Xu Hướng 2/2023 # Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt # Top 5 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tiếp nữa là sự tích Thần Tản Viên, chép trong sách Lĩnh Nam Chích Quái như sau:

Truyện Núi Tản Viên

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành Thăng Long nước Nam Việt. núi cao một vạn hai ngàn ba trăm trượng, chu vi chín vạn tám nghìn sáu trăm trượng. Ba núi xếp hàng, đỉnh tròn như cái tán cho nên có tên ấy. Theo sách Ai Châu Tự của Đường tăng thì đại vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính. Thường thưòng vào những ngày quang đãng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi. Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn Thần hiển hiện. […]

Xưa kia Đại Vương thấy phong cảnh núi Tản Viên đẹp đẽ, bèn làm một con đường từ bến Bạch Phiên, đi lên phía Nam núi Tản Viên, qua động An Vệ. Ở các nguồn lạch suối đều dựng điện để nghỉ ngơi. Rồi lại đi qua ria núi đến chỏm núi có mây che thì định cư tại đó. Đôi lúc rong chơi trên sông Tiểu Hoàng Giang xem đánh cá. Phàm đi qua làng xóm đều cho dựng điện để nghỉ chân. Về sau người dân theo dấu vết các điện đó mà lập đền thờ.

Theo truyện cũ ở sách Giao Châu Ký của Lô Công, tương truyền rằng đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu. Thời vua Chu Noãn Vương, vua Hùng Vương thứ XVIII đến ở đất Việt Trì, Châu Phong, lấy Quốc hiệu là Văn Lang. Vua có ngưòi con gái tên là Mỵ Nương có sắc đẹp lộng lẫy. Thục Vương Phán cầu hôn, nhà vua không đẹp ý, còn muốn kén rể hiền.

Ít lâu sau, bỗng thấy hai người xưng là Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn. Hùng Vương truyền tỷ thí pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi núi lở, ra vào trong núi đá như không có gì trờ ngại. Thủy Tinh phun nước lên trời thành mây thành mưa. Vua nói:

– Hai vị đều giỏi phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước ta khắc gả cho

Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang ngọc quý, vàng bạc sơn cầm dã thú… các lể vật đến tiến vua, vua y cho. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mỵ Nương, cả giận đem loài thủy tộc định đánh cưóp lại. Sơn Tinh bèn sai lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một giải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào Đà Giang để đánh tậo hậu núi Tản Viên. băng qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành một cái vũng lớn để mở lối cho quân thủy tộc. Lại làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Dân ở trên núi thấy thế dựng một hàng rào đón đỡ, đánh trống gõ cối reo hò cứu viện. Thấy củi cành trôi ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành xác ba ba thuồng luồng, trôi tắc cả khúc sông.

Về sau, hàng năm, vào khoảng tháng bẩy tháng tám, vẫn thường như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, thiệt hại lúa má mùa màng. Người đời tương truyền rằng đó là Thủy Tinh tái dấu Sơn Tinh để trả hận xưa.

Sơn Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh. Đó là vị đệ nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.

Sách Việt Điện U Linh chép truyện Sơn Tinh theo sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công, có nhiều chi tiết khác với bản chép trong Lĩnh Nam Chích Quái. Truyện mượn tước phong cho thần Tản Viên làm tựa đề:

Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Ứng Vương

Xét sách Giao Chỉ Ký của Tăng Công thì Vuơng là Sơn Tinh cùng với Thủy Tinh kết bạn ở ẩn trong động Gia Ninh, thuộc về Phong châu. Khi ấy, vua Hùng Vưong có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua nước Thục sai sứ sang cầu hôn, Hùng Vương định gả. Có quan đại thần là Lạc Hầu tâu rằng:

– Không nên! Họ định mưộn cớ cầu hôn để nhòm ngó nước ta đó!

Hùng Vương e không gả sẽ gây hiềm khích. Lạc Hầu lại tâu:

– Đại vương trị một nước đất rộng dân đông, nay kén lấy một người có tài cao thuật lạ, cho là rể, rồi đặt binh mai phục để đợi, thì còn chi lo!

Hùng vương nghe lời, không gả con gái cho vua Thục, rồi cho đi khắp nơi trong nước kén người có thuật lạ. Vương và Thủy Tinh cùng ra ứng tuyển. Hùng Vương sai thử phép thuật hai người. Vương thì trông suốt qua được ngọc đá, Thủy Tinh thì xuống nước vào lửa đều được cả. Thấy hai người cùng có thuật tinh thông, vua lấy làm mừng, bảo Lạc Hầu rằng:

– Hai người cùng đáng làm rể, nhưng ta chỉ có một công chúa, biết gả cho ai?

