Xu Hướng 2/2023 # Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ # Top 3 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

1.Mở bài

– Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về những người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. – Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ, phong cách sáng tác của ông.

– Bài thơ bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết của tác giả về những người lính Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, mĩ lệ. Có thể nói, tinh hoa của hồn thơ Quang Dũng được lắng đọng trong tám câu thơ miêu tả cảnh đêm liên hoan và cảnh mộng mơ trên những con sông miền Tây:

Doanh trại bừng lén hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

2. Thân bài

a. Giới thiệu

Bài thơ Tây Tiến được in trong tập thơ Mở đầu ô (xuất bản năm 1986) nhưng trước đó đã được bao thế hệ người yêu thơ truyền tay tìm đọc. Tác giả sáng tác bài thơ này từ năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh khi ông đã rời khỏi đoàn quân Tây Tiến chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác. Đơn vị quân đội Tây Tiến được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miên Tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng; chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, có nhiều học sinh, sinh viên, trong đó có Quang Dũng.  Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan và chiến đấu anh dũng. Hoạt động được hon một năm thì đon vị Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52. Lúc đầu. nhà thơ đặt tên tác phẩm là Nhớ Táy Tiến, nhung sau đó lại đổi lại là Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác dựa trên nồi nhớ, hồi ức, kỉ niệm của Quang Dũng về đơn vị cũ. Thế nên toàn bài thơ là một nỗi nhớ cồn cào, tha thiết.

Bài thơ được tác giả chia thành bốn đoạn. Đoạn một bộc lộ nỗi nhớ những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội, hoảng sựo. Đoạn hai là những ki niệm đẹp về tình quân dân trong những đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. Đoạn ba tái hiện lại chân dung người lính Tây Tiến. Đoạn bốn là lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây. Toàn bài thơ in đậm dấu ấn tài hoa. lãng mạn, phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng. Với tài năng và tâm hồn ấy, Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, mĩ lệ.

– Trong miền kí ức của Quang Dũng không chỉ có những ngày tháng gian khổ với đèo cao, mưa rừng, thú dữ, sương phủ mà còn có cả ánh sáng hội hè cùa những đêm liên hoan tưng bừng và những buôi chiều êm ả, mông lung. Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền Tây.

– Cành một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bàng những chi tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng:

Doanh trại hừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự hao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

+ Từ “”bừng lên” kết hợp với hình ảnh đẹp “”đuốc hoa” miêu tả không khí sôi nổi, cả doanh trại bừng sáng, lung linh ánh lửa đuốc khi đêm văn nghệ bắt đầu.

+ Tiếng reo “kìa em xiêm áo tự bao giờ” thể hiện sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, say mê, vui sướng của các anh lính Tây Tiến trước vẻ lộng lẫy bất ngờ của các cô gái nơi núi rừng. Các cô gái chính là trung tâm. là linh hồn của đêm hội có vẻ đẹp e thẹn, tình tứ, mềm mại. duyên dáng trong một vũ điệu đậm màu sắc xử lạ “”man điệu” đã thu hút hồn vía của các chàng trai Tây Tiến.

+ Không khí của đêm liên hoan còn ngây ngất hơn bởi tiếng khèn rạo rực, réo rắt khiến cho cả con người, cảnh vật như bốc men say, trờ nên phong phú, sinh động như muốn “”xây hồn thơ” lãng mạn. Đây cũng chính là tâm hồn hào hoa. tinh tế của Quang Dũng.

– Nếu cảnh đêm liên hoan đem đen cho người đọc không khí háo hức thì cảnh sông nước miền Tây lại gợi lên cảm giác mênh mang, mờ ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ Ngòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Những hình ảnh “chiều sương ấy”, “hồn lau”, “nẻo bến bờ”, “hoa đong đưa” kết hợp với cách hỏi “có thấy”, “có nhớ” mở ra một khung cảnh buổi chiều sương trong kí ức.

+ Sương mờ giăng mắc khắp không gian, bến bờ lặng lẽ hoang dại, trên sông xuất hiện một dáng người mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc, những bông hoa rừng đong đưa làm duyên trong dòng nước. Cảnh như có hồn, có sự thiêng liêng của núi rừng, đậm màu sắc cổ tích và huyền thoại.

