Xu Hướng 2/2024 # Lời Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm (Đặng Trần Côn) # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lời Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm (Đặng Trần Côn) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

chinh phụ ngâm

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Xanh kia thăm thẳm tầng trên, Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt, Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ. Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ Sứ trời sớm giục đường mây, Phép công là trọng, niềm tây sá nào.

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn, Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa. Bóng cờ tiếng trống xa xa, Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thành liền mong tiến bệ rồng, Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn non. Đưa chàng lòng dằng dặc buồn, Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Nước có chảy mà phiền chẳng rửa, Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây. Nhủ rồi nhủ lại cầm tay, Bước đi một bước dây dây lại dừng.

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi, Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San. Múa gươm rượu tiễn chưa tàn, Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử, Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba. Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống, Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay. Hà Lương chia rẽ đường này, Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi.

Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu, Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương. Quân đưa chàng ruổi lên đường, Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng ?

Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng, Hàng cờ bay trong bóng phất phơ. Dấu chàng theo lớp mây đưa, Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng cũ gối chăn. Đoái trông theo đã cách ngăn, Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương, Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?

Chàng từ đi vào nơi gió cát, Đêm trăng này nghỉ mát phương nao ? Xưa nay chiến địa dường bao, Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.

Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn, Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon. Ôm yên gối trống đã chồn, Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.

Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. Hình khe, thế núi gần xa, Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.

Sương đầu núi buổi chiều như giội, Nước lòng khe nẻo suối còn sâu. Thương người áo giáp bấy lâu, Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ, Mặt chinh phu ai vẽ cho nên ? Tưởng chàng giong ruổi mấy niên, Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan.

Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ, Lại lạnh lùng những chỗ sương phong. Lên cao trông thức mây lồng, Lòng nào là chẳng động lòng bi thương !

Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo, Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu ? Những người chinh chiến bấy lâu, Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước, Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu ? Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo, Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi. Chinh phu tử sĩ mấy người, Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.

Dấu binh lửa, nước non như cũ, Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương. Phận trai già ruổi chiến trường, Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.

Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ, Ba thước gươm, một cỗ nhung yên. Xông pha gió bãi trăng ngàn, Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành.

Áng công danh trăm đường rộn rã, Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi. Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai, Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

Trong cửa này đã đành phận thiếp, Ngoài mây kia há kiếp chàng vay ? Những mong cá nước sum vầy, Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ, Chàng há từng học lũ vương tôn. Cớ sao cách trở nước non, Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu.

Khách phong lưu đương chừng niên thiếu, Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên. Nỡ nào đôi lứa thiếu niên, Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành.

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu, Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca. Nay quyên đã giục, oanh già, Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió, Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông. Nay đào đã quyến gió Đông, Phù dung lại đã bên sông bơ sờ.

Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy, Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm ? Ngập ngừng, lá rụng cành trâm, Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao.

Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ, Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao ? Ngập ngừng gió thổi chéo bào, Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.

Tin thường lại, người không thấy lại, Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh. Rêu xanh mấy lớp chung quanh, Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ.

Thư thường tới, người không thấy tới, Bức rèm thưa lần dãi bóng dương. Bóng dương mấy buổi xuyên ngang, Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai.

Thử tính lại diễn khơi ngày ấy, Tiền sen này đã nẩy là ba. Xót người lần lữa ải xa, Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài.

Tình gia thất nào ai chẳng có, Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương. Mẹ già phơ phất mái sương, Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm. Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam, Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.

Nay một thân nuôi già dạy trẻ, Nỗi quan hoài mang mể biết bao ! Nhớ chàng trải mấy sương sao, Xuân từng đổi mới, Đông nào còn dư.

Kể năm đã ba tư cách diễn, Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang. Ước gì gần gũi tấc gang, Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá, Gương lầu Tần dấu đã soi chung. Cậy ai mà gửi tới cùng, Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư.

Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía, Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi. Cậy ai mà gửi tới nơi, Để chàng trân trọng dấu người tương thân.

Trải mấy xuân, tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhàn, luống tưởng thư phong, Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.

Gió tây nổi không đường hồng tiện, Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết xông pha, Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.

Đề chữ gấm, phong thôi lại mở, Gieo bói tiền tin dở còn ngờ. Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ, Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.

Há như ai, hồn say bóng lẫn, Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không. Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng, Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương !

Gà eo óc gáy sương năm trống, Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.

Hương gượng đốt, hồn đà mê mải, Gương gượng soi, lệ lại chứa chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phi’m loan ngại chùng.

Lòng này gửi gió đông có tiện, Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.

Sương như búa bổ mòn gốc liễu, Mưa dường cưa xẻ héo cành ngộ Giọt sương phủ bụi chim gù, Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên. Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.

Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau.

Đâu xiết kể, muôn sầu nghìn não, Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi. Biếng cầm kim, biếng đưa thoi, Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.

Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói, Sớm lại chiều, dòi dõi nương song. Nương song luống ngẩn ngơ lòng, Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai ?

Biếng trang điểm, lòng người sầu tủi, Xót nỗi chàng, ngoài cõi Giang Lăng. Khác gì ả Chức, chị Hằng, Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng.

Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối, Buồn chứa đầy, hãy thổi làm cơm. Mượn hoa, mượn rượu giải buồn, Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.

Gõ sanh ngọc mấy hồi không tiếng, Ôm đàn tranh mấy phi’m rời tay. Xót người hành dịch bấy nay, Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi.

Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt, Trống tiều khua, như rứt buồng gan. Võ vàng đổi khác dung nhan, Khuê ly mới biết tân toan dường này.

Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ, Chua cay này, há có vì ai ? Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi, Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.

Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng, Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn. Duy còn hồn mộng được gần, Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người.

Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ, Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa. Sum vầy mấy lúc tình cờ, Chẳng qua trên gối một giờ mộng Xuân.

Giận thiếp thân lại không bằng mộng, Được gần chàng bến Lũng, thành Quan. Khi mơ những tiếc khi tàn, Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không !

Duy có một tấm lòng chẳng dứt, Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi. Lòng theo nhưng chửa thấy người, Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.

Trông bến Nam, bãi che mặt nước, Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh. Nhà thôn mấy xóm chông chênh, Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

Trông đường Bắc, đôi chòm quán khách, Mây rà cây xanh ngất núi non. Lúa thành thoi thóp bên cồn, Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.

Non Đông thấy lá hầu chất đống, Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai. Khói mù nghi ngút ngàn khơi, Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.

Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc, Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu. Ngàn thông chen chúc chòm lau, Cách duềnh thấp thoáng người đâu đi về.

Trông bốn bề chân trời mặt đất, Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen. Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn, Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan ?

Gậy rút đất dễ khôn học chước, Khăn gieo cầu nào được thấy tiên. Lòng này hóa đá cũng nên, E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong. Chẳng hay muôn dặm ruổi giong, Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng ?

Lòng chàng ví cũng bằng như thế, Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa. Hướng dương lòng thiếp như hoa, Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái, Hoa để vàng bởi tại bóng dương. Hoa vàng hoa rụng quanh tường, Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần.

Chồi lan nọ trước sân đã hái, Ngọn tần kia bên bãi đưa hương. Sửa xiêm dạo bước tiền đường, Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẩn thờ.

Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ, Độ Khuê Triền buổi có buổi không. Thức mây đòi lúc nhạt nồng, Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.

Mặt trăng tỏ thường soi bên gối, Bừng mắt trông sương gội cành ngô. Lạnh lùng thay bấy chiều thu, Gió may hiu hắt trên đầu tường vôị .

Một năm một nhạt mùi son phấn, Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi. Xưa sao hình ảnh chẳng rời, Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.

Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ, Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in. Gió Xuân ngày một vắng tin, Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.

Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy, Trước gió xuân vàng tía sánh nhau. Nọ thì ả Chức chàng Ngâu, Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.

Thương một kẻ phòng không luống giữ, Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau. Thoi đưa ngày tháng ruổi mau, Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh.

Xuân thu để giận quanh ở dạ, Hợp ly đành buồn quá khi vui.Oán sầu nhiều nỗi tơi bời, Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.

Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước, E đến khi đầu bạc mà thương. Mặt hoa nọ gã Phan Lang, Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng.

Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở, Tiếc quang âm lần lữa gieo qua. Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa, Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ giòng.

Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt, Lầu hoa kia phảng phất hơi hương. Trách trời sao để lỡ làng, Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội, Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương. Chẳng xem chim yến trên rường, Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh, Nọ loài chim chắp cánh cùng bay. Liễu, sen là thức cỏ cây, Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền.

Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây ? Thiếp xin muôn kiếp sau này, Như chim liền cánh, như cây liền cành.

Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy, Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau. Thiếp xin chàng chớ bạc đầu, Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.

Xin làm bóng theo cùng chàng vậy, Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên. Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền, Mọi bề trung hiều thiếp xin vẹn tròn.

Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt, Sức tý dân dường sắt tri tri. Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi, Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn.

Mũi đòng vác đòi lần hăm hở, Đã lòng trời gìn giữ người trung. Hộ chàng trăm trận nên công, Buông tên ải Bắc, treo cung non Đoài.

Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải, Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh. Đỉnh non khắc đá đề danh, Triều thiên vào trước cung đình dâng công.

Nước duềnh Hán việc đòng rửa sạch, Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen. Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền, Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.

Nền huân tướng đai cân rạng vẻ, Chữ đồng hưu bia để nghìn đông. Ơn trên tử ấm thê phong, Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ, Chàng hẳn không kém lũ Lạc Dương. Khi về chẳng quả ấn vàng, Trên khung cửi dám dẫy duồng làm cao.

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp, Xin vì chàng giũ lớp phong sương. Vì chàng tay chuốc chén vàng, Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.

Giở khăn lệ, chàng trông từng tấm, Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu. Câu vui đổi với câu sầu, Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

Sẽ rót vơi lần lần từng chén, Sẽ ca dần ren rén đòi liên. Liên ngâm đối ẩm đòi phen, Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.

Cho bõ lúc xa sầu, cách nhớ, Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình. Ngâm nga mong gửi chữ tình, Dường này âu hẳn tài lành trượng phu !

Tác Phẩm “Chinh Phụ Ngâm”

TÁC PHẨM “CHINH PHỤ NGÂM” – Văn học 10

 

Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.

 

Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.

 

Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.

 

Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khộ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

 

Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:

 

–    Đoạn 1 : Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.

 

–    Đoạn 2: Từ Lòng này gùi gió đông có tiện… đốn Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.

 

–    Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc.

 

Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.

 

Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:

 

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước  Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ? Đèn có biết dường bằng chẳng biết? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

 

Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.

 

Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.

 

Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

 

Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.

 

 

 

Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn deo đẳng, ám ảnh nàng.

 

Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:

 

Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

 

Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!

 

Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:

 

Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

 

Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.

 

Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:

 

Lòng này gửi gió đông có tiện ? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

 

Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:

 

Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

 

Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:

 

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

 

Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:

 

Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

 

Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nối lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả.

 

Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trỏ về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:

 

Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

 

Hình như người chinh phụ đã thấm thìa sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chí mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.

 

Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:

 

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên. Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

 

Ý thơ đi từ tinh đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chí vò võ một mình một bóng mà thôi!

 

Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo.

 

Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.

 

Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật.

 

Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương;một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.

 

 

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

(Trích bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm)

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn Viện Văn học  

            Trên thực tế, ngoại trừ giới nghiên cứu chuyên sâu, bạn đọc thường không mấy ai chú ý đến nguyên tác Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn – quê làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội) mà chỉ biết tới bản diễn Nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748), người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).  Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước  mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng. Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.  Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình – người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:                              Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,                              Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.  Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 – 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ “ngồi rèm thưa” mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi “trong rèm” chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương… Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị “vật hoá” tựa như  tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là “bóng người” trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những “gà eo óc gáy sương”, “hoè phất phơ rủ bóng”… Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:                              Khắc chờ đằng đẵng như niên,                              Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.  Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ “đằng đẵng”, “dằng dặc” tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng “Hương gượng đốt”, “Gương gượng soi”, “Sắt cầm gượng gảy” mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý “hồn đà mê mải”, “lệ lại châu chan” và “Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”…  Ở đoạn thơ tiếp theo (câu 17 – 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền “non Yên”, “đường lên bằng trời”, “xa vời khôn thấu”… Các từ “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:                              – Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời                              – Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong  Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:                              Cảnh buồn người thiết tha lòng,                              Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.                              Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,                              Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.  Hình ảnh so sánh “sương như búa”, “tuyết dường cưa” là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.  Bước vào đoạn cuối (câu 29 – 36), người chinh phụ vươn tới không gian  thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:                              Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,                              Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.                              Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,                              Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!  Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.  Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:                              – Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng                              – Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun                             – Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi  Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông…) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải – Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển – Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:                              Khắc chờ đằng đẵng như niên,                              Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.  Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.

Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

2. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

3. Cách đọc

Đọc kĩ các chú thích trong SGK.

Đây là đoạn trích bản Chinh phụ ngâm diễn Nôm, được dịch theo thể song thất lục bát. Cách đọc đoạn trích này tương tự cách đọc bài Tì bà hành.

II - Kiến thức cơ bản

Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê – Mạc đánh nhau đến Trịnh – Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người – những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh :

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung

Thành liền mong tiễn bệ rồng

Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình – người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ. Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng :

Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng,

Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

Nỗi đau buồn của người thiếu phụ trong cảnh đợi chồng đi chiến trận đã khiến nàng mất hết sức lực, như người mộng du trong ngôi nhà của mình :

Há như ai hồn say bóng lẫn,

Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

Sự chờ đợi vô vọng đã khiến nàng tê liệt cả tinh thần. Với việc miêu tả dáng vẻ bề ngoài, tác giả đã lột tả được trạng thái tâm lí phức tạp trong nội tâm của người thiếu phụ. Người thiếu phụ hiện lên với vẻ mệt mỏi và buông xuôi, nỗi cô đơn đã giày vò cả tâm thần và thể xác của người thiếu phụ khiến nàng nhạt phấn phai hương. Nỗi cô đơn bao trùm cả lên không gian và thời gian, ngày và đêm. Trong và ngoài căn phòng đều tràn ngập nỗi cô đơn. Chỉ có người thiếu phụ đối diện ngọn đèn, tình cảnh lẻ loi càng hiện rõ hơn. Cái vẻ lẻ loi tội nghiệp ấy hiện lên thật rõ ràng với hình ảnh :

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Giữa cái không gian tĩnh mịch của đêm, tiếng bước chân chậm rãi như gieo vào lòng người cái âm thanh lẻ loi cô độc. Pu-skin trên con đường mùa đông vắng vẻ, cô đơn hơn bởi tiếng lục lạc đơn điệu thì người chinh phụ cô đơn hơn khi nghe tiếng bước chân của mình. Nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng mà thôi. Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được không hay sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng. Ngọn đèn chỉ là vật vô tri vô giác, “có biết dường bằng chẳng biết” :

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Cảnh vật không san sẻ mà cộng hưởng cùng nỗi sầu của người chinh phụ khiến nàng đau càng đau, sầu càng sầu. Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng. Dường như người thiếu phụ thức trắng cả năm canh và bị nỗi nhớ nhung giày vò :

Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí những từ ngữ thuần Việt với những chữ như “eo óc”, “phất phơ”, những từ ngữ ấy dùng để tả cảnh nhưng đã chuyển tải được nỗi cô độc, buồn sầu của người thiếu phụ. Nó vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng. Dáng hoè phất qua bên nọ bên kia gợi nên hình ảnh người chinh phụ vật vã trong nhớ nhung giữa đêm khuya lẻ loi. Đếm từng khắc thời gian trôi đi chậm chạp, nhìn xung quanh thì bốn phía chỉ là cây hoè rủ bóng, nàng chìm ngập trong nỗi cô đơn. Khi chờ đợi bao giờ thời gian cũng rất dài. Thuý Kiều trong tâm trạng đợi chờ Kim Trọng :

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !

Giống như tâm trạng người chinh phụ chờ chồng :

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian. Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn. Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc. Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua. Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa.

Nỗi đau đớn, tủi hờn của người chinh phụ thể hiện nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính. Với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, tác giả và dịch giả đã thể hiện rất tinh tế và thành công những trạng thái tâm lí phức tạp của người thiếu phụ, qua đó thể hiện thái độ của mình trước những cuộc chiến tranh, binh biến liên miên dưới chế độ phong kiến thế kỉ XVIII. Tuy tác phẩm không nói rõ tính chất cuộc chiến tranh mà người chinh phu tham gia, song dựa trên những điều kiện lịch sử khi tác phẩm ra đời, có thể nhận thấy, đó không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc, mà là cuộc chiến giành giật quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến phi nghĩa.

Dịch Chinh phụ ngâm, dịch giả đã chọn thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc có khả năng lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật, nhất là tâm trạng buồn đau, sầu muộn. Dịch giả đã dịch rất thanh thoát nội dung của nguyên tác, thể hiện chân thực nỗi buồn của người thiếu phụ phương Đông, mãnh liệt, da diết nhưng kín đáo. Chinh phụ ngâm đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngôn ngữ văn học dân tộc. Với tác phẩm này, tiếng Việt đã chứng minh khả năng diễn tả tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc, tinh tế. Với tấm lòng thương yêu và sự cảm thông sâu sắc với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, tác giả và dịch giả cất lên tiếng kêu nhân đạo, tiếng kêu phản đối chiến tranh phi nghĩa. Thái độ phản chiến tuy không bộc lộ trực tiếp song lại rất mạnh mẽ. Chiến tranh đã cướp đi của con người hạnh phúc và tuổi trẻ, thậm chí cả mạng sống. Vì một cuộc chiến, có biết bao người vợ phải xa chồng, phải giam mình trong nỗi cô đơn, buồn tủi như người chinh phụ kia. Có người đón chồng trở về khi tóc đã pha sương, nhưng đó còn là may mắn. Có người đau xót đón tin chồng không trở về sau những ngày mỏi mòn trông đợi.

III - Liên hệ

1. Về bản dịch Chinh phụ ngâm hiện có tất thảy bảy bản dịch và phỏng dịch bằng các thể song thất lục bát (bốn bản) và lục bát (ba bản) của các dịch giả : Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích, Bạch Liên Am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh, nhưng chưa biết bản dịch nào của ai. Riêng bản dịch thành công nhất và được phổ biến rộng rãi xưa nay, thể song thất lục bát, 412 câu (bản in chữ Nôm cũ hiện còn (1902, AB.26), hoặc 408 câu (một bản khác lưu tại thư viện Pa-ri) có người cho là của Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy ích.

(Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, tập I, Sđd)

2. So bản dịch của bà với bản chữ nho thì thấy văn dịch rất sát nghĩa nguyên văn mà lời văn êm đềm, ảo não, rõ ra giọng một người đàn bà buồn bã, nhưng có vẻ thê lương hơn là vẻ đau đớn, không đến nỗi réo rắt, sầu khổ như giọng văn cung oán, thật là lời văn hợp cảnh vậy. Bản dịch viết theo thể “song thất”. Có nhiều đoạn đặt theo lối liên hoàn, những chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, thật hợp với tình buồn liên miên không dứt của người chinh phụ.

(Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, 1950)

 

Hướng Dẫn Phân Tích Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm

1, phân tích bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – 8 câu đầu: Nỗi cô đơn và lẻ loi của người chinh phụ

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi Buồn rầu nói chẳng nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương

8 câu thơ đầu trong văn bản tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã vẽ nên một không gian vắng vẻ hiu quạnh từ ngoài vào trong, Phía bên ngoài là mái hiên vắng vẻ, phía bên trong là khuê phòng cô đơn. Cùng với thời gian ban đêm vốn càng nhấn mạnh đến nỗi cô độc của người chinh phụ.

Trên bức tranh không gian và thời gian đượm buồn ấy, những hành động của người vợ những tưởng sẽ làm mờ đi được nỗi nhớ nhung. Nhưng trái lại, nó càng gợi thêm sự cô đơn và trống trải. Người chinh phụ dạo – gieo từng bước, đi loanh quanh luẩn quẩn trên hiên nhà, khiến nỗi nhớ như ngưng đọng lại trong từng bước đi. Người vợ trở vào buồng và giãi bày với ngọn đèn – là một vật vô tri vô giác. khi phân tích bài thơ chinh phụ ngâm cần chú ý đến câu hỏi tu từ Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?. Câu hỏi tu từ đã nhấn mạnh thêm sự khắc khoải đợi chờ trong cô đơn của người chinh phụ

2, phân tích bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – 8 câu tiếp theo: Nỗi niềm lo lắng và bất an của người chinh phụ (tiếp)

Gà eo óc gáy sương năm trống Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa

Bước sang 8 câu thơ tiếp theo, không gian thiên nhiên trong bài thơ chinh phụ ngâm lớp 10 đã mở rộng ra bên ngoài. Cụ thể, đoạn thơ có sự xuất hiện của âm thanh tiếng gà gáy, của hình ảnh cây hòe phất phơ. Tiếng gà gáy khắc khoải đã nhấn mạnh sự tĩnh lặng của không gian xung quanh. Thời gian của tâm trạng được thể hiện bằng các cụm khắc giờ – niên; mối sầu – biển xa khiến nỗi cô độc càng được kéo dài ra mênh mang.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

Những hành động trong 8 câu giữa bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ bao gồm đốt hương, soi gương, gảy đàn. Là chuỗi hành động tích cực song với tâm thế “gượng” đã làm cho chúng trở nên đầy bất an. Người chinh phụ đốt hương để tìm kiếm sự bình an song nàng dường như đã để tâm hồn miên man theo những suy nghĩ về người chồng. Người chinh phụ soi gương nhưng lại bật khóc, nàng chơi đàn nhưng lại lo lắng về điềm gở. Đàn cầm sắt vốn chỉ tình cảm vợ chồng hòa hợp song Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng đã làm cho người chinh phụ lo sợ.

3, phân tích bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – 8 câu cuối: Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non yên Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun

Vẫn là hình ảnh thiên nhiên được tác giả khắc họa với vài nét chấm phá, không gian trong 8 câu thơ cuối của đoạn trích đã mở rộng ra vô tận mênh mông. Đó không chỉ là không gian địa lí ngăn cách người chinh phụ với chồng, mà đó còn là không gian trống vắng của nỗi nhớ cồn cào, dai dẳng.