Lạc Hầu tâu:

– Xin vua hẹn: ai dẫn lễ cưới tớùi trước thì gả cho người ấy.

Vua nghe theo, hẹn hai người về sửa lễ. Vương vềâ, ngay đêm đò sửa soạn đủ càc thứ vàng bạc, ngọc quí, sừng tê, ngà voi cùng các giống chim muông, mỗi thứ hàng trăm, sớm hôm sau đem đến dâng vua. Hùng Vương mừng, gả luôn Mỵ Nương cho Vương, Vương đón về nghỉ tại Lôi Sơn. Đến buổi chiều, Thủy Tinh cũng sắm đủ thứ trân châu, đồi mổi, san hô, và các giống cá lạ, mỗi thứ cũng đến hàng trăm. Nhưng đến nơi thì Sơn Tinh đã đón Mỵ Nương về Lôi Sơn rồi. Thủy Tinh nổi giận sua quân đuổi theo, định phá tan Lôi Sơn. Nhưng bấy giờ Vương đã dời lên đỉnh núi Tản. Thủy Tinh không làm gì nổi. Từ đó căm thù mãi, hàng năm đến mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên. Dân ờ vùng ấy cùng nhau kết gỗ thành hàng rào để làm viện trợ, giữ chân núi. Thủy Tinh không sao phạm tới được. Những dấu vết của Vương rất nhiều không thế nào kể hết.

Trùng Hưng năm thứ nhất, sắc phong Hựu Thánh Vương. Năm thứ tư, gia phong thêm hai chữ Khuông Quốc, rôi lại thêm hai chữ Hiển Ứng.

Đền chính thờ Tản Viên ở huyện Bất Bạt, Sơn Tây, nay là Hà Tây.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép truyện thần Tản Viên, trong Kỷ Hồng Bàng Thị, với đôi chút khác biệt như sau:

Cuối đời Hùng Vương, vua có con gái là Mỵ Nương, người xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng Hầu can rằng:

– Họ muốn dòm nưóc ta, mượn việc hôn nhân làm cớ thôi.

Thục Vương vì chuyện ấy để lòng căm giận. Vua muốn tìm người đáng giá, bảo bề tôi rằng:

– Đứa bé này là giống tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể.

Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lậy ở dưới sân rồng để cầu hôn. Vua lấy làm lạ hỏi. Đáp rằng một người là Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi nước, nghe nhà vua có thánh nữ, đánh bạo tới xin mệnh lệnh. Vua nói:

– Ta có một con gái, có thể gả cho cả hai vị thế nào được!

Mới hẹn đến ngày mai vị nào đem đủ sính lễ đến trước thì gả cho. Hai người nhận lời rồi lậy tạ ra về.

Ngày mai Sơn Tinh đem châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng, đủ các thứ đến dâng. Vua y lời gà công chúa cho Sơn Tinh. Sơn Tinh đón vợ về núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, tức giận kéo mây làm mưa, dâng nước lên tràn ngập, đem loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm để chặn. Thủy Tinh theo dòng sông khác từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai, rồi dọc theo bờ lên cửa Hát, ra sông lớn mà rẽ vào sông Đà để đánh núi Tản Viên. Chỗ nọ chỗ kia đào chằm lằm vực, chứa nước để mưu đánh úp. Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi người Man đan tre làm rào để chắn nước, lấy nỏø bắn xuống, các loài thủy tộc trúng tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc không sao xâm phạm vào núi Tản Viên được. […]

Mỵ Nương lấy Sơn Tinh, Thục Vương căm giận dặn con cháu phải kiêm tính lấy nước Văn Lang. Đến cháu là Thục Phán dùng qủøy lược mới thắng được nước ấy.

Tục truyền rằng từ đấy về sau, Thủy Tinh hàng năm vẫn dâng nuớc lên cao tính kế trả thù Sơn Tinh.

Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam chép thánh tích Thần Tản Viên với nhiều chi tiết. Theo Tản Viên Sơn Ngọc Phả thì:

Vào cuối thời Hùng Vương, có vợ chồng một vị trưởng lão ở Sơn Tây, cả đời sống hiền lành nhân đức. Một lần nhìn thấy rồng hiện xuống hút nước lão bà bỗng thấy trong người cảm động, mang thai và 14 tháng sau sinh con trai, đặt tên là Nguyễn Tuấn hay còn gọi là Nguyễn Tùng. Năm Nguyễn Tuấn lên sáu tuổi thì Nguyễn trưởng lảo qua đời. Hai mẹ con tới nương nhờ bà Ma Thị Cao, con gái thần núi Tản Viên. Bà Cao nhận Nguyễn Tuấn làn con nuôi. Thủa niên thiếu, Tuấn lên núi chặt cây gặp thần Thái Bạch, và được thần cho một cây gậy và dậy cho một câu thần chú để cứu đời. Sau đó, Tuấn lại cứu sống một con rắn, nguyên là con Long Vương, bị trẻ chăn trâu đuổi đánh,.Vi thế Tuấn được Long Vương cho một cuốn thiên thư, xem có thể hiểu thấu mọi việc trên trới dưới đất. Khi bà Cao sắp qua đới, bà phong cho Nguyễn Tuấn cai quản muôn vật trên núi Tản Viên, người đời gọi là Sơn Tinh… Gặp khi vua Hùng Duệ Vương kén chồng cho công chúa Mỵ Nương, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh và được phong làm phò mã. […]

Về sau, vua Thục đem quân sang đánh Hùng Duệ Vương. Vua sai Sơn Tinh đi dẹp giặc, nhờ có gậy thần, Sơn Tinh phá được quân Thục. Nhân đó Sơn Tinh được vua Hùng trao quyền trị nước. Sơn Tinh chỉ nhận chức trong ít ngày rồi xin vua cho đi chu du khắp nơi trong nước. Về sau, vua Thục sang cầu hòa. Sơn Tinh nghĩ là vua Thục với vua Hùng cùng một dòng dõi, nên khuyên vua Hùng truyền ngôi cho vua Thục. Rồi đó vợ chồng Tản Viên cùng Hùng Duệ Vương cỡi mây bay về trời. Thục Vương nhớ ơn ấy bèn cho lập đền thờ. Đời sau người đời gọi Sơn Tinh là vị tổ của bách thần nước ta.

Qua sự tích Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương, Thần Tản Viên và công chúa Liễu Hạnh, người đọc thấy hình ảnh bất tử trong sự tích Chử Đồng TửÛ, Phù Đổng Thiên Vương cùng thần núi Tản Viên tức Sơn Tinh và công chúa Liễu Hạnh lần lượt là hình ảnh bốn vị thần linh này cùng bay lên trời. Hình ảnh bay lên trời này hẳn là một hình ảnh quan trọng, vì chính vì hình ảnh này mà vua Lý Nhân Tông đã gia phong thêm hai chữ Xung Thiên cho Phù Đổng Thiên Vương.

Trong tiếng Việt Nam, đại chúng có câu:

Tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ Mẹ

Cha là tiếng đại chúng chỉ Đức Trần Hưng Đạo, giỗ nhằm ngày 20 tháng tám âm lịch, tín chúng đông đảo trẩy hội tại đền Kiếp Bạc, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, ngày đó cũng là ngày hội lớn tại đền Bảo Lộc, ở làng Tức Mạc, tỉnh Nam Định, quê tổ của dòng họ Trần. Mẹ là Đức Thánh Mẫu Phủ Giầy, giỗ ngày 3 thàng 3 âm lịch.

Đức Trần Hưng Đạo, tên là Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh Vương Trần Liễu tức anh vua Trần Thái Tôn. Dưới triều vua Trần Nhân Tôn, quân nhà Nguyên hai lần (1284-1285) và (1287-1288) sang xâm chiếm nước Đại Việt ta, ông đươc vua cử làm Tiết Chế thống lĩnh chư quân, dẹp tan quân Mông Cổ, và được phong là Hưng Đạo Đại Vương. Đức Thánh Trần Hưng Đạo, không những là một vị tướng đại tài, còn là một nhà quân sự xuất chúng sáng tác cuốn Binh Thư Yếu Lược, tóm tắt những điều cốt yếu về các sách dụng binh, ngoài ra ngài còn soạn bài Hịch Tướng Sĩ, một áng hùng văn không có áng hùng văn nào sánh kịp trong nền văn học nước nhà. Đằng khác, trong tín ngưỡng đại chúng, Sách Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên, phần phụ lục do Ngô Giáp Đậu trùng bổ, chép truyện về Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nguyên văn chữ nho, và Trịnh Đình Rư dịch như sau:

Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương

Vương họ Trần, tên là Quốc Tuấn, con An Sinh Vương Liễu, được phong là Hưng Đạo Đại Vương.

An Sinh Vương với vua Trần Thái Tông có hiềm khích, khi sắp mất, cầm tay vương dặên rằng:

– Nếu con không vì cha mà lấy thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt.

Vương suy nghĩ kỹ, hành động rất cẩn thận. Trong thời Trùng Hưng(1285-1292), đánh phá quân Nguyên hai lần, dựng nên vũ công bậc nhất thời ấy. Khi mất vua sai lập đền thờ.