– Qua những nét vẽ hư ảo trên, ta như thấy trước mắt mình một bức tranh son thuỷ hữu tình mang dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn, tài hoa, vô cùng yêu mến, gắn bó với mảnh đất miền Tây – tâm hồn Quang Dũng. Đồng thời ta cũng cảm nhận được tâm hồn rung động của các chiến sĩ Tây Tiến trước cái đẹp.

– Trong hai đoạn thơ sau, nhà thơ không miêu tả cảnh thiên nhiên nữa mà tập trung vào khắc hoạ chân dung người lính Tây Tiến và nồi nhớ miền Tây bằng những nét vẽ khoẻ khoắn, mạnh bạo, gân guốc đậm chất bi tráng.

– Tám câu thơ cùa đoạn thơ thứ hai đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình. Chất nhạc, chất hoạ. chất mơ mộng hoà quyện chặt chẽ với nhau trong đoạn thơ tạo nên một thế giới của cái đẹp.

– Từng nét vẽ của Quang Dũng đều mềm mại, tinh tế, uyển chuyển. Đây là đoạn thơ bộc lộ rõ nhất sự tài hoa. lãng mạn của Quang Dũng trong tổng thể bài thơ.

II. Phân tích bài thơ- Đò Lèn của nhà thơ Nguyễn Duy

BÀI LÀM THAM KHẢO

Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi miên man, dằng dặc; và có những tình cảm được gọi là yêu thương luôn ấm nồng sâu sắc mà thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chủng. Ta gọi chúng như là hoài niệm, là nỗi nhớ, yêu thương.

Cuộc đời người ngắn ngùi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ để mầm non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau mà sống để rồi biết bao lần lại tìm về tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một thế giới của Đò Lèn – nơi lăng kết những giá trị vĩnh hằng – bài thơ mà cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiêu suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy quen thuộc nhưng những người không biết lại dễ phân vân: cái gì là Đò Lèn? Hai tiếng ấy vô tình trở thành một khái niệm khó hình dung trong khi thực chất nó lại vô cùng giản dị. Nó không phải là con đò. là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra khi lần đầu nghe đến. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, hình thành hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa:

Thuở nhỏ tôi ra sông Na cáu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trân.

Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ. Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mải mê câu cá, có cô bé nào nũng nịu: “níu váy bà” ra chợ mua quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của nhà thơ. Ông viết nó giản dị và chân thật như vừa đem từ cuộc sống vào chứ không chi từ một nỗi nhớ thôi đâu. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn cùa chùa, …, được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa, khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Không gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, đam mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào thiên nhiên, đất trời. Được chơi đùa. được nghịch ngợm thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với không gian nhỏ bé bao quanh bởi bốn bức tường chật hẹp bây giờ. Ta có thể hình dung ra trước mắt là hình ảnh một cậu bé tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Không có quần áo đẹp, không có búp bê, siêu nhân, những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mat lạ lẫm háo hức của trẻ con khi xem phim, đọc truyện ngày trước – cái thời của bà, của ông, của bố mẹ mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm miên man, dằng dặc trôi đi:

Thuở nhỏ tôi lén chơi đền

Từ ngày ấy đến bây giờ là cả một quá trình con người lớn lên, hình thành nhận thức. Ngày còn nhỏ vô tư, không lo nghĩ:

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, âm thầm… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thể nào là nồi cơ cực, nhìn mọi việc rồi cũng sóm quên đi. Không trách được bởi lẽ trẻ con đâu thể sâu sắc như người lớn mà hoặc giả có sâu sắc thì tâm hồn đã chai sạn đi rồi đâu còn là trẻ con với nét thơ dại – cái thơ dại được ấp ủ bàng mồ hôi và nước mắt bà. Yêu thương cao thượng giúp cho tâm hồn tránh những bão dông.

Ngày còn nhỏ, yêu bà là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền ảo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần.

Bà thôi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh săc màu cổ tích, mang cháu đến với thế giới của những phép màu kì diệu: Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng từ. Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và hi vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm đến những điều như vậy, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dề nhớ và cũng dễ quên.

Lớn lên một chút cũng là lúc phải đối mặt với hiện thực, cái đói trờ thành nồi ám ảnh triền miên: cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trang, hương trầm.

Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời gian:

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm măt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! (Bếp lửa – Bằng Việt)

Nạn đói những năm 1945 như một nồi kinh hoàng rải khắp đất nước. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương. Mùi huệ trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ ngây thơ mơ về một mùi hương đã lăng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém không làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ mà ngược lại nó còn gợi lên những mơ ước, cảm tình thầm kín nhưng đáng yêu.

Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày trước? Nó có là hoài niệm thương đau, chua xót?

Bom Mĩ giội, nhà nhà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức khi mà những hình ảnh sự vật thân thuộc bị hủy hoại. Bom đạn không chỉ phá nát đất quê hương mà còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Bên cạnh không gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” lay dậy niềm xót xa. như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái băn khoăn hêt sức trẻ con lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Không còn quá ngây thơ, có lẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên cớ đằng sau nó. Nhung như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Không còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tê dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chì còn là một nắm cỏ thôi.

Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn yêu thương. Bà nuôi cháu lớn để hôm nay cháu trở về đây chững chạc, đàng hoàng. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này. bảo vệ những tuổi thơ cùa cháu ngày xưa. ờ đó có cả sự hối tiếc, yêu thương muộn màng. Đời người mấy ai mà vẹn tròn tất cả! Con sông kia cùng bên lở. bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Yêu thương đâu cần biếu hiện rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà. những vất vả hi sinh ngày xưa càng trở nên thấm thìa. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhât của tuổi thơ cháu bình yên trong khó nhọc. Mất đi không phải là kết thúc. Bà không còn – cháu lớn lên cống hiến cho đất nước, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau. giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.

Đất nước mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho người phụ nữ Việt Nam hiền hậu, tảo tần hôm sớm. Những ngày đất nước chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng:

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc  Đêm cháu về năm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. (Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)

Bà, tuổi thơ và nhũng hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên giá trị cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi khi mà hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình yêu thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: Nhân chi sơ tính bổn thiện.

Cùng với bà, quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái nghịch ngợm thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất khi thanh bình, lúc đau đớn oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng ton tại giữa tiềm thức. Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông hai bờ bồi lở, cái tên mộc mạc mà chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm yêu thương tồn tại vĩnh hàng cùng nỗi nhớ!

Giáo Án Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ Bài Thơ Hay Nhất

Giáo án Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ giúp giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu cách làm một bài văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ.

I. MỨCĐỘ CẦN ĐẠT

1.Kiến thức:

– Nhận diện được bài văn nghị luậnvề một đoạn thơ, bài thơ.

– Hiểu cách làm một bài nghị luậnvề một đoạn thơ, bài thơ.

– Nhậndiện được bài văn nghị luận về một đoạnthơ, bài thơ.

– Khái niệm, yêu cầu về nội dung, hình thức của bài nghị luận ….

2.Kỹ năng:

– Biết cách làm một bài nghị luậnvề một đoạn thơ, bài thơ.

3. Thái độ:

– Trân trọng những tác phẩm thơ ca trong văn học

II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG 1.Kiến thức

– Đặc điểm, yêu cầu đối với bàivăn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

2.Kĩ năng

– Nhận diện đư­ợc bài văn nghịluận về một đoạn thơ, bài thơ

-Tạo lập văn bản nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

3. Thái độ:nghiêm túc, cẩn thận khi viết bài

4. Kiến thức tích hợp

-Môn Văn: các văn bản

5. Định hướng phát triển phẩmchất và năng lực học sinh. a. Các phẩm chất:

– Yêu quê hương đất nước.

– Tự lập, tự tin, tự chủ.

b. Các năng lựcchung:

– Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lựctư duy; năng lực giao tiếp; năng lực sử dụng CNTT; năng lực hợp tác; năng lựcsử dụng ngôn ngữ.

c. Các năng lực chuyênbiệt:

– Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

– Năng lực cảm thụ văn học.

III. CHUẨN BỊ

1. Thầy : Nghiên cứu chuẩn kiến thức, kĩ năng, bảng phụ, phiếuhọc tập

2. Trò: Soạn bài theo hư­ớng dẫn của GV ( Soạn vào vở bài tập),sưu tầm đoạn văn

IV. TỔ CHỨC DẠY VÀ HỌC

* B­ước 1:Ổn định tổ chức ( Kiểm tra sĩ số và nội vụ)

– Mục tiêu:: KT sự chuẩnbị của HS ở nhà

– Phư­ơng án: Kiểm tra đầu giờ, hình thức GVtrực tiếp kiểm tra vở soạn.

H/ Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện? Các bướclàm bài nghị luận về tác phẩm truyện?

* B­ước 3: Tổ chức dạy và học bài mới

+ Ph­ương pháp: thuyết trình, trựcquan.