Những Đoạn Thơ Hay Nhất Trong “Chinh Phụ Ngâm Khúc”

“Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, tác giả thời Lê Trung Hưng, có thể nói là tác phẩm thơ xuất sắc nhất của văn học Trung đại. Mượn những dòng tâm sự của người chinh phụ nhớ thương người chồng ra chiến trường, Đặng Trần Côn đã gửi gắm trong đó rất nhiều tâm sự. Tác phẩm được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra tiếng Nôm ở thể song thất lục bát.

Chúng tôi xin trích giới thiệu một số đoạn thơ hay trong bản tiếng Hán của Đặng Trần Côn cùng với bản dịch của Đoàn Thị Điểm.

LOẠN THỜI

1. Thiên địa phong trầnHồng nhan đa truânDu du bỉ thương hề thuỳ tạo nhânCổ bề thanh động Trường Thành nguyệt5. Phong hoả ảnh chiếu Cam Tuyền vânCửu trùng án kiếm khởi đương tịchBán dạ phi hịch truyền tướng quânThanh bình tam bách niên thiên hạTùng thử nhung y thuộc vũ thần10. Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phátHành nhân trọng pháp khinh ly biệtCung tiễn hề tại yêuThê noa hề biệt khuyếtLiệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu15. Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oánHữu oán hề phân huềHữu sầu hề khế khoátLương nhân nhị thập Ngô môn hàoĐầu bút nghiên hề sự cung đao20. Trực bả liên thành hiến minh thánhNguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêuTrượng phu thiên lý chí mã cáchThái Sơn nhất trịch khinh hồng maoTiện từ khuê khổn tùng chinh chiến25. Tây phong minh tiên xuất Vị kiều

BẢN DỊCH:

1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụiKhách má hồng nhiều nỗi truân chuyênXanh kia thăm thẳm từng trênVì ai gây dựng cho nên nỗi này?5. Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệtKhói Cam Tuyền mờ mịt thức mâyChín lần gươm báu trao tayNửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinhNước thanh bình ba trăm năm cũ10. Áo nhung trao quan vũ từ đâySứ trời sớm giục đường mâyPhép công là trọng niềm tây sá nàoĐường rong ruổi lưng đeo cung tiễnBuổi tiễn đưa lòng bận thê noa15. Bóng cờ tiếng trống xa xaSầu lên ngọn ải oán ra cửa phòngChàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệtXếp bút nghiên theo việc đao cungThành liền mong hiến bệ rồng20. Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trờiChí làm trai dặm nghìn da ngựaGieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng maoGiã nhà đeo bức chiến bàoThét roi cầu Vị ào ào gió thu

XUẤT CHINH

Vị kiều đầu thanh thuỷ câuThanh thuỷ biên thanh thảo đồTống quân xứ hề tâm du duQuân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu30. Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chuThanh thanh hữu lưu thuỷBất tẩy thiếp tâm sầuThanh thanh hữu phương thảobất vong thiếp tâm ưu35. Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủBộ nhất bộ hề khiên quân nhuThiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệtQuân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễnTrịch ly bôi hề vũ Long Tuyền40. Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệtVân tuỳ Giới Tử liệp Lâu LanTiếu hướng Man Khê đàm Mã ViệnQuân xuyên trang phục hồng như hàQuân kỵ kiêu mã bạch như tuyết45. Kiêu mã hề loan linhChinh cổ hề nhân hànhTu du trung hề đối diệnKhoảnh khắc lý hề phân trìnhPhân trình hề hà lương50. Bồi hồi hề lộ bàngLộ bàng nhất vọng hề bái ương ươngTiền xa hề Bắc Tế Liễu,Hậu kỵ hề Tây Trường DươngKỵ xa tương ủng quân lâm tái55. Dương liễu na tri thiếp đoạn trườngKhứ khứ lạc mai thanh tiệm viễnHành hành chinh bái sắc hà mangVọng vân khứ hề lang biệt thiếpVọng sơn quy hề thiếp tư lang.60. Lang khứ trình hề mông vũ ngoạiThiếp quy xứ hề tạc dạ phòngQuy khứ lưỡng hồi cốVân thanh hề sơn thươngLang cố thiếp hề Hàm Dương65. Thiếp cố lang hề Tiêu TươngTiêu Tương yên trở Hàm Dương thụHàm Dương thụ cách Tiêu Tương giangTương cố bất tương kiếnThanh thanh mạch thượng tang70. Mạch thượng tang mạch thượng tangThiếp ý quân tâm thuỳ đoản trường

BẢN DỊCH

25. Ngòi đầu cầu nước trong như lọcĐường bên cầu cỏ mọc còn nonĐưa chàng lòng dặc dặc buồnBộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyềnNước có chảy mà phiền khôn rửa30. Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuâyNhủ rồi tay lại cầm tayBước đi một bước dây dây lại dừngLòng thiếp tựa bóng trăng theo dõiDạ chàng xa tìm cõi Thiên San35. Múa gươm rượu tiễn chưa tànChỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beoSăn Lâu Lan rằng theo Giới TửTới Man Khê bàn sự Phục BaÁo chàng đỏ tựa ráng pha40. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết inTiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trốngGiáp mặt rồi phút bỗng chia tayHà lương chia rẽ đường nàyBên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi45. Quân trước đã gần ngoài doanh LiễuKỵ sau còn khuất nẻo Tràng DươngQuân đưa chàng ruổi lên đườngLiễu dương biết thiếp đoạn đường này chăng?Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng50. Hàng cờ bay trong bóng phất phơDấu chàng theo lớp mây đưaThiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhàChàng thì đi cõi xa mưa gióThiếp thì về buồng cũ chiếu chăn55. Đoái trông theo đã cách ngănTuôn màu mây biếc trải ngần núi xanhChốn Hàm kinh chàng còn ngoảnh lạiBến Tiêu Tương thiếp hãy trông sangKhói Tiêu Tương cách Hàm Dương60. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùngCùng trông lại mà cùng chẳng thấyThấy xanh xanh những mấy ngàn dâuNgàn dâu xanh ngắt một màuLòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Một đoạn thơ trong SẦU TỦI

100. Cổ lai chinh chiến nhânTính mệnh khinh như thảoPhong nhận hạ ôn ôn hiệp khoáng chủ ân thâmThời khắc trung lịch lịch hoành qua tráng sĩ yểuKỳ sơn cựu trủng nguyệt mang mang105. Phì thuỷ tân phần phong niểu niểuPhong niểu niểu không xuy tử sĩ hồnNguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạoChinh phu mạo hề thuỳ đan thanhTử sĩ hồn hề thuỳ ai điếu110. Khả liên tranh đấu cựu giang sơnHành nhân quá thử tình đa thiểuCổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn

BẢN DỊCH

Những người chinh chiến bấy lâu,Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.Nức hơi mạnh ân dày từ trước,Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu.95. Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.Chinh phu tử sĩ mấy người,100. Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?Dấu binh lửa nước non như cũ,Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

SẦU MUỘN

Bi hựu bi hề cánh vô ngôn235. Đăng hoa nhân ảnh tổng kham liênY ốc kê thanh thông ngũ dạPhi phất hoè âm độ bát chuyênSầu tự hảiKhắc như niên240. Cưỡng nhiên hương hoa hồn tiêu đàn chú hạCưỡng lâm kính ngọc cân truỵ lăng hoa tiềnCưỡng viện cầm chỉ hạ kinh đình loan phượng trụCưỡng điều sắt khúc trung bi yết uyên ương huyềnThử ý xuân phong nhược khẳng truyền245. Thiên kim tá lực ký Yên NhiênYên Nhiên vị năng truyềnỨc quân thiều thiều hề lộ như thiênThiên viễn vị dị thôngỨc quân du du hề tứ hà cùng250. Hoài nhân xứ thương tâm hungThụ diệp thanh sương lýCùng thanh tế vũ trungSương phủ tàn hề dương liễuVũ cứ tổn hề ngô đồng255. Điểu phản cao thungLộ há đê tùngHàn viên hậu trùngViễn tự hiểu chungTất suất sổ thanh vũ260. Ba tiêu nhất viện phongPhong liệt chỉ song xuyên trướng khíchNguyệt di hoa ảnh thướng liêm lungHoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạchNguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng265. Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùngHoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung.