Vềâ sau hễ có giặêc đến, rước kiếm trong đền ra trận tất đại thắng. Đền thờ Vương trị bệnh Phạm Nhan rất thần hiệu. Tục truyền: Nhan họ

Nguyễn, tự là Bá Linh, cha hắn là khách buôn ở Quảng Đông, mẹ là người làng An Bài nước ta. Nhan thi đậu tiến sĩ đời Nguyên, biết thuật phù thủy, thường lẻn vào hậu cung, bị bắt, sắp đem giết. Ngay khi đó, gặp lúc nhà Nguyên cất quân sang đánh nước ta, Nhan xin với vua Nguyên làm hướng đạo để chuộc tội. Vua Nguyên thuận cho.

Trong trận Bạch Đằng, Nhan bị Hưng Đạo Vương bắt sống, đem về hành hình tại làng mẹ, đầu vứt xuống sông.

Có hai người đánh cá vớt được, quằng đi mấy lần, đầu lại vào lưới.Thấy lạ, người đánh cá mới khấn rằng: Hồn có thiêng giúp bọn tôi đuợc nhiều cá, thờ sẽ mai táng cho. Hôm ấy quả được cá rất nhiều. Bèn mang đầu lên bờ mai táng. Hồn rất thiêng, thường hiện lên cùng bọn đánh cá chơi đùa, lâu ngày thành quen, mọi người lập đ mới khấn

Trước khi Nhan bị hành hình có hỏi Đại Vương rằng:

– Sau khi tôi chết Đại Vương cho ăn gì?

Đại Vương nổi giận nói:

– Cho mi ăn sản huyết đàn bà.

Sau đó hồn Nhan đi khắp trong nước, hễ thấy đàn bà đến kỳ thai sản thì đi theo, làm cho người ấy ốm đau liên miên không thuốc nào chữa khỏi. Nhưng hễ người nhà lên lễ đền Đại Vương, xin mảnh chiếu cũ trong đền đem về cho bệnh nhân nằm và lấy tàn hương ở đền, đem hòa nước cho uống thì liền khỏi bệnh. Có người vừa đem mảnh chiếu về đến nhà thì bệnh nhân đã khỏi bệnh. Sự anh linh ứng nghiệm kỳ lạ phần lớn là thế.

Trong Quyển V, Kỷ nhà Trần Thái Tôn Hoàng Đế, sử cũ ghi lại hình ảnh Trần Quốc Tuấn thời trẻ như sau:

Năm Tân Hợi (1251) , vua [Trần Thái Tôn] đem trưởng công chúa Thiên Thành gả cho Trung Thân Vương (không rõ tên). Con trai An Sinh Vương là Quốc Tuấn lập tâm cướp công chúa. Ngày 15 tháng ấy vua mở đại hội bẩy ngày đêm, bày các đồ làm lễ kết tóc cùng các trò chơi, cho người trong triều ngoài nội chơi xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước cho công chúa Thiên Thành ở nhà của Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha sinh ra Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành mà không làm sao được, nhân ban đêm lẻn vào phòng công chúa. Công chúa Thụy Bà (chị ruột vua Trần Thái Tôn, cô ruột của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cấp cáo. Người coi cửa vội vào tâu , vua hỏi chuyện gì. Thụy Bà trả lời: Không ngờ Quốc Tuấn điên cuồng càn giỡ, đang đêm vào chỗ Thiên Thành ở, Nhân Đạo Vương đã bắt giữ rồi, sợ bị giết, xin bệ hạ thương cho mà sai người đến cứu. Vua vội vã sai người tới nhà Nhân Đạo Vương. Đến nơi thấy im lặng, bèn tới chỗ công chúa Thiên Thành ở thì thấy Quốc Tuấn ở đấy. Nhân Đạo Vương bấy giờ mới biết truyện. Hôm sau Thụy Bà dâng mười mâm vàng sống tâu rằng: “Vì vội vàng không sắm đủ lễ vật.” Vua bất đắc dĩ đem công chúa Thiên Thành gả cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảng ruộng Ứng Thiên để trả của cho Trung Thành Vươ trả

Nhưng 34 năm sau, nhằm năm ất dậu (1285) nhân kỳ quân Nguyên đánh vào bến Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân nhà Trần chạy tan tác. Sử cũ ghi lại một hình ảnh mô tả hành động cẩn thận của Trần Quốc Tuấn như sau:

Thế quân giặc bức bách, vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa quân giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Quốc Tuấn vốn tự phụ kỳ tài, lại có mối hiềm của An Sinh Vương, mọi người có ý ngờ vực. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm cái gậy, đầu có sắt nhọn, mọi người gườm mắt nhìn, Quốc Tuấn bèn vứt cái sắt nhọn đi, chì cầm gậy thôi.

