Xu Hướng 12/2022 # Một Số Bài Thơ Tỏ Tình / 2023 # Top 21 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Một Số Bài Thơ Tỏ Tình / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Bài Thơ Tỏ Tình / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

   

Một số bài thơ tỏ tình

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:

Bạn không có quyền trả lời bài viết

Class A1 ProVip :: Giải trí :: Thơ văn online Class A1 ProVip :: Giải trí :: Thơ văn online

Chuyển đến:  

Một Số Bài Thơ Của Chế Lan Viên / 2023

Bài: Xuân Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Đem chi xuân lại gợi thêm sầu ? — Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !

Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ? Với của hoa tươi, muôn cánh rã, Về đây đem chắn nẻo xuân sang !

Ai biết hồn tôi say mộng ảo Ý thu góp lại cản tình xuân ? Có một người nghèo không biết tết Mang lì chiếc áo độ thu tàn !

Có đứa trẻ thơ không biết khóc Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran !

Chao ôi ! mong nhớ ! Ôi mong nhớ ! Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

Bài: Tiếng hát con tàu Tây bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc?Khi lòng ta đã hóa những con tàuKhi tổ quốc bốn bề lên tiếng hátTâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà NộiAnh có nghe gió ngàn đang rú gọiNgoài cửa ô? Tàu đói những vần trăng.

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹpTàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khépTâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây BắcXứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùngNơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đấtNay rạt rào đã chín trái đầu xuân.

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửaNghìn năm sau, còn đủ sức soi đường,Con đã đi nhưng con cần vượt nữaCho con về gặp lại mẹ yêu thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũCỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữaNhư chiếc nôi dừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Con nhớ anh con, người anh du kíchChiếc áo nâu anh mặc đêm công đồnChiếc áo nâu suốt một đời vá rách.Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.

Con nhớ em con,thằng em liên lạcRừng thưa em băng, rừng rậm em chờSáng bản Na,chiều em qua bản BắcMười năm tròn!chưa mất một phong thư.

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạcNăm con đau, mế thức một mùa dài.Con với mế không phải hòn máu cắtNhưng trọn đời con nhớ mế ơn nuôi.

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủNơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?Khi ta ở, chỉ là nơi đất ởKhi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rétTình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,Như xuân đến chim rừng lông trở biếcTình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịchVắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừngĐất Tây Bắc tháng ngày không có lịchBữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ,Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vộiMắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga.

Mắt ta nhớ mắt người, tai ta nhớ tiếngMùa nhân dân giăng lúa chín rì ràoRẽ người mà đi, vịn tay mà đếnMặt đất nồng nhựa nóng của cần lao.

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổTây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ,Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửaNay trở về, ta lấy lại vàng ta.

Lấy cả những cơn mơ!Ai bảo con tàu không mộng tưởng?Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng,Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uốngMặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.

Bài: Người đi tìm hình của nước Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác! Khi bờ bãi dần lui, làng xóm khuất, Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre.

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ? Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương! Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở, Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương!

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con! Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp! Một mái nhà yêu rủ bóng xuống tâm hồn.

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi Lòng ta thành con rối Cho cuộc đời giật dây!

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ Tìm đường đi cho dân tộc theo đi.

Hiểu sao hết Người đi tìm hình của Nước Không phải hình một bài thơ đã tạc nên người Một góc quê hương, nửa đời quen thuộc, Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi…

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai Thế đi đứng của toàn dân tộc Một cách vinh hoa cho hai mươi lăm triệu con người.

Có nhớ chăng, hỡi gió rét thành Ba Lê? Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi, Những đất tự do, những trời nô lệ, Những con đường cách mạng đang tìm đi.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa.

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây? Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử? Bao giờ dải Trường Sơn bừng tỉnh giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao?…

Ơi, độc lập!

Xanh biếc mấy là trời xanh Tổ quốc Khi tự do về chói ở trên đầu.

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc Sao vàng bay theo liềm búa công nông.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc: “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!” Hình của Đảng lồng trong hình của Nước. Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười,

Bác thấy:

Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt Ruộng theo trâu về lại với người cày Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, biển bạc… Không còn người bỏ xác bên đường ray.

Giặc đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân Những kẻ quê mùa đã thành trí thức Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng.

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê Thành nước Việt nhân dân trong mát suối Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói Những đời thường cũng có bóng hoa che.

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc Tuyết Matxcơva sáng ấy lạh trăm lần Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt Lênin mất rồi! Nhưng Bác chẳng dừng chân.

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai.

Bài: Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhấtKhi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc.Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cảDù mai sau đời muôn vạn lần hơn:Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ,Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoáNhững pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lờiCả dân tộc đói nghèo trong rơm rạVăn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!Có phải cha ông đến sớm chăng và cháu con thì lại muộn?Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút giây bây giờBuổi đất nước của Hùng Vương có Đảng,Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ,Thịt xương ta, giặc phơi ngoài bãi bắnLại tái sinh từ Pắc Bó, Ba Tơ…Không ai có thể ngủ yên trong đời chậtBuổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng.Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng…Ôi! Trường Sơn vĩ đại của ta ơi!Ta tựa vào ngươi, kéo pháo lên đồi,Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát,Dưới chân ta, đến đầu hàng Đờ-cát,Rồng năm móng vua quan thành bụi đất,Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tácChim cu gần, chim cu gáy xa xa…Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cắt,ĐêmKhôngấm, giọng chèo khuya khoan nhặt,Lúa thêm mùa khi lúa chín về ta.Rồi với đôi tay trắng từ Đinh, Lý, Trần, Lê…Đảng làm nên công nghiệp.Điện trời ta là sóng nước sông HồngAn Dương Vương hãy dậy cùng ta xây sắt thép,Loa thành này có đẹp mắt Người chăng?Ong bay nhà khu Tỉnh ủy Hưng YênMật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi emCây xanh ngắt đất bạc mầu Vĩnh Phúc…Ôi! Cái thuở lòng ta yêu Tổ quốcHạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên?Ôi, cái buổi sinh thành và tái tạoKhi thiếu súng và khi thì thiếu gạoNhững phù sa đẻ ra những Cà Mau thịnh vượng mai sau.Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu,Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau?Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!Ôi! Thương thay những thế kỷ vắng anh hùng,Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận,Nhà thơ sinh đồng thời với mưa phùn và những buổi hoàng hôn,Cả xứ sở trắng một màu mây trắng,Ai biết mây trên trời buồn hơn hay thơ mặt đất buồn hơn?Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn năm nào đấy nhỉ?– Cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời,Mắt được thấy dòng sông ra gặp bể,Ta với mẻ thép gang đầu là lứa trẻ sinh đôi,Nguyễn Văn Trỗi ra đi còn dạy chúng ta cười…Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ,Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũyBên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.

Bài: Vòng cườm trên cổ chim cu Con cu cườm vẫn đeo vòng cườm muôn thuởTriệu tấn bom không thể nào làm xổMột hạt cườm trên cổ chim tơMùa xuân thật bất ngờTiếng chim sau pháo cụm pháo bầy cấp tậpRừng cháy đen vẫn cành ra lộcChỗ cành xanh là chỗ chim gù.Hồn đất nước bâng khuâng theo tiếng chim dân dãNhư chửa nghe bao giờ. Mà như đãNghe rồi. Tự đâu thời xa xửa xa xưaTự sông Thương đôi dòng, Vọng phu hóa đáTiếng chim như tự buổi bình Ngô, tự thuở Hai BàTiếng chim như tình ái, như thơỞ xứ nghìn năm chiến tranh, vạn ngày trận mạcĐể yên lòng người thì con chim hátCho kẻ ra đi, cho kẻ đợi chờBom đạn ngất trời thì đã sao đâu?Trăm hạt cườm trên cổ chim không thiếu hạt cườm nào.Chim cu gáy sự vật tuần hoàn theo quy luật,Chim cu gáy thì xanh rờn cỏ mọcĐỏ trái chín cành cao cành thấpThì anh lại yêu em như buổi ban đầu.Ngày thắng trận trở về vẫn chim cu ấy gáyVòng cườm qua nghìn cơn lửa cháyTiếng gáy tưởng chừng như đã, như chưaNhư của năm nào, như của bây giờ.