BẢN DỊCH

Buồn rầu nói chẳng nên lời,200. Hoa đèn kia với bóng người khá thương.Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.205. Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại chứa chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.Lòng này gửi gió đông có tiện,210. Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.Non Yên dầu chẳng tới miền,Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.215. Cảnh buồn người thiết tha lòng.Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.Sương như búa bổ mòn gốc liễu,Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.Giọt sương phủ bụi chim gù,220. Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.Lá màn lay ngọn gió xuyên,Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.225. Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

VỌNG TẦM

Tư vị toan hề toan cánh tânToan tân đoan đích vị lương nhânVị lương nhân hề song thiếp lệ295. Vị lương nhân hề chích thiếp thânThiếp thân bất đáo quân chinh trướngThiếp lệ bất đáo quân chinh cânDuy hữu mộng hồn vô bất đáoTầm quân dạ dạ đáo giang tân300. Tầm quân hề Dương Đài lộHội quân hề Tương thuỷ tânKý đắc kỷ phiên hoan hội xứVô phi nhất chẩm mộng trung xuân.Thử thân phản hận bất như mộng305. Lũng Thuỷ, Hàm Quan dữ tử thânMộng khứ mỗi tăng kinh cánh đoạnMộng hồi hựu lự huyễn phi chânDuy hữu thốn tâm chân bất đoạnVị thường khoảnh khắc thiểu ly quân310. Tâm bất ly quân vị kiến quân,Bằng cao kỷ độ vọng chinh luânVọng quân hà sở kiếnGiang châu mãn bạch tầnYên thảo phi thanh lũ315. Tần tang nhiễm lục vânNam lai tỉnh ấp bán binh trầnLạc nhật bình sa lộ nhất quầnVọng quân hà sở kiếnQuan lộ đoản trường đình320. Vân gian Ngô thọ ámThiên tế Thục sơn thanhBắc lai hoà thử bán hoang thànhVi vũ giang lâu địch nhất thanhVọng quân hà sở kiến325. Không sơn diệp tố đôiTự phi thanh dã trĩTự vũ cách giang maiĐông khứ yên lam thảm bất khaiTây phong phiêu bạc điểu thanh ai330. Vọng quân hà sở kiếnHà thủy khúc như câuTrường không sổ điểm nhạn,Viễn phố nhất quy châuTây khứ tùng thu tiếp đoạn vu335. Hành nhân vi một cách thương châuVọng tận thiên đầu hựu địa đầuKỷ nhật đăng lâu cánh há lâuĐống vân trở tận tương tư nhãnHà xứ Ngọc quan chinh chiến tưu.

BẢN DỊCH:

Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,Chua cay này há có vì ai ?255. Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn ?Bui còn hồn mộng được gần,260. Đêm đêm thường tới Giang Tân tìm người.Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ,Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa.Sum vầy mấy lúc tình cờ,Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.265. Giận thiếp thân lại không bằng mộng,Được gần chàng bến Lũng thành Quan.Khi mơ những tiếc khi tàn,Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không.Bui có một tấm lòng chẳng dứt,270. Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi.Lòng theo nhưng chửa thấy người.Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.Trông bến nam bãi chia mặt nước,Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh.275. Nhà thôn mấy xóm chông chênh,Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.Trông đường bắc đôi chòm quán khách,Rườm rà cây xanh ngắt núi non.Lúa thành thoi thóp bên cồn,280. Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.Non đông thấy lá hầu chất đống,Trĩ sập sè mai cũng bẻ bai.Khói mù nghi ngút ngàn khơi,Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.285. Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu.Ngàn thông chen chúc khóm lau,Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.Trông bốn bề chân trời mặt đất,290. Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen.Lớp mây ngại mắt khôn nhìn,Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan ?

Những Đoạn Thơ Hay Nhất Trong “Chinh Phụ Ngâm Khúc”

Written by

“Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, tác giả thời Lê Trung Hưng, có thể nói là tác phẩm thơ xuất sắc nhất của văn học Trung đại. Mượn những dòng tâm sự của người chinh phụ nhớ thương người chồng ra chiến trường, Đặng Trần Côn đã gửi gắm trong đó rất nhiều tâm sự. Tác phẩm được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra tiếng Nôm ở thể song thất lục bát.

Chúng tôi xin trích giới thiệu một số đoạn thơ hay trong bản tiếng Hán của Đặng Trần Côn cùng với bản dịch của Đoàn Thị Điểm.

LOẠN THỜI

1. Thiên địa phong trầnHồng nhan đa truânDu du bỉ thương hề thuỳ tạo nhânCổ bề thanh động Trường Thành nguyệt5. Phong hoả ảnh chiếu Cam Tuyền vânCửu trùng án kiếm khởi đương tịchBán dạ phi hịch truyền tướng quânThanh bình tam bách niên thiên hạTùng thử nhung y thuộc vũ thần10. Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phátHành nhân trọng pháp khinh ly biệtCung tiễn hề tại yêuThê noa hề biệt khuyếtLiệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu15. Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oánHữu oán hề phân huềHữu sầu hề khế khoátLương nhân nhị thập Ngô môn hàoĐầu bút nghiên hề sự cung đao20. Trực bả liên thành hiến minh thánhNguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêuTrượng phu thiên lý chí mã cáchThái Sơn nhất trịch khinh hồng maoTiện từ khuê khổn tùng chinh chiến25. Tây phong minh tiên xuất Vị kiều

BẢN DỊCH:

1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụiKhách má hồng nhiều nỗi truân chuyênXanh kia thăm thẳm từng trênVì ai gây dựng cho nên nỗi này?5. Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệtKhói Cam Tuyền mờ mịt thức mâyChín lần gươm báu trao tayNửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinhNước thanh bình ba trăm năm cũ10. Áo nhung trao quan vũ từ đâySứ trời sớm giục đường mâyPhép công là trọng niềm tây sá nàoĐường rong ruổi lưng đeo cung tiễnBuổi tiễn đưa lòng bận thê noa15. Bóng cờ tiếng trống xa xaSầu lên ngọn ải oán ra cửa phòngChàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệtXếp bút nghiên theo việc đao cungThành liền mong hiến bệ rồng20. Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trờiChí làm trai dặm nghìn da ngựaGieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng maoGiã nhà đeo bức chiến bàoThét roi cầu Vị ào ào gió thu

