngôn, kêu gọi, phê bình, tranh luận… 2.Yêu cầu đọc văn nghị luận: -Tìm hiểu tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm -Chú ý đến luận đề, luận điểm, luận cứ và lập luận của bài nghị luận. – Phân tích nghệ thuật lập luận, nêu chứng cứ, dùng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ. – Khái quát giá trị tác phẩm về nội dung và hình thức; rút ra bài học và tác dụng của tp với cuộc sống.

3.LUYỆN TẬP (một số thể loại văn học thơ truyện giáo án) ( 5 phút)

Hoàn thành bảng sau Trả lời:

Nghị luận

Chiếu, biểu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, bài luận ( Chiếu dời đô, Chiếu cầu hiền, Hịch tướng sĩ, Đại Cáo bình Ngô).

4.VẬN DỤNG (một số thể loại văn học thơ truyện giáo án) ( 5 phút)

GV giao nhiệm vụ: Viết đoạn văn phân tích xung đột kịch ở đoạn trích Tình yêu và thù hận ( Sechxpia) – HS thực hiện nhiệm vụ: – HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

Thực ra trong đoạn trích không hề có xung đột giữa tình yêu và thù hận, chỉ có tình yêu vượt lên trên thù hận mà thôi. Xung đột ở đoạn trích Tình yêu và thù hận là xung đột tâm trạng. + Với Giu-li-ét * Tại sao chàng lại tên là Rô-mê-ô nhỉ? * Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi hoặc nếu không chàng hãy thề là yêu em đi. * Em không là con cháu của nhà Ca-piu-lét nữa * Chỉ có tên họ của chàng là thù địch của em thôi. Chàng ơi hãy mang tên họ khác đi. Cái tên ấy có nghĩa gì đâu. Bông hồng kia nếu chúng ta gọi bằng tên khác thì hương thơm vẫn ngọt ngào. Vậy nếu chàng Rô-mê-ô chẳng mang tên Rô-me-ô nữa thì mười phân chàng vẫn vẹn mười. Rô-mê-ô chàng ơi chàng hãy vứt bỏ tên họ của chàng đi. Chàng hãy đem tên họ ấy, nó đâu phải xương thịt của chàng đổi lấy cả em đây. * Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây. + Với Rô-mê-ô: * Ca ngợi sắc đẹp của Giu-li-ét * Sẵn sàng đổi tên họ Thể hiện sức mạnh của tình yêu

+ Vẽ đúng bản đồ tư duy + Truy cập ngữ liệu qua mạng, sách tham khảo. Căn cứ vào bài học để vận dụng làm bài.