Bài: Sao chiến thắng Giặc Mỹ mày đến đâyThì ta tiêu diệt ngay!Trời xanh ta nổi lửaBể xanh ta giết mày!Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt,Như mẹ cha ta, như vợ như chồngÔi Tổ quốc, nếu cần, ta chếtCho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…Hãy cứ đo bể ta bằng luật – điều quốc tếTrời xanh ta xanh bao nhiêu hải lýNhưng chớ đừng đo lòng căm giận chúng taMau hơn ba chục năm trời ta đã đổ raPhải trăm năm mới có ngày độc lậpAi đếm hết chuỗi người lên máy chém lúc hừng đông?Roi vọt Côn Lôn, ngục tù Phú QuốcMỗi trang sử đất này đều nặng máu cha ông.Hãy yêu! Hãy yêu! Hãy yêu tất cảMột chiếc cầu vừa mới bắc qua sôngMột hợp tác lúa chiêm vàng óng ảMột nhà ăn cửa sổ sơn hồng…Những nhà máy, nước sinh trong gian khổNhững lò cao như đứa trẻ đầu lòngHạnh phúc mới, có khi còn vất vảNhưng bước đầu đây là của công nôngMiền Bắc thân yêu trong tầm đạn MỹHãy yêu! Hãy yêu! Hãy yêu và bảo vệMây nước, cửa nhà, văn học, ngữ ngôn…Một đảo vắng Hòn Ngư còn chớp bểMột rặng núi Kỳ Sơn từng lắm lúc mưa nguồn.Hãy đem máu ta ra mà gìn giữNửa thân thể miền Bắc này cho ruột thịt phương nam!Trời xanh biếc của người đầu tuyến lửaNẻo Hùng Tinh từng quay hướng địa bànChớ để cho chúng đến gieo khăn tang và nạng gỗXây dựng những pháp trường và kiến thiết những tha maSúng Mỹ chĩa vào căn phòng ta ởDao cửa vào trên cổ họng ta ca.Hỡi những tấm lòng lạnh tanh máu cáNhững nhiệt tình xuống quá độ âm!Có nghe tiếng ngư lôi và cao xạ?Giặc đánh ta thì ta đánh trảGiữ hòa bình phải đâu bằng mọi giáGiá hòa bình là quật ngã bọn xâm lăng.Tàu Mỹ rụng đất này, ai có nghe chăng?Sao thức canh đêm, bể biếc reo mừng,Sóng ru đất, mấy nhắn cùng gió thổi:“Thần chiến thắng là những người áo vảiNhững binh nhất, binh nhì mười tám tuổiGiết quân thù không đợi có hạt nhân”.Giết quân thù không cần phải phân vânHỡi những con thỏ hòa bình đang tìm nơi gặm cỏSúng ta nổ cũng là vì ngươi nữaNhờ súng này mà người được yên thân.Đêm nay sao chín vàng như thóc giốngPhải đêm nay trời cũng được mùa?Trời sao cao như là chiến trậnSao sáng ngời vũ khí lòng taNghe dào dạt mười bốn triệu miền Nam đang tỉnh thứcKhông! Ba mươi triệu kim cương của thiên hà Tổ quốc!Không! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang chiếm lĩnh bầu trời!Hứa một Mùa Gặt Lớn ngày mai.

Bài: Đọc Kiều Suốt mười năm tôi biếng đọc Nguyễn DuQuân thù ném bom xuống những làng quê ta đẹp nhấtKiều bó tròn trong những gói tản cưBà ru cháu bằng ca dao sản xuất.Thấy trăng lên tôi sợ ánh trăng ngờiTôi muốn luyện lòng tôi thành lửa sắtKhông tiếc gì vầng trăng xẻ làm đôiSợ bộ đội hành quân đi gặp giặc.Mười năm qua, nay trở lại hòa bìnhTràng ly biệt lại đoàn viên trước cửa,Cảo thơm đặt trước đèn, tôi giở,Mỗi trang Kiều rung một bóng trăng thanhChạnh thương cô Kiều như đời dân tộcSắc tài sao mà lại lắm truân chuyênCành xuân phải trao tay khí nước mấtCỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên.Bỗng quý cô Kiều như đời dân tộcChữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường Chàng Kim đã đến tìm, lau giọt khócVà lò trầm đêm ấy tỏa bay hương.Tôi hiểu sao trong xà lim án chémLý Tự Trọng trưa nào còn đọc trang KiềuĐảng dạy ta không thể đưa lòng đi theo ĐảngLại xa những gì dân tộc thương yêuGiá đem lòng tôi tôi đọc Nguyễn DuCó phải đã hiểu nhân dân mình thêm chút nữa?Hiểu giá khổ đau để thêm bừng ngọn lửaNước mắt ta đem đổi máu quân thùThôi vui lên! Hạnh phúc đến đây rồiDẫu sống lại, cô Kiều không khổ nữa.Cả nhân loại sắp đến ngày hội ngộNguyễn Du viết lại Kiều chắc sẽ có văn vui.Ta cách xa nhau một tiếng nấc, một thôi đườngXưa Nguyễn khóc – thì nay ta đã hát,Những chuyện Kiều cứ để yên, không cần lau nước mắtĐời đang vui đời sẽ viết thêm chương.

Bài: Gửi Kiều cho em năm đánh Mĩ Hai trăm năm ngày kỉ niệm Nguyễn DuPháo sáng đốt tên nhà của NguyễnEm có yên tâm để đọc Truyện KiềuBuổi trăng lửa chếch soi tiền tuyến?Gió mùa thu xào xạc hoa lauAnh qua nhà của Nguyễn chả dừng lâuNhớ đến Nguyễn: ngước nhìn Hồng Lĩnh vậyBến phà Vinh bom “cắt” hai đầu…Có ngờ đâu cồn cát trắng cây xanhGặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng BìnhĐất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảyLại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh.Bốn phía ruộng đồng mái rạ bờ treTrận địa nằm man mác giữa hương quê…Thơ dân tộc lẫn màu nâu dân dãNên câu Kiều đồng vọng, họ còn nghe.Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm KiềuMẹ dám đâu quên cái thuở khổ nghèoNhà ai đó lẩy Kiều, câu được, mấtMẹ nấp gốc dừa, nước mắt tràn theo“Thuyền ai thấp thoáng”… Đất trời quê taNhật Lệ sông dài, đò mẹ lại quaCâu thơ Nguyễn cũng góp phần chống MĩMột mái chèo trong lửa đạn xông pha.Hai trăm năm… ờ nhỉ… hai trăm nămThuở vui buồn… Kiều sống giữa lòng dânXưa tiếng võng ru hời đêm lạnh giáNay cỏ mềm xanh nõn tận trời xuân.Đất nước mình còn nghèo lắm, hỡi em yêuCho đến giọt lệ cha ông cũng còn có ích với ta nhiều…Dẫu súng đạn ngặng đường ra hỏa tuyếnĐi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo.

Bài: Nhớ Em Nơi Huyện Nhỏem đi về Kiến Xươngmùa này mưa bão lắmphòng anh mờ hơi sươngnhớ em nhu nhớ nắng

chiều nay ốm một mìnhvắng em ngồi bên cạnhngọn gío đùa trêu anhcửa khép rồi vẫn đánh

đường xa trăm cây sốngỡ có em về đóđắp chăn dày cho anhvà đứng nhìn anh ngủ

rồi lại đi Thái Bìnhvề Kiến Xương huyện nhỏđể lại trời bên cửamột màu xanh xanh xanh

(Hoa Ngày Thường-Chim Bào Bão)

Bài: Những Sợi Tơ Lòng Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa ! Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi !

Quả đất chuyển đây lòng tôi rung động Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô ! Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ !

Lửa hè đến ! Nỗi căm hờn vang dậy ! Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ ! Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư !

Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc ! Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian ! Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt ! Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn !

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa ! Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo !

Bài: Tình Ca Ban Mai Em đi , như chiều điGọi chim vườn bay hết

Em về tựa mai vềRừng non xanh lộc biếc

Em ở, trời trưa ởNắng sáng màu xanh tre

Tình em như sao khuyaRải hạt vàng chi chít

Sợ gì chim bay điMang bóng chiều đi hết

Tình ta như lộc biếcGọi ban mai lại về

Dù nắng trưa không ởTa vẫn còn sao khuya

Hạnh phúc trên đầu taMọc sao vàng chi chít

Mai, hoa em lại về…

(Ánh Sáng Và Phù Sa)

I Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát Có cánh cò đang bay: “Con cò bay la Con cò bay lả Con cò Cổng Phủ, Con cò Đồng Đăng…” Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn, Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ. “Con cò ăn đêm, Con cò xa tổ, Cò gặp cành mềm, Cò sợ xáo măng…” Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ! Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng! Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân, Con chưa biết con cò, con vạc, Con chưa biết những cành mềm mẹ hát, Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.

II Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên! Cho cò trắng đến làm quen, Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ Con ngủ yên thì cò cũng ngủ, Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi. Mai khôn lớn, con theo cò đi học, Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân. Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì? Con làm thi sĩ! Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn…

III Dù ở gần con, Dù ở xa con, Lên rừng xuống bể, Cò sẽ tìm con, Cò mãi yêu con. Con dù lớn vẫn là con của mẹ, Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con. À ơi! Một con cò thôi, Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi. Ngủ đi! Ngủ đi! Cho cánh cò, cánh vạc, Cho cả sắc trời Đến hát Quanh nôi.

Bài: Đêm xuân sầu Trời xuân nắng cỏ cây rên xào xạcBóng đêm hôm hoảng hốt mãi không thôiGió xuân lạnh ngàn sau thời ca hátTrăng xuân sầu,sao héo cũng thôi cườiTrên đồi lạnh tháp chàm sao ủ rũHay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi?Hay lãnh đạm,Hời không về tháp cũHay xuân sang,Chiêm nữ chẳng vui cười?Bên tháp vắng còn người thi sĩ hỡiSao không lên tiếng hát đi người ơi?Mà buồn bã âu sầu trong đêm tốiNgười vẫn nằm há miệng đớp sao rơi?