XUẤT CHINH

Vị kiều đầu thanh thuỷ câuThanh thuỷ biên thanh thảo đồTống quân xứ hề tâm du duQuân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu30. Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chuThanh thanh hữu lưu thuỷBất tẩy thiếp tâm sầuThanh thanh hữu phương thảobất vong thiếp tâm ưu35. Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủBộ nhất bộ hề khiên quân nhuThiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệtQuân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễnTrịch ly bôi hề vũ Long Tuyền40. Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệtVân tuỳ Giới Tử liệp Lâu LanTiếu hướng Man Khê đàm Mã ViệnQuân xuyên trang phục hồng như hàQuân kỵ kiêu mã bạch như tuyết45. Kiêu mã hề loan linhChinh cổ hề nhân hànhTu du trung hề đối diệnKhoảnh khắc lý hề phân trìnhPhân trình hề hà lương50. Bồi hồi hề lộ bàngLộ bàng nhất vọng hề bái ương ươngTiền xa hề Bắc Tế Liễu,Hậu kỵ hề Tây Trường DươngKỵ xa tương ủng quân lâm tái55. Dương liễu na tri thiếp đoạn trườngKhứ khứ lạc mai thanh tiệm viễnHành hành chinh bái sắc hà mangVọng vân khứ hề lang biệt thiếpVọng sơn quy hề thiếp tư lang.60. Lang khứ trình hề mông vũ ngoạiThiếp quy xứ hề tạc dạ phòngQuy khứ lưỡng hồi cốVân thanh hề sơn thươngLang cố thiếp hề Hàm Dương65. Thiếp cố lang hề Tiêu TươngTiêu Tương yên trở Hàm Dương thụHàm Dương thụ cách Tiêu Tương giangTương cố bất tương kiếnThanh thanh mạch thượng tang70. Mạch thượng tang mạch thượng tangThiếp ý quân tâm thuỳ đoản trường

BẢN DỊCH

25. Ngòi đầu cầu nước trong như lọcĐường bên cầu cỏ mọc còn nonĐưa chàng lòng dặc dặc buồnBộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyềnNước có chảy mà phiền khôn rửa30. Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuâyNhủ rồi tay lại cầm tayBước đi một bước dây dây lại dừngLòng thiếp tựa bóng trăng theo dõiDạ chàng xa tìm cõi Thiên San35. Múa gươm rượu tiễn chưa tànChỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beoSăn Lâu Lan rằng theo Giới TửTới Man Khê bàn sự Phục BaÁo chàng đỏ tựa ráng pha40. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết inTiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trốngGiáp mặt rồi phút bỗng chia tayHà lương chia rẽ đường nàyBên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi45. Quân trước đã gần ngoài doanh LiễuKỵ sau còn khuất nẻo Tràng DươngQuân đưa chàng ruổi lên đườngLiễu dương biết thiếp đoạn đường này chăng?Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng50. Hàng cờ bay trong bóng phất phơDấu chàng theo lớp mây đưaThiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhàChàng thì đi cõi xa mưa gióThiếp thì về buồng cũ chiếu chăn55. Đoái trông theo đã cách ngănTuôn màu mây biếc trải ngần núi xanhChốn Hàm kinh chàng còn ngoảnh lạiBến Tiêu Tương thiếp hãy trông sangKhói Tiêu Tương cách Hàm Dương60. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùngCùng trông lại mà cùng chẳng thấyThấy xanh xanh những mấy ngàn dâuNgàn dâu xanh ngắt một màuLòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Một đoạn thơ trong SẦU TỦI

100. Cổ lai chinh chiến nhânTính mệnh khinh như thảoPhong nhận hạ ôn ôn hiệp khoáng chủ ân thâmThời khắc trung lịch lịch hoành qua tráng sĩ yểuKỳ sơn cựu trủng nguyệt mang mang105. Phì thuỷ tân phần phong niểu niểuPhong niểu niểu không xuy tử sĩ hồnNguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạoChinh phu mạo hề thuỳ đan thanhTử sĩ hồn hề thuỳ ai điếu110. Khả liên tranh đấu cựu giang sơnHành nhân quá thử tình đa thiểuCổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn

BẢN DỊCH

Những người chinh chiến bấy lâu,Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.Nức hơi mạnh ân dày từ trước,Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu.95. Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.Chinh phu tử sĩ mấy người,100. Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?Dấu binh lửa nước non như cũ,Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

SẦU MUỘN

Bi hựu bi hề cánh vô ngôn235. Đăng hoa nhân ảnh tổng kham liênY ốc kê thanh thông ngũ dạPhi phất hoè âm độ bát chuyênSầu tự hảiKhắc như niên240. Cưỡng nhiên hương hoa hồn tiêu đàn chú hạCưỡng lâm kính ngọc cân truỵ lăng hoa tiềnCưỡng viện cầm chỉ hạ kinh đình loan phượng trụCưỡng điều sắt khúc trung bi yết uyên ương huyềnThử ý xuân phong nhược khẳng truyền245. Thiên kim tá lực ký Yên NhiênYên Nhiên vị năng truyềnỨc quân thiều thiều hề lộ như thiênThiên viễn vị dị thôngỨc quân du du hề tứ hà cùng250. Hoài nhân xứ thương tâm hungThụ diệp thanh sương lýCùng thanh tế vũ trungSương phủ tàn hề dương liễuVũ cứ tổn hề ngô đồng255. Điểu phản cao thungLộ há đê tùngHàn viên hậu trùngViễn tự hiểu chungTất suất sổ thanh vũ260. Ba tiêu nhất viện phongPhong liệt chỉ song xuyên trướng khíchNguyệt di hoa ảnh thướng liêm lungHoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạchNguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng265. Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùngHoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung.

BẢN DỊCH

Buồn rầu nói chẳng nên lời,200. Hoa đèn kia với bóng người khá thương.Gà eo óc gáy sương năm trống,Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.Khắc giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.205. Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại chứa chan.Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.Lòng này gửi gió đông có tiện,210. Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.Non Yên dầu chẳng tới miền,Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.215. Cảnh buồn người thiết tha lòng.Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.Sương như búa bổ mòn gốc liễu,Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.Giọt sương phủ bụi chim gù,220. Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.Lá màn lay ngọn gió xuyên,Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.225. Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

VỌNG TẦM

Tư vị toan hề toan cánh tânToan tân đoan đích vị lương nhânVị lương nhân hề song thiếp lệ295. Vị lương nhân hề chích thiếp thânThiếp thân bất đáo quân chinh trướngThiếp lệ bất đáo quân chinh cânDuy hữu mộng hồn vô bất đáoTầm quân dạ dạ đáo giang tân300. Tầm quân hề Dương Đài lộHội quân hề Tương thuỷ tânKý đắc kỷ phiên hoan hội xứVô phi nhất chẩm mộng trung xuân.Thử thân phản hận bất như mộng305. Lũng Thuỷ, Hàm Quan dữ tử thânMộng khứ mỗi tăng kinh cánh đoạnMộng hồi hựu lự huyễn phi chânDuy hữu thốn tâm chân bất đoạnVị thường khoảnh khắc thiểu ly quân310. Tâm bất ly quân vị kiến quân,Bằng cao kỷ độ vọng chinh luânVọng quân hà sở kiếnGiang châu mãn bạch tầnYên thảo phi thanh lũ315. Tần tang nhiễm lục vânNam lai tỉnh ấp bán binh trầnLạc nhật bình sa lộ nhất quầnVọng quân hà sở kiếnQuan lộ đoản trường đình320. Vân gian Ngô thọ ámThiên tế Thục sơn thanhBắc lai hoà thử bán hoang thànhVi vũ giang lâu địch nhất thanhVọng quân hà sở kiến325. Không sơn diệp tố đôiTự phi thanh dã trĩTự vũ cách giang maiĐông khứ yên lam thảm bất khaiTây phong phiêu bạc điểu thanh ai330. Vọng quân hà sở kiếnHà thủy khúc như câuTrường không sổ điểm nhạn,Viễn phố nhất quy châuTây khứ tùng thu tiếp đoạn vu335. Hành nhân vi một cách thương châuVọng tận thiên đầu hựu địa đầuKỷ nhật đăng lâu cánh há lâuĐống vân trở tận tương tư nhãnHà xứ Ngọc quan chinh chiến tưu.