Rồi chín năm sau, năm giáp ngọ (1294) dưới triều vua Trần Anh Tôn, nhân dịp Chiêu Minh Vương chết, sử cũ còn ghi thêm một hình ảnh khác biểu lộ hành động cẩn thận của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như sau:

Trước kia, vua Trần Thánh Tôn thân đi đánh giặc, Quang Khải theo hầu, ngôi Từ Đồ bỏ chống. vừa gặêp sứ phương Bắc sang, thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn bảo rằng: Thượng Tướng đng Quốc Tuấn bảo rằng: ?Thượng cho khanh làm Tư Đồ để tiếp ứng sứ phương Bắc. Quốc Tuấn trả lời: Việc tiếp ứng sứ phương Bắc, thần không dám từ chối, còn việc cho thần làm Tư Đồ thì thần không dám vâng chiếu. Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu, nay thượng hoàng phong cho thần chức ấy, thì tình nghĩa trên dưới sợ có chỗ chưa ổn, không được thỏa lòng quan gia và Bắc?. Quốc

Đối chiếu văn giáng bút của Thánh Mẫu Phủ Giầy với những hình ảnh đức Thánh Trần Hưng Đạo người đọc sử cổ không khỏi không nhận ra những hình ảnh đức Thánh Trần ghi chép trong sử cổ chẳng khác gì những tấm gương sáng biểu thị lời khuyến thiện trong văn giáng bút khiến người theo đạo Thánh theo đó tu thân sửa tính, buông danh bỏ lợi để cuộc sống thanh nhàn an lạc.

Đằng khác, bản văn nhấn mạnh về sự linh ứng trong việc đến lễ bái xin tàn hương nước thải chữa bệnh tại đền Kiếp Bạc, như vậy rõ là, theo tập tục của đại chúng, Thánh Mẫu Phủ Giầy cũng ban phép lạ cải tử hoàn sinh, tiêu trừ phiền não tựa như đức Thánh Trần Hưng Đạo cũng như Đạo Tổ Chử Đồng Tử vàTây Điện Thánh Mẫu.

Sự việc đại chúng còn tôn vinh công chúa Liễu Hạnh là Thánh Mẫu, hay vắn tắt là Mẹ ngang hàng với Đức Thánh Trần, một vị tướng lãnh hiểàn hách trong lịch sử dân tộc, mà người người gọi bằng Cha, khiến người Việt Nam không thể không nhận thấy cả nước là một nhà, cùng một cha một mẹ. Ngược lại tục gọi công chúa Liễu Hạnh là mẹ và đức Trần Hưng Đạo là cha dường như biểu thị lòng đại chúng sùng kính hai vị thánh này như lòng người người thờ kính cha mẹ ruột của mình.

Sự tích Công Chúa Liễu Hạnh, trong dòng văn học đại chúng, còn là đề tài của nhiều bài hát, kèm đàn họa, ca tụng thần thánh trong việc cúng bái hay hầu bóng, quen gọi là những bài chầu văn. Bài chầu văn ca tụng Công Chúa Liễu Hạnh phổ thông nhất là bài Địa Tiên Thánh Mẫu Văn gồm 152 câu. Bài chầu văn này không theo sát với sự tích Công Chúa Liễu Hạnh trong truyện truyền khẩu.

Muời câu mở đầu bài chầu văn:

1Bóng gương loan mẫu đơn một đoá Gió lay mành hương xạ thoảng đưa Có chầu nguyệt điện tiên xưa Lánh miền cõi tục phận ưa Nam Thành 5Kiếp giáng sinh vào nhà Lê thị Cải họ trần dấu khí thiên hương Vốn sinh vẻ có phi phương Giá danh đòi một hoa vương khôn bì Ngụ thai quê phủ Giầy Thiên Bản 10Phủ Nghĩa Hưng là quán Sơn Nam

giới thiệu gia đình cha đẻ và cha nuôi Công Chúa Liễu Hạnh, nhưng không nhắc tới giấc mơ lên thiên đình của Lê Thái Công. Tình tiết mối duyên trần giữa công chúa Liễu Hạnh và Đào Lang, và sự thương xót công chúa khi về chầu Ngọc Hoàng lầân thứ nhất, rồi lại giáng lâm xuống trần về thăm cha mẹ và Đào Lang, thu gọn trong 14 câu: từ câu 11 tới câu 24. Từ câu 25 tới câu 41 là đoạn mô tả mô tả cuộc vân du của Công Chúa Liễu Hạnh khắp vùng Đồi Ngang Núi Cát, ban phúc cho người lành trừng phạt kẻ ác. Đoạn tiếp, từ câu 42 tớùi câu 54, kể lại cuộc tái hợp tại trần gian với Đào Lang tại vùng Nghệ An. Điểm đáng chú ý là tác giả bài chầu văn lấy việc Công Chúa Liễu Hạnh bỏ chồng bỏ con còn nhỏ dại đi vân du làm hình ảnh cho chữ vô thường trong cõi trần gian:

Chữ sắc không xem thường mới biết Lấy của gì là kiếp là chăng

Mười câu tiếp, từ câu 55 tới câu 65, kể lại tình tiết công chúa Liễu Hạnh ra ân ra uy khiến dân vùng Đồi Ngang Phố Cát lập đền thờ và tiếng đồn vềâ công chúa ra tới kinh đô. Từ câu 66 đến câu 79, là đoạn tả cuộc hành quân cả quân vua lẫn âm binh tới đốt phá đền thờ công chúa Liễu Hạnh. Tiếp tới một đoạn dài 40 câu kể lại truyện Ngọc Hoàng phạt dân bất kính với công chúa và gây ra dịch tễ khiến dân chúng phải xin triều đình cho tái lập đền thờ và phong thần cho công chúa, từ đó dân gian mới thoát tai ách. 32 câu tiếp bài chầu văn ca tụng hình ảnh công chúa nhập vào người hầu bóng Thánh Mẫu.

Không những chỉ làm đầu đề cho những tác phẩm đại chúng, cũng như không những công chúa Liễu Hạnh đã được đại chúng tôn vinh ngang hàng với các vị thần linh bất tử có công mở nước, ngang hàng với các vị thánh có công giữ nưóc, lấy làm thần tượng tôn thờ để cầu xin phù hộ độ trì, mà công chúa Liễu Hạnh còn là nguồn cảm hứng của những văn nhân vốn được đại chúng ưa chuộng.

Một trong những văn nhân đó là Hồng Hà Phu Nhân, khuê danh Đoàn Thị Điểm, viết Vân Cát Thần Nữ Lục, trong tập Truyền Kỳ Tân Phổ. Năm 1914, Đào Thái Hanh viết La Déesse Liễu Hạnh trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế, dựa trên sách của Đoàn Thị Điểm đồng thời tham khảo các sách Thanh Hoá Kỷ Thắng của Vương Duy Trinh, cùng Dã Sử, Đại Nam Nhất Thống Chí và Hoàng Việt Địa Dư. Năm 1944, Nguyễn Văn Huyên, viết sự tích Thánh Mẫu Phủ Giầy, dựa theo cuốn Hội Chân Biên, của Thanh Hòa Tử, xuất bản năm Thiệu Trị thứ 7, 1947. thành cuốn Le Culte des Immortels en Annam, tiếc rằng cuốn Hội Chân Biên này không còn thấy ghi trong thư mục các sách Hán Nôm của trường Viễn Đông Bác Co.ã Gần đây, Olga Dror viết luận văn Đoàn Thị Điểms ‘Story of the Vân Cát Goddess’ as a Story of Emancipation, trên tập san Journal of Southest Asian Studies, vol. 33, #1, tháng hai 2002. Mục đích của Olga Dror là phân tách truyện Vân Cát Thần Nữ của Đoàn Thị Điểm để chứng minh rằng Đoàn Thị Đểm viết truyện này với ước vọng giải phóng phụ nữ. Do đó, mặêc dầu Olga Dror đã xuất sắc phân tách Vân Cát Thần Nữ Tân Truyện cũng không cùng người đọc tìm hiểu trên các mặt truyền kỳ thần thoại cũng như tín ngưỡng bao gồm trong tác phẩm của Đoàn thị Điểm. Dựa theo cuốn Vân Cát Thần Nữ do Vũ Ngọc Khánh chủ biên truyện công chúa Liễu Hạnh tóm lược như sau:

Tại làng Vân Cát, huyện Thiện Bản tỉnh Nam Định, có nhà hằng tâm hằng sản Lê Thái Công, dốc lòng thờ Thượng Đế và chuyên lo làm phúc. Dầu tuổi đã quá bốn mươi, ông mới chỉ có một con còn nhỏ tuổi. Vào năm Thiên HựÏu đời Lê (1557) Thái Bà có tin mừng, nhưng gần tới cữ bỗng mang bệnh, mặc dầu nhiều thầy nhiều thuốc bệnh vẫn một ngày một thêm nặng, bỏ ăn bỏ uống chỉ còn thiết ngửi hương hoa.