Bài: Giờ báo tử Tất cả bình minh đều hứa hẹn, trừ bình minh ấy,Cái bình minh phản thùng, cái bình minh phản chủ, ác ôn!Mà thôi, đừng vội lên án hạt sương và tiếng gà kết liễu ánh sáng đóCó khi giã từ giữa khi đúng ngọ, lúc hôn hoàng.Hơn thế, anh đã vĩnh biệt từ lúc ngòi bút, trang thơ anh bất lực.Từ lúc nhựa hồn anh khô kiệt, thấy hoa mai mà không biết đấy xuân về.

Bài: Một người thường Người nông dân ấy đã bốc mộ cho hàng trăm trhương binhXác anh em và xác con mìnhXác anh em và xác con mìnhAnh xếp trên giường nhà anh như họ còn nằm ngủVợ, dâu anh thì sợNhưng anh vẫn làm nhiệm vụ.Việc ấy không để lại hào quang trên tayÁnh sáng gì trong mắtHay huân chương trên tường.Có khi bản thân anh cũng muốn quên cuộc đời chật vậtCòn ta à! Thì bận vì dạ hội, liên hoan…Tình ca, hội thảo…Bao nhiêu điều láo nháo chúng ta quênQuên rằng giờ chiến thắng mười nămAnh ta vẫn khổCon vào trường không có chỗĐến bệnh viện không tiềnRa đường không ai nhớVề làng người ta quên.

Bài: Khoảng cách Khi em xoay lưng lại với anh Hai đứa cách nhau một vòng quay trái đất Khi hai đứa mắt đã soi trong mắt Thì không gian còn khỏang cách nào đâu

Bài: Đêm tàn Ta cùng nàng nhìn nhau không tiếng nóiSợ lời thay lay đổ cả đêm thâuĐôi hơi thở tìm nhau trong bóng tốiĐể linh hồn chìm đắm bể u sầu“Chiêm nương ơi,cười lên đi em hỡi!Cho lòng anh quên một phút buồn loNhìn chi em chân trời xa vời vợiNhớ chi em sầu hận nước Chàm ta?Này,em trông một vì sao đang rụngHãy nghiên mình mà tránh đi,nghe em!Chắc có lẽ linh hồn ta lay độngKhi vội vàng trở lại nước non Chiêm”Lời chưa dứt,bóng đêm đã vụt biến!Tình chưa nồng đã sắp phải phôi phai!Trên trần gian vần ô kia đã đếnGỡ hồn nàng ra khỏi mảnh hồn ta

Bài: Đêm xuân sầu Trời xuân nắng cỏ cây rên xào xạcBóng đêm hôm hoảng hốt mãi không thôiGió xuân lạnh ngàn sau thời ca hátTrăng xuân sầu,sao héo cũng thôi cườiTrên đồi lạnh tháp chàm sao ủ rũHay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi?Hay lãnh đạm,Hời không về tháp cũHay xuân sang,Chiêm nữ chẳng vui cười?Bên tháp vắng còn người thi sĩ hỡiSao không lên tiếng hát đi người ơi?Mà buồn bã âu sầu trong đêm tốiNgười vẫn nằm há miệng đớp sao rơi?

Bài: Giếng Hằng ngày anh khoét sâu vào hang,vào giếng thẳm lòng mìnhXem cái vết thương nội tâm kia là tài sảnĐi đâu,làm cũng lắng nghe tiếng vang từ giếng,từ hang động ấyCái nỗi đau riêng anh chẳng muốn lành.Anh ăn lấy lấy sự bất lực của mình làm sức lựcĐịnh làm giàu cho cuộc đời bằng cái vốn hư không…

Bài: Điệu nhạc điên cuồng Hầu ran nóng, lửa hồng bừng cháy mắt Máu nồng tươi lay vỡ cả thành tim Ðâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát Chẳng vang lên tràn ngập suối träng êm?

Ðêm mau đây, chiếc sọ dừa ứ huyết Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh! Và rót mau trong hồn ta tê liệt Những nguồn mơ rồ dại, hỡi yêu tinh!

Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ Ta sẽ ca những giọng của Hồn Ðiên Ðể máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ Ðể trôi đi ngày tháng nặng ưu phiền!

Ðể hưởng lấy một giờ không tục lụy Ðể uống vào một phút chết say sưa! Nhạc trần gian khôn vui hồn quạnh quẽ Rượu trần gian gây nhớ vết thương xưa.

Bài: Mồ không Và xương khô, và sọ người, và thịt nát, Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh Loài người đã mang đi qua mộ khác Để lòng ta trống trải khí thiêng linh

Thôi vắng bặt từ nay bao giâu phút Mà tiếng cười ghê rợn dậy vang mồ! Mà hơi khóc rung dài dây gió lướt, Mà lời than náo động cõi Hư Vô!

Hồn ma ơi! Hồn ma ơi! Có nhớ Nơi mi hằng chôn gửi hận Trần Gian? Nơi đã khô của mi bao máu đỏ, Bao tủy nồng, nào trắng với xương tàn?

Mi có biết rồi đây trong những buổi Mà sao sa rung chuyển đáy mồ không, Mà nắng chếch huyệt sâu um cỏ dại Ta buồn thương, nhớ tiếc, với trông mong?

Hồn ma ơi! Trong những đêm u tối Mi tung mây về chân trời vòi vọi Hãy mau nghiêng cánh lại ở bên mồ Phủ lòng ta say đắm chút hương mơ!

Ở đâu rồi người nhớ mong yêu tưởng Mà phách hồn vẫn ôm ấp trong tay? Quá xa xôi phút giây chan chứa mộng! Vỡ tan rồi! cốc rượu ứa hơi say!

Nàng hỡi nàng! trên tay ta là mộ trống Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn Mà mồ không lạnh lùng sương giá đọng, Toàn khổ đau, sầu não với lo buồn!

Hãy cho ta lúc vui trên tay khác Một chút Thương an ủi tấm lòng đau Như hồn ma, trong khi về mộ khác, Còn đôi hồi dừng cánh viếng mồ sâu

Bài: Ai? Tôi! Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng Chỉ một đêm, còn sống có 30 Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó? Tôi!

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong. Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ, Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ! Ai chịu trách nhiệm vậy? Lại chính là tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời, Tôi ú ớ. Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong Mà tôi xấu hổ. Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

Bài: Hương sen Anh cho tôi làm hoa sen không, tôi trong lý lịch có bùn?Thân phạn người mà, ai chả có bùn đen?Giết chết một mùi hương, dễ thôi, cứ quậy bùn lên để giếtNhưng vượt lên bùn, sen cứ ngát hương sen.

Bài: Hoa đào nở sớm Hoa đào trước ngỏ em qua Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa Đầy vườn lộc biết cây tơ Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu

Bỗng dưng một đóa hoa đầu. Nghe như đất lạ năm nào gặp em Phải rằng xe xích thời gian Vầng dương bên ấy mọc sang bên này?

Nắng hoe, bướm trở mình bay Cành non nở vội kịp ngày chào hoa. Lòng anh tự độ em qua Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời

Bài: Những sợi tơ lòng Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa! Thu thôi sang! Đông thôi lại não lòng tôi!

Quả đất chuyển đây lòng tôi rung động Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô! Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!

Lửa hè đến ! Nỗi căm hờn vang dậy! Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ! Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!

Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc! Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian! Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt! Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn!

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa! Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!

Bài: Ngủ trong sao Ta để xiêm lên mây, rồi nhẹ bước Xuống dòng Ngân lòa chói ánh hào quang Sao tán loạn đua bơi trên mặt nước, Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng

Rồi trần truồng, ta nằm trên điện ngọc, Hai tay cuồng vơ níu áo muôn tiên Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc Hồn giạt trôi về đến nước non Chiêm

Ta gặp Nàng trên một vì sao nhỏ Ta hôn Nàng trong bóng núi mây cao Ta ôm Nàng trong những nguồn trăng đổ Ta ghì Nàng trong những suối trăng sao

Nàng không nói, không cười, không than thở Theo ta về sao Đẩu ở chân trời Trên má ta lệ Nàng đâu bỗng nhỏ Ôm má ta, Nàng sẽ bảo đôi lời.

Nhưng mà trăng! Nhưng mà sao! nhưng mà gió ! Ồn ào lên, tán loạn chạy quanh ta Phút hỗn độn qua rồi. Trời ! Đau khổ ! Bóng Chiêm nương dần khuất dưới sương sa.

Đêm hôm nay ngồi đây trên bờ bể Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ Đã trôi trong một phút vội vàng qua Ta lắng nghe những thế giới bao la Tụ họp lại trong lòng muôn hột cát, Dòng tư tưởng lần trôi trong Lầm Lạc Hồn say sưa vào khắp cõi Trời Mơ, Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô? Ai réo gọi trong muôn sao, chới với? Nàng, nàng, nàng, thôi chính nàng đương mongđợi.

Bài: Nhớ em nơi huyện nhỏ Em đi về Kiến Xương Mùa này mưa bão lắm Phòng anh mờ hơi sương Nhớ em nhu nhớ nắng

Chiều nay ốm một mình Vắng em ngồi bên cạnh Ngọn gío đùa trêu anh Cửa khép rồi vẫn đánh

Đường xa trăm cây số Ngỡ có em về đó Đắp chăn dày cho anh Và đứng nhìn anh ngủ

Rồi lại đi Thái Bình Về Kiến Xương huyện nhỏ Để lại trời bên cửa Một màu xanh xanh xanh.