Giáo Án Ngữ Văn 10

Họ tên : Kiều Thị Thảo Lớp: K39C Sư Phạm Ngữ Văn Mssv:135d1402170145 Tiết 40: Đọc văn NHÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm I.Mục tiêu bài học: Giúp HS: 1.Kiến thức -Cảm nhận được vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm: cuộc sống đạm bạc, nhân cách thanh cao, trí tuệ sáng suốt, uyên thâm. -Hiểu đúng quan niệm sống nhàn của NBK. 2.Kỹ năng – Biết cách đọc hiểu một bài thơ có những câu thơ ẩn ý, thâm trầm; biết cách đọc bài thơ giàu triết lý thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng việt: mộc mạc, tự nhiên mà ý vị. 3.Thái độ Yêu thơ NBK và từ đó càng thêm yêu mến, kính trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. II.Phương tiện thực hiện: Phương tiện +Giáo viên: SGK,SGV,Sách Thiết ké bài giảng Ngữ Văn 10 tập 2,giáo án,phấn +Học sinh: SGK,Vở soạn bài,vở ghi,đồ dùng học tập Phương pháp:Diễn giảng,phát vấn,đàm thoại,đặt câu hỏi III. Tiến trình dạy học. 1.Ổn định tổ chức(1p) + Vệ sinh +Trang phục +Bàn ghế +Sĩ số 2.Kiểm tra bài cũ(5p) Bài cũ: Đọc thuộc bài thơ “Cảnh ngày hè” – NT 3.Lời vào bài: Vào những năm (1438-1439)có một vị quan thời Hậu-lê do bất mãn với triều đình với thế sự mà đã cáo quan về ở ẩn.Và khi về ở ẩn Ông ấy đã tìm cho mình một lối sống rất than h cao,giản dị,đó là để tâm hồn mình hòa hợp với thiên nhiên và con người.Trong thời gian đó đã có rất nhiều những bài thơ được ra đời: Côn Sơn Ca “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu thanh mát ta ngâm thơ nhàn” Hay “Cảnh ngày hè” Và hơn 100 năm sau ở Vĩnh Bảo-Hải Phòng cũng có vị quan cáo quan về ở ẩn đó là trạng trình NBK,khi về ở ẩn NBK cũng chọn cho mình lối sống thanh tao,nhàn nhã,thế nhưng ở hai lối sống này có sự khác biệt: Với Nguyễn Trãi lối sống nhàn của ông: thân nhàn nhưng tâm không nhàn,còn với NBK ông lại cho rằng nhàn cả về tâm lẫn thể xác,không vướng bịu bất cứ điều gì.Lối sống đó đã được thể hiện rất rõ qua bài thơ “Nhàn” 4.Dạy bài mới Hoạt động của GV & HS Yêu cầu cần đạt HĐ1 Tìm hiểu tiểu dẫn. Những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của NBK? HS trả lời và gv chốt ý Khi làm quan,ông dâng sớ vạch tội và chém đầu 18 tên lộng thần.Vua không nghe ,ông bèn cáo quan về ở ẩn Khi về ở ẩn ông đã tìm cho mình lối sống khoáng đạt,hòa hợp với thiên nhiên lấy tên hiệu. Sau đó ông còn dạy học ,có rất nhiều học trò của là người nổi tiếng,đõ đạt:Nguyễn Dữ Ông không chỉ có vốn kiến thức trên các lĩnh vực chính trị,xã hội,thơ văn mà ông còn có tài đoán định tương lai,vì thế ông là người có tầm ảnh hưởng rất lớn. I. Tìm hiểu chung (7p) 1. Tác giả *Xuất thân – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), sống thế kỉ XV-XVI -Quê: Làng Trung Am,nay thuộc xã Lí Học,huyện Vĩnh Bảo,ngoại thành Hải Phòng – Năm 1535 đỗ Trạng Nguyên,làm quan dưới triều Mạc -Hiệu Bạch vân cư sĩ -Được học trò suy tôn là Tuyết Giang Phu Tử (người thầy sông Tuyết). *Con người -Học vấn