+Hình thành năng lực:Thuyết trình

HOẠT ĐỘNG 2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

+ Ph­ương pháp: Đọc, vấn đáp, thuyết trình. Quan sát, phân tích, giảithích, khái quát, vận dụng thực hành, hệ thống hóa kiến thức.

+ Kĩ thuật: Dạy học theo kĩ thuật động não và dùng phiếu học tập (Vởluyện Ngữ Văn).

+ Thời gian: Dự kiến 20-22p

+Hình thành năng lực:Giaotiếp: nghe, nói, đọc; giải quyết vấn đề,phân tích, hợp tác

+ Ph­ương pháp: Đọc, vấn đáp, tái hiện thông tin, phân tích, sosánh,.

+ Thời gian: Dự kiến 8 -12p

+ Mục tiêu: Làm được bài tập cơbản SGK

HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG * Mục tiêu:

– Học sinh vận dụng kiến thức để làm bài tập vận dụng, liênhệ thực tiễn

– Định hướng phát triển năng lực tự học, hợp tác, sáng tạo.

* Phương pháp: Nêu vấn đề, thuyết trình, giao việc

* Kỹ thuật: Động não, hợp tác

* Thời gian: 2 phút

HOẠT ĐỘNG 5: TÌM TÒI, MỞ RỘNG * Mục tiêu:

– Học sinh liên hệ thực tiễn, tìm tòi mở rộng kiến thức

– Định hướng phát triển năng lực tự học, sáng tạo

* Phương pháp: Dự án

* Kỹ thuật: Giao việc

* Thời gian: 2 phút

B­ước 4. Giao bài, h­ướng dẫn học bài và làm bài.( 2 phút)

a. Họcbài: Học thuộc phần ghi nhớ

b. Chuẩn bị bài

Làm hoàn thiện bài tập 2.

– Soạn ” Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ”.

– Yêu cầu:

+ Đọc và trả lời các câu hỏi trong sgk.

Theo chúng tôi

+ Nghiên cứu phần tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, đọc bài văn tham khảo.

Nghị Luận Về Bài Thơ Nói Với Con

Dàn ý nghị luận về bài thơ “Nói với con” của Y Phương

Giới thiệu tác phẩm cần nghị luận: bài thơ “Nói với con” của Y Phương.

Tác giả: Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc tiêu biểu. Thơ ông vừa gần gũi, giản dị vừa mang giá trị sâu sắc.

Tác phẩm: “Nói với con” là lời chia sẻ, trò chuyện của một người cha với con. Bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc miền núi.

Người cha nói cho con nghe về cội nguồn sinh dưỡng.

4 câu đầu: cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên là tình cảm gia đình:

Con lớn lên trong tình yêu thương nồng ấm của cha mẹ.

Nhịp thơ ⅔ cùng cấu trúc đối xứng: âm hưởng vui tươi, quấn quýt.

5 câu tiếp: con còn lớn lên trong không khí lao động, trong tình yêu thương của quê hương:

Niềm vui lao động, sự gắn bó của người đồng mình.

Vẻ đẹp quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn con lớn lên từng ngày.

Cha nhắc tới điểm tựa hạnh phúc: “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”.

Cha nói với con về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình

Đó là sức sống mãnh liệt và truyền thống cao đẹp của người đồng mình:

Người đồng mình: cha mẹ, quê hương.

Phẩm chất của người đồng mình được thể hiện qua lời ăn tiếng nói gần gũi, mộc mạc.

Đó là phẩm chất chung thuỷ với nơi chôn rau cắt rốn: kết hợp nhiều điệp từ, nhiều kiểu câu dài ngắn khác nhau.

Mong con sống thuỷ chung, tình nghĩa với quê mình:

Biết dùng ý chí để đối mặt với khó khăn.

Duy trì phong tục của người đồng mình: sống cao thượng, mạnh mẽ bước đi vì luôn có cha mẹ, quê hương ở bên.