Bài: Canh cá tràu Canh cá tràu mẹ thường hay nấu khếKhế trong vườn thêm một tý rau thơmỪ, thế đó mà một đời xa cách mẹBa mươi năm trở lại nhà, nước mắt xuống mâm cơm!

Bài: Chơi Ở đâu chơi chiến tranh, chơi cờ, chơi cờ người, chơi cờ giết người…Chơi những cuộc giết người cắm cờ,Chơi bi, chơi bi-a, chơi bi kịch, bi thảm…Chơi phong cảnh, chơi non bộ, chơi làm bộ…Ở đây chơi chữĐem chữ ra mà chơiChữ trá hình đang là ta nó, hoá ra mìnhChữ đa nghĩa ở bên bờ vô nghĩaĐể trò chơi ấyNhững kẻ đã sống thật, đem đời mình thậtRa mà chơi trong chữĐầu chơi, sau thậtVờ khóc cho thiên hạ khócHoá ta mình là người đau nhấtChơi cười, để cho thiên hạ cườiThiên hạ chả thèm cườiMình bày trò nên cứ phải cười liên thiêng, liên tiếp, liên hồi…Không thể ngừng chơi.

Bài này không nằm trong Di Cảo đã phát hành mà lấy từ trong “Văn học và dư luận” số tháng 8 năm 1991,NXB Văn Nghệ,thành phố Hồ Chí Minh

Bài: Chùm nhỏ thơ yêu Anh cách em như đất liền xa cách bể Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em Em thân thuộc sao thành xa lạ thế Sắp gặp em rồi, sóng lại đẩy xa thêm

Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ Một trời sao rực cháy giữa đôi ta Em nhắm mắt cho lòng anh lộng gió Cho trời sao yên rụng một đêm hoa.

Bài: Cái sọ người Này chiếc sọ người kia, mi hỡi! Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi; Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối? Mi trông mong ao ước những điều chi?

Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rợn Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi? Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?

Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió, Của người mi thi thể rữa tan rồi? Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?

Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại Muốn giết ta trong sức mạnh tay ta! Để những giọt máu đào còn đọng lại Theo hồn ta, tuôn chảy những lời thơ.

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ! Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô! Để nếm lại cả một thời xưa cũ Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!

Bài: Chia Em đi về phía ấy Anh chia cho nỗi buồn Chia cho cơn mưa nhỏ Và nắng quái chiều hôm

Một cái hôn ban sáng Thành cơn mưa buổi chiều Chia cho cơn mưa ấy Ðể xa rồi em yêu.

Tia nắng ấm gần nhau Xa nhau thành nắng quái Chia làm gì nắng ấy Ðể xa rồi em đau.

Bài: Bữa cơm thường trong bản nhỏ (Trích)

Bài: Bánh vẽ Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn Cầm lên nhấm nháp. Chả là nếu anh từ chối Chúng sẽ bảo anh phá rối Ðêm vui Bảo anh không còn có khả năng nhai Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc… Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt? Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn Như không có gì xảy ra hết Và những người khác thấy anh ngồi, Họ cũng ngồi thôi Nhai ngồm ngoàm…

Bài: Tìm đường Nửa thế kỷ tôi loay hoay Kề miệng vực Leo lên các đỉnh tinh thần Chất ngất Theo các con đường ngoắt ngoéo chữ chi Gẫy gập Mà đâu được gì? Khi tôi cưỡi trên mây Thì máu người rên dưới đất Mẹ hỏi tôi – Con lên cao mà làm chi? Mẹ ở dưới này cơ cực Về đi! Ôi! Con đường không ra đường của kẻ tìm thơ Cái thơ không ra thơ của kẻ tìm đường Đã gần hết thời gian của tôi ở trên trái đất Mà tôi chưa có thể trả lời cho mẹ Mẹ đâu biết cho rằng: Hoa tôi hái trên trời Cũng chính là nước mắt Dưới xa kia

Bài: Tình ca ban mai Em đi, như chiều đi Gọi chim vườn bay hết

Em về tựa mai về Rừng non xanh lộc biếc

Em ở, trời trưa ở Nắng sáng màu xanh tre

Tình em như sao khuya Rải hạt vàng chi chít

Sợ gì chim bay đi Mang bóng chiều đi hết

Tình ta như lộc biếc Gọi ban mai lại về

Dù nắng trưa không ở Ta vẫn còn sao khuya

Hạnh phúc trên đầu ta Mọc sao vàng chi chít

Mai, hoa em lại về…

Bài: Thu Chao ơi!Thu đã tới rồi sao?Thu trước vừa qua mới độ nào!Mới độ nào đây,hoa rạn vỡ,Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.

Cũng mới độ nào trong gió lộng,Nến lau bừng sáng núi lau xanh.Bướm vàng nhẹ nhẹ bay ngang bóngNhững khóm tre cao rũ trước thành

Thu đến đây!Chừ,mới nói răng?Chừ đây,buồn giận biết sao ngăn?Tìm cho những xánh hoa đang rụng,Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!

Trời ơi!Chán nản đương vây phủ.Ý tưởng hồn tôi giữa cõi Tang.

Bài: Trên đường về Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ Quay về xem non nước giống dân Hời

Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!

Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận, Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.

Đây, những cảnh thái bình trong Chiêm Quốc Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui

Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng, Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng, Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

Đây, trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà, Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo, Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.

Những cảnh ấy Trên Đường Về ta đã gặp Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập Nỗi buồn thương, nhớ tiếc giống dân Hời.

Bài: Trưa đơn giản Trưa quanh vườn. Và võng gió an lành Ngang phòng trưa, ru hồn nhẹ cây xanh.

Trưa quanh gốc. Và mộng hiền của bóng Bỗng run theo… lá… run theo… nhịp võng Trưa lên trời. Và xanh thẳm bầu trời, Bỗng mê ly, nằm thấy, trắng, mây trôi…

Trưa! Một ít trưa, lạc vào lăng tẩm, Nhập làm hồn những tượng xưa u thảm.

Trưa theo tàu, bước xuống những sân ga Dựng buồn lên xa gửi đến Muôn Xa. Đây trưa hiện hình trong căn trường nhỏ Đưa tay lên thoa những hàng kính vỡ.

Trưa gọi kêu, nâng ngực gió lên trời: Bên vú trái tròn, lá bỗng run môi. Tiếng ai ca, buồn theo song cửa sổ: “Nâng không gian trưa đặt giữa lòng người.”

Tìm Hiểu Một Số Mô / 2023

Truyện cổ tích là một trong những thể loại văn học dân gian quan trọng, được phổ biến rộng rãi ở tất cả các dân tộc trên thế giới.Trong truyện cổ tích Nhật Bản, người việc thể hiện một cảnh rõ nét những con người trên xứ sở anh đào phổ biến mang đậm sắc thái dân tộc Nhật Bản.

1. Mô-típ dì ghẻ – con chồng: Quan hệ giữa mẹ ghẻ – con chồng là một trong những quan hệ gia đình được phản ánh, đề cập khá nhiều trong truyện cổ tích Nhật Bản. Đây là mô-típ truyện cổ tích về nhân vật bất hạnh, của người con riêng. Dì ghẻ – con chồng là một mối quan hệ không hòa thuận và đầy mâu thuẫn. Dì ghẻ thường không thương yêu  con riêng của chồng và gây ra nhiều chuyện bất lợi cho con chồng. Mâu thuẫn này được nâng lên thành mâu thuẫn có tính xã hội, mâu thuẫn giữa thiện và ác. Cuối cùng giải quyết mâu thuẫn theo quan niệm dân gian: cái ác bị trừng trị, cái thiện được che chở, có một cuộc sống hạnh phúc. Nội dung của các truyện xoay quanh số phận của, những đứa con tội nghiệp bị mẹ ghẻ hành hạ, đối xử tàn ác không biết trông cậy vào đâu. Trong truyện Cô gái và chậu hoa, người mẹ kế với trái tim lạnh lùng, tàn nhẫn đã đuổi cô gái Chậu Hoa tội nghiệp ra khỏi nhà, đẩy cô vào cuộc sống lang thang, khốn khổ, cuối cùng sau những đớn đau, tủi cực, Chậu Hoa đã tìm được hạnh phúc bên người chồng giàu có và hết mực thương yêu cô. Trong truyện Tình nghĩa chị em thì người mẹ kế hết lần này đến lần khác tìm cách hãm hại con chồng, tội ác của dì ngày càng lớn, đến mức âm mưu giết chết Ôxuki, nhưng nhờ có đứa em tốt bụng (con riêng của người mẹ kế) mà Ôxuki đã ba lần được cứu sống, thoát khỏi bàn tay độc ác của mụ ta và may mắn được một lãnh chúa cảm thông hoàn cảnh cưu mang và sống một cuộc đời hạnh phúc. Hầu hết các truyện đều nói lên sự cay nghiệt của người mẹ ghẻ đối với con riêng của chồng.