BẢN DỊCH:

Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,Chua cay này há có vì ai ?255. Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn ?Bui còn hồn mộng được gần,260. Đêm đêm thường tới Giang Tân tìm người.Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ,Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa.Sum vầy mấy lúc tình cờ,Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.265. Giận thiếp thân lại không bằng mộng,Được gần chàng bến Lũng thành Quan.Khi mơ những tiếc khi tàn,Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không.Bui có một tấm lòng chẳng dứt,270. Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi.Lòng theo nhưng chửa thấy người.Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.Trông bến nam bãi chia mặt nước,Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh.275. Nhà thôn mấy xóm chông chênh,Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.Trông đường bắc đôi chòm quán khách,Rườm rà cây xanh ngắt núi non.Lúa thành thoi thóp bên cồn,280. Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.Non đông thấy lá hầu chất đống,Trĩ sập sè mai cũng bẻ bai.Khói mù nghi ngút ngàn khơi,Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.285. Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu.Ngàn thông chen chúc khóm lau,Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.Trông bốn bề chân trời mặt đất,290. Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen.Lớp mây ngại mắt khôn nhìn,Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan ?

Share

Top 10 Tài Liệu Chinh Phụ Ngâm Khúc Hay Nhất

5

/

5

(

8

votes

)

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn có thể coi là tác phẩm thơ xuất sắc nhất của văn học Trung đại Việt Nam. Nhà thơ mượn những dòng tâm sự của người chinh phụ nhớ thương người chồng ra chiến trường, Đặng Trần Côn đã gửi gắm trong đó rất nhiều tâm sự. Tác phẩm được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra tiếng Nôm ở thể song thất lục bát và được đưa vào chương trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn lớp 10.

 I. 10 tài liệu “Chinh phụ ngâm khúc” hay nhất

Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn là một tài liệu cung cấp toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của tác giả Đặng Trần Côn bản chữ hán và bản chữ Nôm của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Đây là tài liệu tham khảo vô cùng đầy đủ, chi tiết và chính xác về mặt nội dung văn bản, rất phù hợp đối với các nghiên cứu chuyên sâu cần tham khảo bản thảo gốc cũng như bản dịch gốc.

Download tài liệu

Download tài liệu

Download tài liệu

Phân tích diễn biến tâm lý người chinh phụ trong chinh phụ ngâm khúc là tài liệu phân tích những biến đổi trong tâm lý, diễn biến tâm lý của người chinh phụ. Liệu những diễn biến trong tâm lý của người chinh phụ có ảnh hưởng đến kết cấu của tác phẩm, những giá trị nào đi kèm với sự thay đổi trong cảm xúc của người thiếu phụ,… tất cả những câu hỏi đó sẽ được trả lời trong tài liệu này.

Download tài liệu

Phân tích nỗi buồn của người chinh phụ trong chinh phụ ngâm khúc là tài liệu tập trung vào phân tích tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc, cụ thể ở đây chính là nỗi buồn. Nỗi buồn từ sự cô đơn, vắng bóng người chồng, nỗi buồn từ cảnh vật, không gian thời gian và chính con người cũng tác động vào ngoại cảnh đó. Tài liệu sẽ phân tích và chứng minh cho chúng ta thấy những giá trị cụ thể được đem lại từ nỗi buồn của người thiếu nữ, một yếu tố tạo nên thành công cho tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc.

Download tài liệu

Bút pháp tả cảnh ngụ tình từ Chinh phụ ngâm khúc (bản diễn nôm) đến Truyện Kiều (Nguyễn Du) là luận văn thạc sĩ văn học của tác giả Hoàng Thị Thu Hà. Tài liệu này với hình thức là một luận văn nên được trình bày vô cùng chỉn chu, khoa học, giúp những nhà đánh giá hay độc giả dễ dàng trong việc theo dõi và phân tích nội dung hơn. Tài liệu đi sâu vào nghiên cứu khái niệm bút pháp tả cảnh ngụ tình và lấy tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc để chứng minh cho luận điểm của mình và đồng thời là lấy tác phẩm Truyện Kiều để so sánh, làm nổi bật điều đó.

Download tài liệu

Download tài liệu

Người phụ nữ trong thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương và Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn là luận văn thạc sĩ ngữ văn của sinh viên Nguyễn Thị Hà dưới sự hướng dẫn của giảng viên, Phó giáo sư – Tiến sĩ Trần Nho Thìn. Có thể nói đây là một tài liệu tiến hành so sánh khá thú vị về hai nữ nhân vật trong thi ca, văn học Việt Nam.

Tài liệu cho chúng ta một cái nhìn rõ ràng về hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong văn học trung đại, Cho ta thấy nhan sắc, tài năng, đức hành và những gì họ phải trải qua trong cuộc sống. Từ những giá trị chung, tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích và chứng minh qua hai nhân vật đó là người phụ nữ của Hồ Xuân Hương và người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc.

Download tài liệu

Download tài liệu

Phân tích Nỗi Buồn của người chinh phụ trong bài “Chinh Phụ Ngâm Khúc” là tài liệu tập trung vào phân tích nỗi buồn của người chinh phụ. Bằng những dẫn chứng từ chính những câu thơ của tác phẩm, tài liệu giúp chúng ta hiểu hơn về nỗi nhớ nhung sầu muộn và làm nổi bật tư tưởng ghét chiến tranh, đòi quyền sống tự do, hạnh phúc cho người thiếu nữ. Đây là một tài liệu tham khảo tuyệt vời nếu bạn muốn liên hệ với những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội ngày nay.

Download tài liệu

100+ Tài liệu về tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc

Top 10 giáo án ngữ văn 11 chuyên sâu nhất

Tổng hợp những tài liệu giáo án ngữ văn 10 hay nhất

II. Tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc

1. Tác giả

Tác giả Đặng Trần Côn hiện nay còn rất ít thông tin có thể xác thực về ông, năm sinh năm mất của ông cũng không có bất cứ tài liệu nào ghi chép lại một cách chính xác, chỉ biết ông sinh khoảng năm 1700 và mất khoảng 50 đến 60 năm sau đó.

Đặng Trần Côn sinh ra ở huyện Thanh Trì, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Lịch sử ghi chép lại rằng ông có làm quan nhưng không mấy nổi bật. Tất cả những gì mà hậu thế biết về ông chính là những tuyệt tác văn chương sống mãi trong dòng chảy của lịch sử. 

Đặng Trần Côn có một số bài thơ, bài phú tả cảnh thiên nhiên, chỉ còn lưu lại một số bài như Tiêu tương bát cảnh, ba bài phú Trương Hàn tư thuần lô, Trương Lương bố ý, Khấu môn thanh. Khuynh hướng chung của thơ văn ông là đi sâu vào tình cảm, đi sâu vào nỗi lòng trắc ẩn, phức tạp, sâu kín của con người, nhất là đối với người phụ nữ. Ông chính là tác giả của Chinh phụ ngâm, kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Chinh phụ ngâm ra đời đã gây một tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời. Tác phẩm viết bằng chữ Hán giữa thời đại văn học chữ Nôm đang nở rộ cho nên nhiều người đã tìm cách dịch nó ra chữ Nôm, trong đó có một số bản dịch được coi là sát nghĩa nhất có thể kể đến như bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn, Phan Huy Ích….