Khẳng định lại giá trị bài thơ: bài thơ giúp hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn và sức sống của đồng bào miền núi, gợi nhắc về ý chí vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Đề tài tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước không hề mới lạ. Nó đã được rất nhiều nhà văn, nhà thơ lựa chọn cho những sáng tác của mình. Nhưng Y Phương lại đem một cách tiếp cận hoàn toàn mới lạ cho đề tài này. Bài thơ “Nói với con” chính là lời của người cha nói với con, mang đậm bản sắc dân tộc, nhắc nhở con về những truyền thống tốt đẹp của đồng bào cũng như dặn con vững tin bước tiếp tới tương lai. Bằng tình cảm chân thành, xuất phát từ trái tim mình, Y Phương đã thật thành công trong việc thể hiện tình cảm thiêng liêng của cha với con, với quê hương xứ mình. Áng thơ ấy mở ra cho người đọc những cảm xúc thật sâu lắng…

Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc tiêu biểu. Thơ ông vừa gần gũi, giản dị vừa mang giá trị sâu sắc. Tác phẩm “Nói với con” là lời chia sẻ, trò chuyện của một người cha với con. Bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc miền núi, gợi nhắc cho người đọc trách nhiệm của người làm con. Qua đó, ta có thể thấy mong ước của một người cha đối với con thật nồng ấm và giản dị.

Mở đầu bài thơ, người cha đã nói với con về cội nguồn sinh dưỡng. Những hình ảnh gia đình đầm ấm, quấn quýt dần hiện ra:

“Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”

Cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên là tình cảm gia đình. Cách diễn đạt thật độc đáo cho thấy tình yêu thương của cha mẹ với con. Con được lớn lên từng ngày trong sự chở che ấy. Nhịp thơ ⅔ cùng cấu trúc đối xứng càng tạo nên âm hưởng vui tươi, tràn đầy hạnh phúc của gia đình. Người ta nói nhà là nơi nuôi dưỡng tốt nhất cho tâm hồn cũng bởi lẽ đó. Không khí gia đình ấm áp chính là nguồn sữa mát lành nhất cho sự phát triển của con. Cha nhắc nhớ con về cội nguồn sinh dưỡng, về sự đón nhận của mẹ cha với mỗi bước đi của con đầu đời của con. Từ tình cảm gia đình ấy, cha nói với con rằng con còn lớn lên trong không khí lao động, trong tình yêu thương của quê hương:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng Cha mẹ nhớ mãi về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trong đời”.

Một loạt các từ ngữ giàu sắc thái biểu hiện được sử dụng: “cài nan hoa”, “ken câu hát”,… khắc họa rõ nét cuộc sống người đồng bào dân tộc miền núi. Niềm vui lao động, sự gắn bó của người đồng mình cũng từ đó mà hiển hiện trên trang thơ. Thiên nhiên với những ghềnh thác, núi rừng,… cũng là những bàn tay êm ái nuôi dưỡng con người cả về lối sống lẫn tâm hồn. Vẻ đẹp ấy của quê hương đã nuôi dưỡng con lớn lên từng ngày. Cách nói “người đồng mình” càng tạo cảm giác thân thiết, gắn bó tới độc giả. Không chỉ vậy, cha còn nhắc tới điểm tựa hạnh phúc: “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”. Y Phương từng chia sẻ rằng khi con người sống gắn bó với lao động, với quê hương nghĩa tình thì họ sẽ dễ dàng tìm được hạnh phúc của mình. Tình yêu của cha mẹ, tình cảm gia đình, rộng ra là tình thương quê hương đang từng ngày hội tụ vào trong tâm hồn con. Quê hương là nơi có rất nhiều văn hoá nghĩa tình, cha không bao giờ muốn con quên điều đó.

Từ việc nhắc lại cội nguồn sinh dưỡng, người cha lại tiếp tục nói với con về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Người đồng mình có những đức tính cao đẹp mà con cần phát huy và trân trọng:

” Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc.”

Đó không chỉ là sức sống mãnh liệt mà còn chính là truyền thống cao đẹp của người đồng mình. Nếu khổ thơ đầu Y Phương dùng “yêu lắm con ơi” thể hiện tình cảm chân thành, tha thiết thì ở đây lại là “thương lắm con ơi”. Tình thương đến đây đã bao gồm tình yêu, nó không chỉ xuất phát từ trái tim nữa, nó còn đến từ sự đồng cảm, chia sẻ tự đáy lòng. Vậy nên “người đồng mình” – những người cùng nguồn cội – đều cùng mang phẩm chất cao đẹp, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Phẩm chất ấy được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hàng ngày gần gũi, giản dị; qua sức sống mạnh mẽ, kiên cường. Hình ảnh đối lập “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn” nhấn mạnh những khó khăn mà người đồng mình gặp phải. Nhưng trong trường hợp nào, họ cũng vững vàng đối mặt, vững vàng tiến lên, chung thuỷ với nơi chôn rau cắt rốn của mình. Niềm tự hào ấy gắn với những phẩm chất mà cha muốn truyền cho con: “Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc”. Cha mong con biết chấp nhận những khó khăn, thử thách và vượt qua bằng niềm tin, ý chí tất thắng. Câu thơ dung dị, mộc mạc nhưng lại càng làm nổi thêm chất quật cường của những con người vùng núi…

Giọng tâm tình ngọt ngào đến đây chuyển thành giọng triết lí sâu sắc:

“Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.”