2. Mô-típ sự kết hôn:

Đến tuổi trưởng thành, ước mơ lấy vợ lấy chồng, có được hạnh phúc lứa đôi êm ấm là khát khao muôn đời của con người và điều này được gửi gắm qua truyện cổ tích. Trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ kết hôn xuất hiện khá nhiều, đó là những cuộc hôn nhân giữa những người khác nhau về thân phận và địa vị. Một chàng trai nghèo làm nghề đốt than nhem nhuốc cưới nàng công chúa Tamatsu xinh đẹp, con gái của Thiên Hoàng (truyện Nàng công chúa Tamatsu). Chàng ăn mày trẻ tuổi Sankuke kết hôn với con gái lãnh chúa Choja (Cuộc đời một người hành khất). Một chàng trai tí hon nhưng có những hoài bão ước mơ thật lớn lao, chàng đã dũng cảm bảo vệ tiểu thư Naru khỏi nanh vuốt của con quỷ đỏ khổng lồ, kết thúc câu chuyện là lễ cưới của chàng với tiểu thư Naru – con của lãnh chúa Samurai Sanjo hùng mạnh (Isum Boshi, anh chàng Samurai tý hon). Sau bao nhiêu đớn đau, khổ cực khi bị người mẹ kế đuổi ra khỏi nhà, cô gái Chậu Hoa được cứu thoát chết bởi con trai lãnh chúa, sự chăm chỉ, dịu dàng của cô đã làm lay động trái tim chàng trai, hai người kết hôn và sống hạnh phúc mãi mãi (Cô gái và chậu hoa)…Đặc biệt trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ người lấy thần tiên rất phổ biến, đó là những cuộc hôn nhân giữa người trần gian và thần tiên (truyện Bức hình của người đẹp, Bà chúa tuyết, Urashima Taro, Hiko Boshi và Ôri Himê, Nữ thần nhà trời…). Truyện Bà chúa tuyết kể về cuộc hôn nhân giữa một chàng trai người trần với bà chúa tuyết, bà chúa tuyết băng giá, lạnh lùng đã bị sự trẻ trung của Minokichi thu hút đến mức từ bỏ tất cả để trở thành người vợ hiền của chàng. Hiko Boshi và Ôri Himê là một truyện kể về cuộc hôn nhân của người trần gian với thần tiên. Một chàng trai nghèo tên Hiko Boshi một lần đi qua hồ nước và thấy một cô gái đẹp đang tắm, chàng đã lén giấu chiếc áo thiên đình của nàng và lấy nàng làm vợ. Cuộc sống trôi đi êm ả cho đến khi Ôri Himê tìm thấy chiếc áo thiên đình của mình thì nàng bay về trời. Trong truyện cổ tích Nhật Bản chúng ta còn bắt gặp cuộc hôn nhân của chàng trai người trần với công chúa thủy cung, đó là Urasima Taro truyện cổ tích cùng tên Urasima Taro, là một chàng trai hiền lành, tốt bụng, một lần do sự tình cờ chàng đã cứu sống một con rùa thoát khỏi sự hành hạ của lũ trẻ nghịch ngợm, phần thưởng cho sự cứu mạng ấy là một cuộc sống tuyệt vời bên công chúa thủy cung. Tuy vậy, dù được sống một cuộc sống lý tưởng, vượt xa những ước mơ huyền hoặc nhất của chàng trước kia, nhưng chỉ ít lâu sau chàng bắt đầu nhớ quê hương, nhớ mẹ già và nhớ ngôi nhà nhỏ của chàng, nỗi nhớ nhung tăng theo năm tháng, và khi đứng trước hai sự lựa chọn, chàng đẽ quyết định rời bỏ cuộc sống trong mơ ấy và trở về với cuộc sống vốn có của mình.

Sở dĩ có những cuộc hôn nhân giữa những con người khác nhau về thân phận, địa vị, giữa những người trần gian và thần tiên là bởi tác giả dân gian muốn khẳng định quyền được yêu, quyền được hạnh phúc của mỗi con người. Trong tình yêu mọi đối tượng đều bình đẳng. Mô-típ  người lấy tiên còn nổi lên tình yêu đam mê đối với cuộc sống trần gian, cuộc sống của con người trần tục. Đó là mô-típ truyện đề cao cuộc sống bình dị, tuy vất vả nhưng có thực và hấp dẫn con người. Có thể nói rằng đó cũng là sự kết tinh lòng yêu đời tha thiết của con người mà tạo thành.

3. Mô-típ sự trừng phạt:

Mô-típ trừng phạt là mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích bởi qua đó dân gian thể hiện quan niệm về thiệc – ác, thể hiện khát khao được sống trong một xã hội công bằng, văn minh. Các truyện thuộc mô-típ này mang tính giáo dục cao, đem đến cho người đọc những bài học quý giá, khuyên răn con người sống ở đời phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, không nên tham lam, gian ác vì “ở hiền gặp lành”,  “hại nhân nhân hại” và “gieo gió gặp bão” …

4. Mô-típ sự tha thứ:

Nhằm làm nổi bật phẩm chất cao đẹp, lý tưởng của nhân vật chính diện, tác giả dân gian đã để cho nhân vật chính diện tha thứ cho nhân vật phản diện. Chàng câu cá Ichiemon mặc dù rất bực bội vì quỷ nước Kappa đã lén uống hết rượu của mình mà không xin phép, nhưng với tấm lòng nhân hậu và độ lượng, anh quyết định bỏ qua tội lỗi của nó (Chàng câu cá Ichiemon). Tương tự, với tấm lòng khoan dung, trước những lời cầu xin tha thứ chân thành của quỷ nước Kappa, Jutaro sau khi bắt nó hứa không hãm hại con người nữa, đã tha thứ cho nó (Thuốc mỡ của quỷ nước). Mặc dù người làm vườn tỏ ra tham lam và bất kính với mình, nhưng sư trưởng của ngôi đền vẫn tỏ ra khoan dung, độ lượng, đọc bài kinh để giải thoát cho người làm vườn khỏi sự trừng phạt (Cây anh đào của đền Ankokuji). Sau 20 năm ròng bỏ sức lực ra tìm kiếm Đức Phật sống để cầu xin sự tha thứ vì những tội lỗi mình đã gây ra trong quá khứ, khi đã già yếu và kiệt sức, Emonsaburo đã gặp được Đức Phật trong một giọng nói ấm áp, đầy tình thương. Nhà sư – Phật sống đã mang đến cho Emonsaburo đang hấp hối sự tha thứ của Đức Phật, để ông có thể nhẹ nhàng, thanh thản đi sang thế giới bên kia. Câu chuyện như muốn nói rằng: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” – mọi sự hối hận đều không bao giờ bị coi là muộn (Sự tích chùa Ishiteji). Truyện Con cáo và ông lão, cũng là một motif về sự tha thứ. Ông lão lương thiện đã khoan dung, tha chết cho tội lỗi của một con cáo, sự rộng lòng ấy đã khiến ông trở nên giàu có nhờ sự giúp đỡ của con cáo. Còn truyện Giấc mơ thì kể về sự khoan dung, độ lượng của một người vợ khi biết được chồng mình chết như thế nào từ người tình của anh, người vợ tha thứ để mong rằng người chồng của mình ở thế giới bên kia có được sự thanh thản…

Mô-típ tha thứ được người Nhật Bản sử dụng nhằm mục đích đề cao sự khoan dung, nhân ái của con người. Hướng con người tới chân-thiện-mĩ.

5. Mô-típ sự đền ơn:

Là một dân tộc có tinh thần đề cao ân nghĩa nên đây cũng là một mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật Bản. Để chuộc lại lỗi lầm của mình và để cảm tạ lòng tốt của chàng câu cá Ichiemon (đã lén uống rượu của Ichiemon và được chàng tha thứ), con quỷ nước Kappa đã giúp anh bất cứ khi nào đi câu cũng được nhiều cá như mong muốn, điều ấy giúp cuộc sống của Ichiemon ngày càng sung túc hơn (truyện Chàng câu cá Ichiemon). Để đền ơn cho sự đối xử tử tế với mình của Jinbei (điều mà trước đây chưa ai từng làm), con yêu tinh đã nhiều lần giúp chàng khỏi túng thiếu, hoạn nạn, thậm chí giúp chàng trở nên giàu có nhất, hạnh phúc nhất (Con yêu tinh mũi dài thích rượu)…Trong truyện cổ tích Nhật Bản, nhân vật mang ơn đã phải cố gắng rất nhiều và trải qua những thử thách cam go, có khi hy sinh cả mạng sống của mình để trả ơn (VD: Truyện Những con cua của đền Kanimanji, Con cáo và ông lão, Con chim sẻ bị cắt lưỡi, Chiếc nón lá tặng cho Jizo …). Để trả ơn cho sự tốt bụng của cô gái đã cứu sống mình thoát khỏi lũ trẻ nghịch ngợm, khi cô gái lâm vào tình cảnh bị nguy hiểm bởi sự đe dọa của một con rắn, những con cua đã hy sinh cả mạng sống của mình để giết chết con rắn, bảo vệ an toàn cho ân nhân của mình (Những con cua của đền Kanimanji). Một con cáo ăn trộm đậu của một ông lão, sau khi cầu xin và nhận được sự tha thứ của ông lão, con cáo đã chấp nhận hy sinh cả mạng sống của mình để giúp đỡ ông lão (Con cáo và ông lão). Một con chim sẻ bị một cành cây đè gãy cánh, có một ông lão nhân từ bắt gặp đưa chim về nhà chữa vết thương và chăm sóc cho nó bình phục. Nhớ ơn ông lão chim đã tặng cho ông nhiều của cải quý giá (Con chim sẻ bị cắt lưỡi). Để đền ơn cho đôi vợ chồng già nghèo khổ nhưng tốt bụng, luôn giúp đỡ, xẻ chia với người khác, 6 pho tượng Jizo đã đem đến cho họ những quà tặng trong năm mới, kể từ đó họ sống hạnh phúc, no đủ mãi mãi (Chiếc nón lá tặng cho Jizo)…

Có thể thấy rằng trong truyện cổ tích Nhật Bản mô-típ đền ơn rất đậm nét, sở dĩ như vậy là do nhân vật trong truyện cổ tích Nhật Bản rất trọng tín nghĩa, đã mang ơn ai thì thế nào cũng phải tìm cách trả ơn, kể cả phải đổi bằng chính tính mạng của mình.