uyên thâm. -Tính ngang tàng,cương trực -Vị quan thanh liêm,chính trực – Có tấm lòng ưu thời mẫn thế, yêu nước, thương dân,coi thường danh lợi 2. Sự nghiệp sáng tác *Đặc sắc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: + Mang đậm chất triết lí, giáo huấn. + Ca ngợi chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn. + Phê phán chiến tranh PK, sự mục nát của giai cấp thống trị và thói đời suy đạo. *Các tác phẩm: Bạch Vân am thi tập- gồm 700 bài thơ chữ Hán; Bạch Vân quốc ngữ thi- khoảng trên 170 bài thơ chữ Nôm. Gv hướng dẫn cách đọc với giọng thong thả, nhẹ nhàng; hóm hỉnh (câu 3-4); thanh thản, thoải mái (4 câu cuối). 3.Bài Thơ – Xuất xứ: Bài thơ Nôm số 73 thuộc tập Bạch Vân quốc ngữ thi. Nhan đề trên do người đời sau đặt. -Chủ đề: Ca ngợi chữ “nhàn”trong cuộc sống ẩn dật và khắc họa vẻ đẹp chân dung NBK -Thể loại và bố cục + Thể loại: thất ngôn bát cú Đường luật. + Bố cục: 2/2/2/2(Đề-thực-luận-kết) -Cuộc sống nhàn đã được thể hiện như thế nào trong 2 câu thơ đề?(Liệt kê gì?điệp từ?Nhịp thơ? HS suy nghĩ và trả lời II. Đọc- hiểu văn bản: Hai câu đề(7p):Giới thiệu cuộc sống Nhàn “Một mai,một cuốc,một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Câu 1: – Liệt kê dụng cụ lao động: Cày, cuốc, cần câu: Cuộc sống thuần hậu, giản dị giữa thôn quê như của một “lão nông tri điền” – Điệp từ: “Một” nhắc lại 3 lần. – Nhịp thơ: 2/2/3 đều đặn và chậm rãi thể hiện sự ung dung, thanh thản trong cuộc sống và công việc Câu2- Từ láy: “thơ thẩn”: -Cụm từ “dầu ai vui thú nào >>>>Hai câu thơ thể hiện quan niệm về cs nhàn tản, gần gũi với dân với sự ung dung, thanh thản, thư thái, hài lòng, thích thú cuộc sống thôn quê Đọc đến đây, chắc mỗi người trong chúng ta thấy thấm thía và hài lòng vì cuộc sống mình đang có. Chúng ta đang sống một cuộc sống thôn quê thanh thản, thoái mái mặc dầu không giàu sang, vương giả nhưng không kém phần thanh cao, như vậy, càng thêm yêu cuộc sống , quý trọng tác giả Nếu hai câu đề tg nêu vấn đề thì hai câu thực triển khai vấn đề, NBK đã triển khai vấn đề gì ta cùng tìm hiểu – Sức nặng của hai câu thơ rơi vào những từ ngữ nào? Dại, khôn. – Quan niệm dại, khôn được thể hiện như thế nào? Từ vốn hiểu biết về con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, em hiểu như thế nào về quan niệm dại, khôn của tác giả? – Từ sự thực về con người Nguyễn Bỉnh Khiêm- một người vừa thông tuệ vừa tỉnh táo trong thái độ xuất-xử và trong cách chọn lẽ sống, việc dùng từ “dại”, “khôn” ko mang nghĩa gốc từ điển (dại- trí tuệ thấp kém ,khôn- trí tuệ mẫn tiệp) mà là cách nói ngược nghĩa, hàm ý thâm trầm, sâu sắc. Quan niệm này còn có ý nghĩa với thời nay nữa k? 2. Hai câu thực. 6p ** Quan niệm dại, khôn: * Biện pháp đối rất chuẩn: * Biện pháp ẩn dụ: – “Nơi vắng vẻ’ + Là nơi ít người, ko có ai cầu cạnh ta và ta cũng ko cần cầu cạnh ai. + Là nơi tĩnh lặng, hoà hợp với thiên nhiên trong sạch, tâm hồn con người thư thái. Là hình