2. Tác phẩm

Hoàn cảnh ra đời: Đặng Trần Côn đã “cảm thời thế mà làm ra” khi chứng kiến đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp.

Giá trị nội dung và nghệ thuật: Giá trị nội dung ở tác phẩm này là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Giá trị nghệ thuật của tác phẩm này có thể kể đến như thể thơ trường đoản cú (đối với nguyên tác) hay song thất lục bát (đối với bản dịch). Hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình và phải cảm ơn nội dung bản dịch đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới, phong phú, uyển chuyển hơn rất nhiều.

Nội dung thông tin cơ bản: Chinh phụ ngâm khúc có nghĩa là khúc ngâm của người vợ có chồng đi chinh chiến, được Đặng Trần Côn viết khoảng năm 1741, nguyên tác chữ Hán dài 476 câu theo lối tập cổ. Xuyên suốt tác phẩm là lời độc thoại nội tâm của người vợ xa chồng.

Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. 

Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người tham gia chiến cuộc. Trong bối cảnh này, nàng chinh phụ hình dung cảnh chồng nàng lên đường phò vua giúp nước, ra đi với quyết tâm giành hàng loạt thành trì dâng vua, hùng dũng trong chiếc chiến bào thắm đỏ và cưỡi con ngựa sắc trắng như tuyết.

Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa. Những xúc cảm về một hình ảnh “lẫm liệt” của chồng phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thế vào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp về số phận của chồng giữa chiến trường khốc liệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân nàng.

Trong phần tiếp theo, câu chuyện chủ yếu diễn tả tâm trạng trăn trở, cô quạnh của người chinh phụ. Đó là việc chồng quá hạn không về, cũng không có tin tức gì, và người chinh phụ đành phải tính thời gian bằng chu kỳ quyên hót, đào nở, sen tàn. Đó là tâm trạng “trăm sầu nghìn não” khi người chinh phụ quanh quẩn trước hiên, sau rèm, vò võ dưới đêm khuya vắng, đối diện với hoa, với nguyệt. Đó là tâm trạng chán chường khi tìm chồng trong mộng nhưng mộng lại buồn hơn, lần giở kỷ vật của chồng mong tìm chút an ủi nhưng sự an ủi chỉ le lói, thấy thân phận của mình không bằng chim muông, cây cỏ có đôi liền cành. Cuối cùng, chán chường và tuyệt vọng, người chinh phụ đã không còn muốn làm việc, biếng lơi trang điểm, ngày đêm khẩn cầu mong được sống hạnh phúc cùng chồng.

Kết thúc khúc ngâm, người chinh phụ hình dung ngày chồng nàng chiến thắng trở về giữa bóng cờ và tiếng hát khải hoàn, được nhà vua ban thưởng và cùng nàng sống hạnh phúc trong thanh bình, yên ả.

Bởi sự kết hợp tuyệt vời giữa nội dung tác phẩm và hình thức câu, từ. “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn có thể nói là tác phẩm thơ xuất sắc nhất của văn học Trung đại.

III. Hướng dẫn phân tích tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc

Phân tích 8 câu đầu bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Nỗi cô đơn và lẻ loi của người chinh phụ.

Không gian: 

Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh

Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung- Thời gian:+ Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng

Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải

Hành động của người chinh phụ:

Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn

⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi

Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích 

Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về

Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác

Biện pháp nghệ thuật:

Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.

Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? 

⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hy vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.

8 câu thơ đầu của tác phẩm đã tạo nên một không gian vắng vẻ hiu quạnh từ ngoài vào trong. Bên ngoài là mái hiên vắng vẻ, phía bên trong là khuê phòng cô đơn…. Cùng với thời gian ban đêm vốn càng nhấn mạnh đến nỗi cô độc của người chinh phụ.

Trong bức tranh không gian và thời gian (đã phân tích ở trên) thấm đượm nỗi buồn ấy, những hành động của người vợ những tưởng chừng như sẽ làm mờ đi được nỗi nhớ nhung nhưng trái lại, nó càng gợi thêm sự cô đơn và trống trải. Người chinh phụ “dạo – gieo” từng bước, đi loanh quanh luẩn quẩn trên hiên nhà, khiến nỗi nhớ như ngưng đọng lại trong từng bước đi. Người vợ trở vào buồng và giãi bày với “ngọn đèn” – là một vật vô tri vô giác để thỏa nỗi lòng của chính bản thân mình.

Phân tích 8 câu tiếp theo bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Nỗi niềm lo lắng và bất an của người chinh phụ (tiếp)

Cảnh vật thiên nhiên:

Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm

⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ

Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu – Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:

Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương

Hành động của người chinh phụ:

Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành 

Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.

Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lý trí 

⇒ 16 câu thơ đầu của bài thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.

Chuyển sang các câu thơ tiếp theo, chúng ta có thể thấy không gian thiên nhiên đã mở rộng ra bên ngoài. Cụ thể là đoạn thơ đã có sự xuất hiện của âm thành tiếng gà gáy, của hình ảnh cây hòe phất phơ. Tiếng gà gáy khắc khoải đã nhấn mạnh sự tĩnh lặng của không gian xung quanh. Thời gian của tâm trạng được thể hiện bằng các cụm khắc “giờ – niên”; “mối sầu – biển xa” khiến nỗi cô độc càng được kéo dài ra mênh mang.

Chuyển đến những hành động trong 8 câu giữa bao gồm: “đốt hương, soi gương, gảy đàn”. Đây là chuỗi hành động tích cực những khi kết hợp với từ ngữ mang tâm thế “gượng” đã làm cho chúng trở nên đầy bất an. 

Phân tích 8 câu cuối bài thơ chinh phụ ngâm – đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ

6 câu thơ đầu:

Hình ảnh thiên nhiên:

Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.

Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.

Biện pháp nghệ thuật:

Hình ảnh ước lệ: non Yên.

Điệp ngữ vòng: non Yên, trời

Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.

⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.

2 câu thơ cuối:

Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc

Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.

⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

8 câu thơ cuối cùng, giờ đây vẫn là hình ảnh thiên nhiên được tác giả khắc họa với vài nét chấm phá, không gian trong 8 câu thơ cuối của đoạn trích đã mở rộng ra vô tận mênh mông. Đó không chỉ là không gian địa lý ngăn cách người chinh phụ với chồng, mà đó còn là không gian trống vắng của nỗi nhớ cồn cào, dai dẳng. 

Giá trị nội dung:

Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc (đoạn trích được sử dụng trong sách giáo khoa lớp 10) đã miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. 

Giá trị nghệ thuật:

Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc (đoạn trích được sử dụng trong sách giáo khoa lớp 10) đã miêu tả tâm lí nhân vật (tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm… Các biện pháp nghệ thuật khác như điệp ngữ, so sánh, từ láy, câu hỏi tu từ… cũng được sử dụng rất hiệu quả.

Top 10 luận án tiến sĩ luật đúng chuẩn nhất

Top 10 slide bảo vệ luận văn thạc sĩ đúng chuẩn nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Lời Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm (Đặng Trần Côn) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!