Trung thu năm đó, tiết trời trong sáng. Một đêm, có người áo lá mũ rơm tới gọi cổng nhà Lê Thái Công, nói là muốn ra mắt gia chủ chữa bệnh cho Thái Bà. Ngưòi nhà không mở cổng. Người đó lớùn tiếng nói rằng:

– Ta từ cõi âm về đây, thấy gia chủ là người phúc thiện, muốn ra tay trợ giúp, cớ sao xua đuổi ta?

Lê Thái Công, nghe thấy vậy, thân ra mở cồng mời vào. Khách xõa tóc, niệm thần chú, rồi ném chiếc búa ngọc cầm trong tay xuống đất. Tức thời Lê Thái Công ngã xuống ngủ thiếp. Trong mơ, Lê Thái Công thấy như hồn lìa khỏi thân, bổng bay theo ba người dẫn đường. Quanh ông chỉ có ánh sáng bàng bạc như ánh trăng. Chẳng bao lâu bốn người tới một cổng thành vĩ đại. Qua cổng thành, ca bốn người cùng thay đổi áo quần, rối tiếp tục leo lên chín bậc cung trời.

Qua khe cửa sổ, Lê Thái Công nhìn thấy Ngọc Hoàng ngự trên ngai vàng, hai bên tả hữu có đủ mặt quần thần sắp hàng đứng chầu. Tất cả đều trang phục áo triều giát vàng đính ngọc, kim cương lộng lẫy.Trên mâm ngọc đặt trước ngai rồng có những trái đào mới hái tự Dao Trì, ăn vào sẽ trường sinh, lại có nậm rượu thần tiên uống vào sẽ bất tử. Theo tiếng nhạc Quân Thiều, một đoàn tiên nữ uyển chuyển múa khúc Nghê Thường. Rồi có một tiên cô, xiêm áo một mầu hồng, tay nâng chén ngọc tha thướt bước ra dâng rượu lên Ngọc Hoàng. Bỗng nhiên, chén ngọc rớt khỏi tay tiên vỡ tan trên thềm. Quần thần đều hướng mắt nhìn tiên cô áo hồng. Từ bên trái sân rồng tiến ra một vị thần, qùy trước ngai rồng, lên tiếng đọc một đoạn muời hai chữ trong một cuốn sách vàng. Không khí sân rồng căng thẳng sơ ï hãi. Rồi từ điện trên có lời phán:

– Ngươi thực không muốn ở chốn thượng giới đây nữa .

Tức thời có hai hộ sĩ cùng một bầy tiên nữ quây quanh tiên cô áo hồng, dẫn nàng đi ra khỏi sân rồng bằng lối cửa Bắc. Đi đầu đám quần tiên là một tấm bẳêng viết chữ thiếp vàng, nhưng từ xa Lê Thái Công chỉ đọc đươc hai chữ sắc giáng. Ông hỏi nhỏ người dẫn đường truyện gì vậy? Họ trả lời ông là Quỳnh Nương công chúa, lỡ đánh vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống hạ giới. Liền đó có một vị thần bước ra khỏi điện lớn tiếng dọa nạt:

– Các người là ai? Sao dám đến đây xầm xì?

Ba người dẫn lối thưa:

– Chúng con là bọn ngũ lôi thần binh, đang đợi lệnh ngọc hoàng.

Nói đoạn, họ bèn kéo Lê Thái Công bay về hạ giới. Lê Thái Công bừng tỉnh, trong lòng khấp khởi mừng rỡ vì Thái Bà đã khỏi bệnh. Khắp nhà ngào ngạt hương thơm và lồng lộng ánh sáng như trên thượng giới. Người nhà báo tin Thái Bà hạ sinh con gái. Lê Thái Công sai tìm người khách lạ, nhưng khách đã biệt tăm cùng chiếc búa ngọc. Nhớ lại cảnh chính mắt nhìn thấy trên thượng giới, Lê Thái Công tin chắc là công chúa Quỳnh Nương vừa giáng lâm vào nhà ông, và ông đặt tên con là Giáng Tiên.

Đến tuổi dậy thì, Giáng Tiên mình thắt đáy lưng ong, da trắng như tuyết, tóc mây óng mưọt, mày ngài tựa liềm trăng, mắt sáng như nước hồ thu. Tóm lại nàng là một tuyệt sắùc giai nhân mà

không có bút thần nào tả trọn vẹn nổi. Nàng còn giỏi thơ phú xướng họa, đàn sáo ngũ cung chẳng món nào chẳng thạo. Tính tới truyện gả chồng cho con, Lê Thái Công cho Giáng Tiên sang làm con nuôi Trần Công, một ông bạn thiết ở cùng làng.