Ngoại hình của người đồng mình có “thô sơ” đến đâu thì tâm hồn vẫn đáng quý, đáng trọng. Họ giàu lòng tự trọng, ý chí, giàu niềm tin để rồi xây dựng quê hương trên nền tảng văn hoá của dân tộc. Thật vậy, chính những phong tục ngàn đời kia đều được vun đắp bằng đôi bàn tay lao động miệt mài của người đồng mình. Việc nhắc đi nhắc lại cụm từ “người đồng mình” chắc hẳn Y Phương muốn khơi lên trong con tình yêu quê hương, bản làng để từ đó khẳng định khát vọng, ý chí của người đồng mình và mong con giữ vững thái độ sống tích cực ấy.

Ước mong lớn nhất của người cha được đúc kết trong những vần thơ cuối cùng:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.”

Từng lời thủ thỉ tâm tình thấm vào lòng người đọc, người nghe. Cha mong con sống thuỷ chung, tình nghĩa với quê mình. Con lớn lên, nhất định phải giống như sông, như suối của người đồng mình: mạnh mẽ mà kiên cường. Con cần biết dùng ý chí để đối mặt với khó khăn; cần biết duy trì phong tục của người đồng mình: sống cao thượng, mạnh mẽ bước đi vì luôn có cha mẹ, quê hương ở bên. Thì ra, cha mẹ vẫn không ngừng hi vọng, kì vọng vào con cái. Đây chắc hẳn không phải tiếng lòng của một người mà của muôn người cha:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Chỉ khi con giữ vững niềm tin vào quê hương, lấy truyền thống quê hương làm động lực cố gắng thì lúc ấy, con mới nắm chắc được chìa khoá của thành công. Và tin chắc rằng, con sẽ lại quay về “tự đục đá kê cao quê hương”, làm giàu đẹp thêm cho quê hương, bản làng mình. Bài thơ kết lại bằng hai tiếng “Nghe con” thật bồi hồi, xao xuyến. Dư âm lời dặn của cha cứ thế vang mãi, ngân mãi…

Bài học của cha muôn thuở đều là những bài học giá trị, nâng đỡ con trên mọi bước đường đời sau này. Y Phương mượn lời cha, giúp con hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn và sức sống của đồng bào mình, gợi nhắc con về ý chí vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Bình Luận Facebook

.

Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Từ Ấy

Nghị luận xã hội về bài thơ Từ ấy-Tố Hữu

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

(“Từ ấy”- Tố Hữu, Ngữ văn 11, tập II)

Cảm nhận của anh (chị) khổ thơ trên, từ đó bàn về lý tưởng sống của thanh niên hiện nay

Định hướng: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời bài thơ

-Trích dẫn khổ thơ

-Giới thiệu vấn đề nghị luận: lý tưởng sống của thanh niên hiện nay

Thân bài:

1. Phân tích ý nghĩa khổ thơ

– Những nhận thức mới về lẽ sống: Tôi buộc lòng tôi với mọi người (chú ý phân tích từ buộc )

Ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ muốn vượt qua giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hoà với mọi người, đồng cảm sâu xa với từng hoàn cảnh con người cụ thể.

– Quan niệm mới về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người.Điệp từ “để” tạo nhịp thơ dồn dập, thôi thúc, hăm hở. Sự đồng cảm, chia sẻ, yêu thương – tình hữu ái giai cấp Sức mạnh của tình đoàn kết

– Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, ở đấy nhà thơ đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới bằng nhận thức, bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim.

– Nhà thơ đã đứng trên quan điểm của giai cấp vô sản, nhận thức sâu sắc về mối liên hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao.

– Từ ấy rất tiêu biểu cho hồn thơ Tố Hữu: nhà thơ của lý tưởng cộng sản, của niềm vui lớn đối với cách mạng và của cảm hứng lãng mạn say sưa, sôi nổi.

(Tài liệu sưu tầm )

Qua Bài L­ưu biệt khi xuất d­ương , Phan Bội Châu, Em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của thanh niên trong thời đại ngày nay?

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!