6. Mô-típ  sự hối hận:

7. Mô-típ sự thông thái:

Người Nhật Bản rất coi trọng sự, thông thái, vì thế mô-típ ca ngợi sự thông thái xuất hiện nhiều trong truyện cổ tích Nhật Bản (VD: Hai anh em, Một cuộc thi tài, Núi của những người già, Những con Tanuki ở chùa Shojoji, Chữa bệnh tắt mắt…). Truyện Hai anh em là một truyện cổ tích điển hình đề cao giá trị của sự thông thái. Gia tài kếch xù của người cha cuối cùng không thuộc về người em mải mê buôn bán kiếm lời, mà thuộc về người anh, vì người anh sau khi lang thang tới nhiều vùng miền khác nhau của đất nước, tiêu hết số tiền mà người cha đã đưa, anh đã tiếp xúc với nhiều người và học được nhiều điều hay trong thế giới này. Anh trở thành một người khác trước với nhiều hiểu biết phong phú, nhất là sự từng trải đã khiến cho anh có khả năng làm điều tốt và tránh khỏi những điều xấu. Anh đã chứng minh được cho người cha thấy kiến thức của anh là vô giá. Và người cha đã tin tưởng, ký thác toàn bộ sản nghiệp cho anh. Sự thông thái còn được ca ngợi trong truyện Núi của những người già, một bà lão với sự thông minh, dày dạn kinh nghiệm sống đã giúp đất nước 3 lần thoát khỏi chiến tranh, đã khẳng định cho lãnh chúa biết thế nào là sự cần thiết trong học hỏi kinh nghiệm của người già, và không phải người già là vô dụng và không gánh vác được công việc. Lãnh chúa đã thức tỉnh, hiểu được giá trị của những người già, quyết định hủy bỏ điều luật tàn ác đối với người già áp dụng trước đó. Tương tự vậy, Một cuộc thi tài cũng là câu chuyện đề cao trí tuệ. Truyện khẳng định một nhà nghệ sĩ tài năng thường dùng nhiều thời gian để ngẫm nghĩ hơn là làm những công việc chân tay tầm thường. Sau cuộc thách đố để so tài cao thấp, anh thợ Seishichi sau khi đã tiêu tốn hết thời gian vào rượu chè say sưa đã dùng một mẹo nhỏ để chiến thắng anh thợ Heishiro – người mà ngày đêm dành hết thời gian và công sức của mình để hy vọng tạo ra được một kiệt tác nghệ thuật vĩ đại nhất hòng chiến thắng trong cuộc thi. Truyện Những con Tanuki ở chùa Shojoji là truyện ca ngợi sự thông minh trong xử sự của nhà sư đã quy phục được những con Tanuki chuyên bày trò phá phách chùa, đây là điều mà các nhà sư trước đó không làm được, sự ngoan cố và phá phách của chúng đã khiến họ không chịu đựng được và phải bỏ đi. Cũng xu hướng đề cao tri thức, người thầy lang thông minh trong truyện Chữa bệnh tắt mắt đã tỏ ra xuất sắc hơn người khi chỉ bằng một mẹo nhỏ chế biến thành công thuốc chữa thói hay ăn trộm của đứa con trai một bà lão – một căn bệnh lạ lùng nhất mà ông từng chứng kiến trong cuộc đời làm thấy thuốc của mình. Câu chuyện như muốn khẳng định có tri thức thì làm được tất cả, người có trí tuệ sẽ thành công trong cuộc sống, sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho dù vấn đề đó có khó đến đâu đi chăng nữa.

8. Mô-típ sự dũng cảm:

Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng kiểu nhân vật tiêu biểu, phổ biến trong truyện cổ tích Nhật là những nhân vật bình dị mà dũng cảm, mạnh mẽ và dám đương đầu. Trong truyện Kintaro, một lần vào rừng sâu gặp gấu dữ tợn – trong khi tất cả các con vật đều run lên sợ hãi – thì Kintaro đã bình tĩnh một mình giao chiến với gấu, bằng sức mạnh kỳ lạ, Kintaro đã nâng con gấu khổng lồ lên quá đầu, gấu vô vọng đầu hàng và trở thành một người bạn tốt của Kintaro; Mặc dù chỉ lớn hơn một ngón tay út, nhưng anh chàng tí hon Issum Boshi là một chàng trai có nhiều hoài bão và dũng cảm, trái tim chàng luôn hướng về mục đích trở thành một samurai vĩ đại. Tuy đã nghe nhiều tin đồn về một lũ quỷ ghê gớm thường đến vào ban đêm và bắt cóc những cô gái trẻ nhưng Issum Boshi cũng tình nguyện cùng bảy người khỏe nhất đi theo bảo vệ tiểu thư Naru khi nàng đi thăm đền Kiyomizu. Và khi đối diện trước con quỷ đỏ khổng lồ, gớm giếc với cái sừng gồ ghề, những cái vuốt dài và những cái răng nanh nhọn hoắt, trong lúc tất cả mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy thừa sống thiếu chết, thì Issum Boshi đã ở lại và bảo vệ an toàn mạng sống cho tiểu thư Naru đang sợ chết khiếp. Sự dũng cảm ấy được đền đáp bằng một lễ cưới linh đình và một cuộc sống hạnh phúc với tiểu thư Naru (Issum Boshi – anh chàng Samurai tí hon); Với lòng can đảm hơn người, chú bé Momotaro đã quyết tâm lên đường diệt bọn yêu tinh độc ác ở đảo “Yêu tinh”, chúng đã quấy phá hoành hành bấy lâu nay, gây hại và làm đảo lộn cuộc sống của con người nhưng con người không làm gì được chúng. Trên đường đi, bằng sự dũng cảm, mạnh mẽ, tự tin của mình, chú bé đã thu phục được một con chó hoang, một con khỉ và một con đại bàng cùng nhập cuộc. Họ đã hợp sức đánh bại lũ quỷ, khiến cho lũ quỷ hoàn toàn đầu hàng và hết sức cảm phục sức mạnh vĩ đại của họ (Chú bé trái đào Momotaro).

9. Mô-típ sự khỏe mạnh:

Nhân vật được mô tả như những con người có sức khỏe phi thường cũng là mô-típ dễ bắt gặp trong truyện cổ tích Nhật Bản. Trong truyện Kintaro, Kintaro được mô tả như sau: “Ngay khi còn ẵm ngửa, nó đã khỏe không thể tưởng tượng được. Khi đứa bé biết bò, nó đã thật sự có sức khỏe của một người đàn ông trưởng thành”. Cậu bé Kintaro thường chơi và đua tài với các bạn bè thú rừng, “thỉnh thoảng chúng đấu vật, nhưng tất nhiên là Kitaro luôn luôn chiến thắng”. “Khi mùa đông đến, tất cả các con vật đều chui vào hang và run cầm cập. Nhưng thời tiết băng giá dường như không ảnh hưởng tới thân thể Kintaro. Chú có thể chạy băng qua rừng hoặc té nước thỏa thích và vui vẻ ở sông. Trong những cơn bão tuyết mùa đông, chú có thể đứng ngoài trời cả đêm để giữ cho cái nhà của mẹ chú khỏi bay đi”. Và chỉ bằng sức mình, cậu bé Kintaro đã nhổ một cây cổ thụ bắc ngang qua hẻm núi tạo thành một cái cầu hoàn hảo. Gặp gấu khổng lồ, hung dữ, Kintaro đã dũng cảm giao chiến và “với sức mạnh kỳ lạ, nó nâng con vật khổng lồ lên quá đầu. Con gấu cào chân một cách vô vọng ở trên không”. Hành động của Kintaro khiến cho các bác thợ săn và những người hái củi từ mấy dặm xung quanh trầm trồ, thán phục, trở về làng với câu chuyện không thể tin được mà họ vừa chứng kiến: “Một thằng nhóc mặc một chiếc áo đỏ thêu vàng, với chiếc rìu trên vai, đã giơ cao một con gấu khổng lồ lên khỏi mặt đất và bắt nó phải hàng phục”. Kintaro đã lớn lên “cao lớn và khỏe mạnh không ai sánh nổi. Khi chú trở thành một chàng trai thật sự, chú đã nổi danh vĩnh viễn, trở thành một Samurai dũng cảm và vô địch”.