ảnh ẩn dụ chỉ lối sống thanh bạch, ko màng danh lợi, hòa hợp với tự nhiên, yên ả, êm đềm. – “ Chôn lao xao” + Là nơi ồn ào. + Là nơi có cuộc sống sang trọng, quyền thế, con người sống bon chen, đua danh đoạt lợi, thủ đoạn hiểm độc. Đây là cách nói ngược, dại thực chất là khôn, còn khôn thực ra lại là dại . Đúng như ông đã nói: “ Khôn mà khôn độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn” (Thơ Nôm-94) Tìm đến nơi vắng vẻ NBK đã tìm thấy gì trong cuộc sống. Trong bài khái quát chúng ta đã học tính quy phạm của văn học trung đại, hai dòng thơ này biểu hiện như thế nào? Em hiểu gì về cuộc sống 4 mùa đó? Gv so sánh bổ sung: Cũng gói gọn bốn mùa trong 2 câu, Nguyễn Du viết: “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân” sử dụng hình ảnh ước lệ trang trọng, đài các.hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng các hình ảnh dung dị, mộc mạc, thấy gì kể vậy, đầm ấm, chân thành… Chúng ta tìm thấy mình trong hai câu thơ của NBK. 3. Hai câu luận 6p * Bức tranh tứ bình về cuộc sống 4 mùa – Thu: măng trúc – Đông: Giá đỗ – Xuân: Tắm hồ sen – Hạ: Tắm ao sự hài lòng với lối sống giản dị và thanh cao. Nguyễn Bỉnh Khiêm hòa cùng sinh hoạt của người nông dân. Ta không còn thấy một Trạng Trình, không thấy tư thế cao ngạo , chiễm trệ của một ông quan mà chỉ hiện lên ở đây một lão nông tri điền Hai câu kết tác giả nêu lên nội dung gì? – Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn điển tích về giấc mộng của Thuần Vu Phần, ý nghĩa? ” Ông tìm đến rượu, uống say để chiêm bao nhưng tìm đến “say” như vậy lại là để “tỉnh”, để bừng thức trí tuệ, khẳng định lẽ sống đẹp của mình. 4. Hai câu kết. 7p – Điển tích về Thuần Vu Phần” phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. Hãy khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ? – Từ quá trình tìm hiểu bài thơ trên, em hiểu bản chất chữ “nhàn” trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì? – Vẻ đẹp cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ trên? III. Tổng kết bài học: 7p 1.Nội dung: * Khẳng định quan niệm sống nhàn của NBK: hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi * Bài thơ dựng lên bức chân dung cuộc sống, nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm: – Vẻ đẹp cuộc sống: đạm bạc, giản dị mà thanh cao. – Vẻ đẹp nhân cách: vượt lên trên danh lợi, coi trọng lối sống thanh bạch, hòa hợp với tự nhiên, giữ gìn cốt cách thanh cao, trong sạch * Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi, quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang những yếu tố tích cực . 2. Nghệ thuật: – Ngôn ngữ: giản dị, hàm súc, giàu chất triết lí. – Cách nói đối lập, ngược nghĩa thâm trầm, giàu chất triết lí. – Bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mộc mạc , giản dị , kết hợp chất trữ tình và triết lí sâu xa , phát huy cao độ tác dụng của nghệ thuật đối trong thơ thất ngôn Đường luật. IV. Củng cố, dặn dò:

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 47: Đọc

Ký duyệt: Đọc – văn:

( Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão )

A. MỤC TIÊU BÀI HỌC:

Giúp học sinh:

– Hiểu được lí tưởng cao cả, khí phách anh hùng của tác giả – một vị tướng giỏi đời Trần – trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông

– Thấy được những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ của bài thơ

– Bồi dưỡng lòng yêu nước tự hào DT và lí tưởng sống cao đẹp

B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN

Ngày soạn: 25/11/2006 Tiết theo PPCT: 47 Ký duyệt: Đọc - văn: Tỏ lòng ( Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão ) A. Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: - Hiểu được lí tưởng cao cả, khí phách anh hùng của tác giả - một vị tướng giỏi đời Trần - trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông - Thấy được những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ của bài thơ - Bồi dưỡng lòng yêu nước tự hào DT và lí tưởng sống cao đẹp B. phương tiện thực hiện - SGK, SGV - Thiết kế bài học. C. CáCH THứC TIếN HàNH GV tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo , gợi D. tiến trình dạy học 1. Kiểm tra bài cũ: 2. Giới thiệu bài mới: VHTĐ Việt Nam luôn bám sát vận mệnh DT, thể hiện lòng yêu nước, tự hào DT. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nội dung ấy là " Thuật hoài "của Phạm Ngũ Lão Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả ( 1255 - 1320) ( HS đọc SGK) Nêu những nét chính về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm? (GVkể giai thoại Cái sọt) 2. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ II. Đọc và tìm hiểu thể thơ, giải nghĩa các từ khó ( HS đọc SGK) 1. Đọc: 2.Thể thơ: Xác định thể thơ, bố cục của bài thơ ? 3. Bố cục: III. Hiểu Văn bản: ( HS đọc lại bài thơ) 1. Hai câu đầu: Tìm những hình ảnh thể hiện khí phách anh hùng của một vị tướng và quân đội của ông? Tại sao tác giả không sử dụng đại từ nhân xưng " Tôi "? Tác dụng của ẩn chủ ngữ Giải thích cụm từ " ba quân, nuốt trôi trâu "? Biện pháp NT ? Nhận xét hai câu thơ mở đầu. Thái độ, cảm xúc của tác giả? 2. Hai câu sau ( HS đọc SGK) "Nợ công danh" là gì ?(Hiểu như thế nào về câu 3) V Hầu là ai ? Tại sao "thẹn"? ý nghĩa ? Vậy tác giả thể hiện lí tưởng, khát vọng gì? 3. Kết luận: Hãy đánh giá chung bài thơ? III. Củng cố IV. Bài tập nâng cao: Tìm hiểu lí tưởng của người xưa qua bài " Tỏ lòng "và bài " Nợ nam nhi "của Nguyễn Công Trứ. Điều chỉnh bổ sung: - Quê: Làng Phù ủng, huyện Đường Hào( Ân Thi ), tỉnh Hưng Yên. - Xuất thân: GĐ bình dân - Bản thân: + Có tài ( văn võ song toàn) + Phóng khoáng, được quân đội - Vua tin cậy + Có nhiều công lớn trong kháng chiến chống Nguyên - Mông + Làm đến chức Điện Suý thượng tướng công, phong tước quan nội hầu - Tác phẩm còn lại là 2 bài thơ " Tỏ lòng " và " Viếng thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương " - Hoàn cảnh rộng: Ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của đời Trần; khi giặc Nguyên - Mông xâm lược ( Ba lần thắng thắng NMông ) - Hoàn cảnh hẹp: Phỏng đoán T/P được viết vào cuối 1284 khi chuẩn bị cuộc k/c chống NMông lần 2 - Giọng hùng tráng, nhịp thơ 4/3, chậm rãi - Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật - Hai câu đầu: Bày tỏ niềm tự hào về quân đội của mình - trong đó có nhà thơ - Hai câu sau: Khát vọng, chí làm trai " Múa giáo non sông trải mấy thâu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu " - Cầm ngang ngọn giáo- "Hoành sóc"-: Tư thế hiên ngang lẫm liệt, vững trãi ( Múa giáo : Hành động gợi sự phô diễn ) - Bảo vệ non sông: Nhiệm vụ thiêng liêng - Non sông: Tức giang sơn tổ quốc, muôn đời - không gian rộng lớn - Mấy thu ( mấy thâu): Hoán dụ - Đã bao mùa thu, đã mấy năm - Thời gian lịch sử dài lâu. - Ba quân : Hoán dụ - Đội quân anh hùng nhà Trần, tinh thần Dân tộc - Khí thôn ngưu + Nuốt trôi trâu + Khí thế át trời cao(nuốt sao ngưu) - " Công danh nam tử..."- Công danh của đấng làm trai theo lí tưởng làm trai thời P/K + Lập công ( để lại sự nghiệp ) + Lập danh ( để lại tiếng thơm ) - Công danh trái: Nợ công danh +" Làm trai cho đáng nên trai Xuống Đông, Đông tĩnh lên Đoài, Đoài yên" + " Làm trai sống ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông " ( Nguyễn Công Trứ) Như vậy PNLão đã kết hợp yếu tố tích cực của Nho giáo với tư tưởng yêu nước truyền thống của DT để thể hiện quan niệm nhân sinh tốt đẹp. - Thẹn: Xấu hổ PNLão: Danh tướng - Thẹn với VHầu - Danh tướng đời Hán tài giỏi, trung thành - Điển cố Tình cảm mãnh liệt, tha thiết muốn vươn tới tầm cao của con người khổng lồ trong lịch sử. - Bài thơ miêu tả khí phách và hoài bão lớn của một vị tướng đời Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. - NT: Hình ảnh biểu tượng hàm súc, có ý nghĩa sâu xa, ngôn ngữ cô động, hàm súc, trang trọng. - Thấy được khí thế hào hùng của cả một thời đại và hoài bão lớn của vị tướng trẻ tuổi muốn có sự nghiệp công danh như Gia Cát Lượng để phò vua giúp nước. - Giống: Chí làm trai phải trả nợ công danh, trung quân ái quốc là lẽ sống và ước mơ lập công. - Khác: + PNLão: Nói ngắn gọn, lấy gương VH + NCTrứ : Nói cụ thể, không dựa tấm gương cổ nhân, tự tin ở tài trí của mình " Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái Cái nợ công danh là cái nợ nần Nặng nề thay đôi chữ quân thân Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ Cũng rắp điền viên vui thú vị Trót đem thân thế hẹn tang bồng Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung Hết hai chữ trung chinh báo quốc Một mình để vì dân vì nước Túi kinh luân từ trước để nghìn sau Hơn nhau một tiếng công hầu " ( Nợ nam nhi - NCTrứ)

Cập nhật thông tin chi tiết về Ngữ Văn 10 Thể Loại Truyện Cười trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!