10. Mô-típ về trời:

Các nhân vật về trời là những nhân vật vốn là người trời xuống trần gian thực hiện một sứ mệnh nào đó hoặc vì một lý do khách quan (mất áo, mất cánh) không thể quay về trời được, sau khi hoàn thành sứ mệnh hoặc tìm thấy bộ áo, bộ cánh, nhân vật bay về trời. Motif về trời xuất hiện trong các truyện: Nữ thần nhà trời, Công chúa Kaguya, Hiko Boshi và Ôri Himê… Vốn là một nữ thần nhà trời xuống trần gian tắm, bị mất chiếc áo khoác thần tiên, sau khi tìm thấy áo, nàng bay về trời (Nữ thần nhà trời). Sống hạnh phúc với cha mẹ nuôi nơi trần thế, dù thâm tâm không muốn nhưng đến hạn cô cũng phải quay về trời trong niềm tiếc thương vô hạn của cha mẹ nuôi (Công chúa Kaguya). Hoàn cảnh thần kỳ cũng là yếu tố tạo nên sự gặp gỡ lạ thường với người phàm trần với tiên nữ như sự gặp gỡ của chàng trai và nàng tiên trong truyện Hiko Boshi và Ôri Himê, Ôri Himê vốn là một công chúa trên thiên đình, một hôm xuống trần gian tắm và bị Hiro Boshi lấy trộm mất áo thiên đình, ở lại kết hôn cùng Hiro Boshi, khi tìm thấy áo, cô bay về trời.  Có thể nói, bộ áo cánh của nàng tiên bị chàng trai giấu đi đã trở thành cầu nối cho hạnh phúc, đồng thời nó cũng là nguyên nhân tạo nên sự xa cách, chia ly giữa hai người. Dù là người trên trời hay trần gian, dù tự nguyện kết hôn hay do hoàn cảnh đưa đẩy thì giữa chàng trai và nàng tiên khi sống với nhau đều rất yêu nhau và có khoảng thời gian sống rất hạnh phúc.

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng cuộc hôn nhân giữa những người trần tục và thần tiên thường không lâu bền, bởi sau một thời gian quên lãng tất cả để sống trong hạnh phúc thì nhân vật bắt đầu buồn nhớ quê hương, làng xóm, người thân… nếu là tiên trên trời thì khi tìm thấy bộ cánh (bộ áo) họ sẽ bay về trời, còn nếu là người trần gian thì họ nhất định từ bỏ cuộc sống thần tiên để quay về. Có thể thấy rằng, đi đến một thế giới khác, khám phá nó và chinh phục nó, đó chính là khát vọng chung của con người ở mọi dân tộc. Nhưng không ai có thể quên hẳn cuộc sống nơi mình đã sinh ra để trú ngụ ở một thế giới khác dù nó có hấp dẫn đến đâu. Đó chính là lòng yêu đời, yêu mảnh đất quê hương và sự gắn bó đã trở thành máu thịt với cuộc sống thực trong tầm tay họ. Đó là một tinh thần thực tế rất bình dân ở người Nhật, đồng thời đó cũng là tình cảm chung của những nghệ sĩ dân gian sáng tạo truyện cổ tích.

11. Mô-típ diệt yêu quái:

Yêu quái được miêu tả trong các truyện cổ tích Nhật Bản chủ yếu là những con quỷ, chúng thường xuyên quấy nhiễu cuộc sống con người, gây bất lợi cho cuộc sống của họ. Để thu phục và tiêu diệt bọn quỷ không phải bất cứ nhân vật nào cũng đảm nhiệm được, gánh vác trọng trách lớn lao ấy phải là những nhân vật gan dạ, khỏe mạnh, dũng cảm. Những nhân vật ra tay tiêu diệt bọn quỷ độc ác trong truyện cổ tích Nhật Bản rất đặc biệt, đó là chú bé tí hon trong truyện Chú bé trái đào Momotaro, đó là Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon… Với vóc hình nhỏ bé nhưng khát vọng, ước mơ của họ thật lớn lao. Hành động tiêu diệt quỷ của Isum Boshi trong truyện Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon gắn liền với việc nghĩa cao cả đó là cứu người – cứu tiểu thư Naru xinh đẹp (câu chuyện thuộc mô-típ diệt yêu quái – cứu người đẹp). Còn hành động tiêu diệt lũ quỷ của Momotaro là hành động xả thân vì cộng đồng, Momotaro đã tiêu diệt bọn quỷ, cứu mọi người thoát khỏi cảnh bị bọn quỷ độc ác cướp của và ăn thịt (Chú bé trái đào Momotaro)…

Cả hai truyện đều xuất hiện mô-típ diệt yêu quái nhưng cả hai đều nhấn mạnh vào sự thông minh, ca ngợi trí tuệ, nhân vật đã dùng mẹo để đưa lũ quỷ vào bẫy, khiến cho bọn chúng phải quy hàng. Điều này một lần nữa cho thấy người Nhật Bản rất coi trọng sự thông minh, thông thái.

12. Mô-típ người câm:

Mô-típ người câm tuy không phổ biến nhưng cũng thấy xuất hiện trong truyện cổ tích Nhật Bản. Truyện Nữ thần nhà trời kể về một nữ thần trên trời xuống trần gian tắm, để áo tiên trên bờ thì bị một chàng trai lấy trộm áo, khi biết chiếc áo đã vào tay một lãnh chúa, để lấy lại áo nàng đã phải giả câm, tìm cách đột nhập vào nhà lãnh chúa, chờ cơ hội và khi lấy lại được áo, nàng bay về trời. Đây là mô-típ nhân vật giả câm để tìm cách đoạt lại những thứ mà mình bị mất (chiếc áo tiên). Còn truyện Bức hình người đẹp là mô-típ nhân vật do bị tước đoạt hạnh phúc nên giả câm, và chỉ hết câm khi tìm lại được hạnh phúc của mình: từ khi người vợ xinh đẹp của Hyuroku bị bắt về hoàng cung của lãnh chúa, nàng chẳng nói chằng cười, khiến lãnh chúa rất buồn… cho đến một hôm khi nghe tiếng rao của chồng, người phụ nữ xinh đẹp đã cười nói vui vẻ như chưa từng bị câm trước đó… cái nút được tháo gỡ, nhân vật hết câm khi được đoàn tụ với chồng của mình và kẻ gian ác phải trả giá cho hành động sai trái.

14. Mô-típ người tí hon:

Motif người tí hon được thấy qua các truyện: Chú bé trái đào Momotaro, Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon, Công chúa Kaguya, Cái áo tàng hình của quỷ Tengu, Vì sao nước biển lại mặn. Đó là một chú bé nhỏ đúng bằng một quả đào, từ trong quả đào nhảy ra trong truyện Chú bé trái đào Momotaro. Đó là một chú bé không lớn hơn một ngón tay út trong truyện Isum Boshi, anh chàng samurai tí hon. Đó là một cô bé tí hon chỉ cao độ 3 centimet chui ra từ ống tre trong truyện Công chúa Kaguya. Đó là cậu bé tí teo nhưng hết sức thông minh và tinh nghịch đã dùng mẹo chiếm được chiếc áo tàng hình của quỷ Tengu và bày ra nhiều trò nghịch phá mọi người xung quanh trong truyện Cái áo tàng hình của quỷ Tengu. Đó là đám người tí hon sống trong hang núi mà đối với họ một người vóc dáng bình thường trở thành một người khổng lồ (Vì sao nước biển lại mặn). Với vóc hình nhỏ bé nhưng ở họ đều chứa đựng những khát khao lớn lao và có những đóng góp to lớn cho cộng đồng. Đó cũng là ước mơ chinh phục những điều lớn lao được tác giả dân gian gửi gắm qua truyện cổ tích.

LÊ THỊ QUỲNH HẢO

(Khoa Đông phương – Đại học Đà Lạt)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Eiichi Aoki, Nhật Bản, đất nước và con người, Nxb văn học, Hà Nội, 2006.

2. Félician Challaye, Truyện cổ Nhật Bản, Nxb Trẻ, Tp. HCM, 2004.

3. Nhật Chiêu, Truyện cười Nhật Bản, Nxb Mũi cà Mau, 1987.

4. Nguyễn Văn Dân: Phương pháp nghiên cứu văn học, Nxb KHXH, Hà Nội, 2004.

5. Chu Xuân Diên, Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, Trường Đại học Tổng hợp, Tp. HCM, 1987.

6. Dương Ngọc Dũng, Chuyên luận Nhật Bản học, Nxb Tổng hợp, Tp HCM, 2008

7. Nguyễn Bích Hà, Tuyển tập truyện cổ tích Nhật Bản, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999.

8. Hà Văn Lưỡng, Sự tiếp nhận văn học Nhật Bản ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2 (96), 2009.

9. Bùi Văn Ngân, Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu cội nguồn, bản lĩnh, bản sắc dân tộc Nhật qua thư tịch và truyện cổ dân gian, Tạp chí Văn học số 1, 1999, tr. 4-6.

11. Bùi Mạnh Nhị, Phân tích tác phẩm văn học dân gian, Sở Giáo dục An Giang, 1988.

12. Lê Hồng Phong, “Về sự vận động của văn học dân gian”, Văn học Việt Nam thế kỷ XX (nhiều tác giả), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2002.

13. Lê Phong, “Truyện cổ Tây Nguyên và truyện cổ Đông Nam Á – một số motif chung”, Lang Bian, (36), 2002.

14. Lê Phong, “Về nhân vật tôn giáo trong truyện cổ tích”, Tạp chí Văn học, (1), 1993.

15. Đặng Đức Siêu, Tinh hoa văn hóa phương Đông, Nxb Giáo dục, 2007

16. Lại Văn Toàn (Chủ tịch Ban biên tập), Văn học Nhật Bản, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.

Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “Ánh Trăng” / 2023

– Chúng ta đã từng biết đến vầng trăng nhớ cố hương của tiên thi Lý Bạch, từng rung cảm trước vẻ đẹp của ánh trăng – người bạn tri âm với người tù cộng sản Hồ Chí Minh (Vọng nguyệt – NKTT). Và với bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã làm phong phú và giàu có thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của vầng trăng đã quen thuộc từ ngàn đời. – Trước hết, ánh trăng của Nguyễn Duy là hình ảnh đẹp của thiên nhiên với tất cả những gì là thi vị, gần gũi, hồn nhiên, tươi mát. Ánh trăng gần với tuổi ấu thơ của tác giả (d/c). Vầng trăng ấy hồn nhiên như cuộc sống, như đất trời (d/c). – Nhưng nếu chỉ có vậy, ánh trăng của Nguyễn Duy sẽ lẫn với vô vàn ánh trăng khác trong thơ ca hiện đại. Cũng giống như trăng của người bạn tù, vầng trăng của Nguyễn Duy đã thành “tri kỷ”, người bạn tình nghĩa. Ánh trăng thời chiến như chia sẻ những thử thách của chiến tranh, như cùng nhà thơ và đồng đội trải qua những kỷ niệm của thời “ở rừng”. Vầng trăng tri kỷ, vầng trăng tình nghĩa ấy: dấu ấn của một thời gian khó: “ngỡ không bao giờ quên”. – Nhưng nhan đề “ánh trăng” còn thực sự sâu sắc, ý nghĩa bởi vầng trăng ấy còn là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình – ký ức gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go mà hào hùng. – Cuộc sống hoà bình “ánh điện của gương, buyn đinh” đã khiến cho nhà thơ nhìn ánh trăng như một “người dưng qua đường”. Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên nhiều chiến trường đã có lúc như lãng quên quá khứ. Nhưng rồi thình lình đèn điện tắt… “đột ngột vầng trăng tròn”. Vầng trăng ấy đã đánh thức ký ức của tác giả, của thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày đánh Mỹ, tháng Mỹ. – Ánh trăng lặng lẽ toả sáng trong bài thơ hay lặng lẽ như lời nhắc nhở giản dị mà sâu lắng, không được phép lãng quên quá khứ, có những thử thách, những hy sinh, những tôn thất thời đánh Mỹ ác liệt mới có cuộc sống hoà bình ngày hôm nay.

Câu 2: Hình ảnh vầng trăng và cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Duy qua bài thơ “Ánh trăng”. – Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ là một hình tượng đa nghĩa. + Trước hết, vầng trăng là một hình ảnh của thiên nhiên khoáng đạt, hồn nhiên, tươi mát. Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “hồi chiến tranh ở rừng”. Lúc ấy, con người sống giản dị, “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Vầng trăng trở thành người bạn tri kỷ, thành “vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng từ thuở ấu thơ ở quê nhà, đến hồi chiến tranh sống ở rừng. Đến khi về thành phố, sống giữa những tiện nghi hiện đại “quen ảnh điện, cửa gương”, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “cái vầng trăng tình nghĩa” kia. Sự vô tình đến mức tàn nhẫn: Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường Rồi đến một đêm nào đó: Thình lình đèn điện tắt… đột ngột vầng trăng tròn. Con người đã quen với đèn điện nên quên trăng. Vầng trăng vẫn có đó nhưng “như người dưng qua đường”. Phải đến khi đèn điện tắt, con người mới lại nhìn thấy và nhận ra vầng trăng. Phải đột ngột như thế. Phải bất ngờ như thế, vầng trăng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc. Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng. “Ngửa mặt lên nhìn mặt”, mặt người và mặt trăng đối diện nhau. Đó là khoảnh khắc bất ngờ gặp lại “cố nhân”. Khoảnh khắc gặp gỡ đó khiến hồn người “rưng rưng” cảm xúc. Vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước. + Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống. Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước, mà còn đánh thức trong tâm trí con người bao kỷ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỷ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu. Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng: Trăng cứ tròn vành vạnh Kẻ chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình. Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ánh trăng im phăng phắc”, phép nhân hoá khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ. “Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” nhận ra sự vô tình không nên có, sự lãng quên đáng trách của mình. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì vẫn nguyên vẹn, vĩnh hằng.

Câu 3: Phân tích 2 khổ thơ cuối của bài thơ “Ánh trăng”

– Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Con người không còn muốn trốn chạy vầng trăng, trốn chạy cả bản thân mình được nữa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc – dùng những từ không trực tiếp để diễn tả sự xúc động cảm động chợt dâng trào trong lòng anh khi gặp lại vầng trăng. – Cảm xúc “rưng rưng”: tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao. – Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm quá khứ tốt đẹp khi cuộc sống còn quá nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên trăng là tri kỷ, tình nghĩa. Khổ thơ kết lại bài thơ bằng hai vế đối lập mà song song: “Trăng cứ tròn vành vạnh … Đủ cho ta giật mình” – Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Hình ảnh “vầng trăng tròn vành vạnh”, ngoài nghĩa đen là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng của cuộc sống còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của nghĩa tình quá khứ, đầy đặn, thuỷ chung, nhân hậu bao dung của thiên nhiên, của cuộc đời, con người, nhân dân, đất nước. – Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” có ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn, bất diệt. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lý làm người đâu cứ phải tìm trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

Câu 4: Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ tượng trưng cho điều gì? Ý nghĩa khái quát của bài thơ “Ánh trăng”.

Gợi ý: a. Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể như rừng. Toàn là những hình ảnh thiên nhiên rộng dãi, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ bé. Bởi thế mà không gần gũi, không mặn mà với vầng trăng. Lúc này trăng tượng trưng cho quá khứ ân tình, cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử, sáng trong mãi mãi. Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ tươi đẹp không bao giờ mờ phai, không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng mới có thể dửng dưng. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình phải giật mình.

b. Bài thơ “Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hoà bình. Những sông, đồng, biển, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh thật của những người kháng chiến. THành phố là môi trường mới, là hình ảnh thật của những người kháng chiến không đặt chân tới (trừ các chiến sĩ hoạt động bí mật). Môi trường mới ???nghỉ mới, hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên cũng có nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng cảnh bao hiện tượng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức. Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, với những điều tốt đẹp của quá khứ, đừng (có mới nới cũ).

Câu 6: Phân tích, so sánh hình ảnh “Trăng” (vầng trăng, mảnh trăng, ánh trăng…) trong các bài thơ “Đồng chí”, “Đoàn thuyền đánh cá”, “Ánh trăng”.

Gợi ý: Trăng trong cả ba bài thơ đều là hình ảnh thiên nhiên đẹp, trong sáng, người bạn tri kỷ của con người trong cuộc sống lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày.

– Trăng trong “Đồng chí” là biểu tượng của tình đồng chí, gắn bó keo sơn trong cuộc sống chiến đấu gián khổ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, biểu tượng của hiện thực và lãng mạn, trở thành nhan đề của cả tập thơ “Đầu súng trăng treo”.

– Trăng trong “Đoàn thuyền đánh cá” là cánh buồm chuyên chở và nâng bổng niềm vui hào hứng trong lao động làm chủ tập thể của những ngư dân đi đánh cá đêm, vẽ nên bức tranh sơn mài biển vàng biển bạc. “Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”

– Trăng trong “Ánh trăng” là vầng trăng tròn vành vạnh, im phăng phắc đột ngột ùa vào phòng buyn-đinh tối om trong đêm hoà bình mất điện ở thành phố Hồ Chí Minh đã khiến nhà thơ giật mình, ân hận, day dứt về suy nghĩ và cách sống hiện tại của mình. Ánh trăng như người bạn thân nhắc nhở, lay tính lương tâm của tác giả: không được vô ơn với quá khứ, với đồng đội đã hy sinh với thiên nhiên nhân hậu và bao dung.

c. Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Sự đổi thay của con người không làm vầng trăng cau mặt. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ. “Trăng tròn” là một hình ảnh thơ khá hay, không chỉ là ánh trăng tròn mà còn là tình cảm bạn bè trong trăng vẫn trọn vẹn, vẫn chung thuỷ như năm xưa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc! – Từ cái đối mặt trực diện ấy, ánh trăng đã thức dậy những kỷ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên. – Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỷ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt dưới hàng mi. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao. “Ánh trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào: “Trăng cứ tròn vành vạnh … Đủ cho ta giật mình” – Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. + Trăng tròn vành vạnh, trăng im phăng phắc không giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đày tìm người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hoà bình hôm nay. Họ đã quên mất đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để cìm đắm trong một cuộc sống xô bồ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình. + Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta : con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. – Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giá và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” cảu sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước.

Theo Cẩm nang Ngữ văn 9

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Bài Thơ Tỏ Tình / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!