Giáp nhà Trần công, có một vị hưu quan hiếm muộn không có con trai. Tuy nhiên hai mươi năm về trước, quan ngài nhân dạo chơi trong vưòn thấy một đứa bé trai bỏ rơi dưới gốc đào, bèn bế về nhận làm con nuôi đặt tên là Đào Lang. Khi Giáng Tiên về làm con nuôi Trần Công, thời Đào Lang đã tới tuổi trưởng thành. Vị hưu quan trọng tài sắc cùng đức hạnh Giáng Tiên ngỏ ý cùng Trần Công xin cưới Giang Tiên cho Đào Lang. Lê Thái Công cùng Trần Công hoan hỉ gả Giáng Tiên cho người cùng làng.

Sau lễ cưới, Giáng Tiên cùng chồng sống trong cảnh hòa thuận tương kính. Cha mẹ đôi bên cùng khen đôi trẻ hiếu thảo. Năm sau Giáng Tiên sinh một con trai, rồi thấm thoăùt ba năm trôi qua kể từ ngày nàng về làm vợ Đào Lang. Tới ngày mùng ba tháng ba, không đau không ốm, Giáng Tiên, vừa tròn hai mươi mốt tuổi, bỗng đột ngột từ trần, để trống vắng thương nhớ cho chồng trẻ và cha mẹ già, nhưng riêng nàng thì thời hạn lưu đầy xuống trền thế đã mãn và được phép quay lại thượng giới.

Về tùới thượng giới, nhưng lòng Giáng Tiên còn vương vấn cõi trần, mặt ủ mày chau, lẹ rơi ướt má. Quần tiên không có cách nào hơn là xin Ngọc Hoàng cho Giáng Tiên tái giáng trần. Ngọc Hoàng ưng thuận và phong nàng làm Liễu Hạnh Công Chúa.Tiên Chúa vâng lệnh, trở lại trần gian đúng hai năm, vào kỳ mãn tang nàng và hiện về nhà cha mẹ ruột.

Từ ngày Giáng tiên về trời, Thái Bà không lúc nào không thương nhớ đứa con vắn số. Xế trưa đó, Thái Bà vào phòng riêng con gái khi xưa, bà thấy cây đàn của Giáng Tiên nay đầy mạng nhện, ống sáo của nàng mốc phủ xanh, mấy bài thơ đắc ý dán trên tường giấy đã vàng mực đã nhòe. Thái Bà mủi lòng thổn thức ngất xỉu. Tiên Chúa hiện ra trên ngưỡng cửa reo lên:

– Mẹ ơi! Xin mẹ đừng quá thương con. Con về với mẹ đây.

Thái Bà xửng xốt:

– Con từ đâu về đây? Con chưa chết thật sao?

Tiên Chúa, chan hoà nước măt, nhìn mẹ nói không ra lời. Lê Thái Công, cùng Trần Công và Đoàn Lang, người anh của Tiên Chúa, nghe tin

mừng mừng tủi tủi vội chạy tới. Tiên Chúa qùy xuống dưới chân cha mẹ và thưa:

– Con thật bất hiếu, để sầu khổ cho cha mẹ, chẳng phải con không muốn sống nơi đây trong sự nuông chiều của cha mẹ, nhưng mà trong cõi trần này ai tránh khỏi số. Xin cha mẹ đừng buồn và xin cha mẹ đừng thương nhớ con nữa.

Nói lời, rồi Tiên Chúa quay sang dặên dò anh phải hết lòng thờ phụng cha mẹ, rồi bước ra cửa. Trần Công, cha nuôi của Tiên Chúa, dơ tay giữ nàng lại và hỏi:

– Từ ngày con từ trần, cả nhà cùng thương nhớ con. Nay con về đây, hãy nán lại, đi đâu mà vội vàng thế?

Tiên Chúa thưa:

– Thưa thầy, con chẳng dám dấu thầy, con là con gái Ngọc Hoàng, vì lầm lỗi, bị giáng xuống trần, nay con mãn hạn lại phải quay về thượng giới. Hôm nay con về thăm thầy và cha mẹ con, vì con không quên được những ngày sống dưới gối cha mẹ con và thầy. Nay con chỉ là hồn không xác, không sao ở lâu trên dương trần này được. Thầy cũng như cha mẹ con đều là những người phúc thiện, con chắc là rồi còn được gặp lại thầy và cha mẹ nơi thượng giới.

Dứt lời Tiên Chúa biến mất.

Về phần Đào Lang, sau khi vợ chết ít lâu, chàng bỏ làng mang con về sống tại kinh đô. Chàng sống tại một nơi hẻo lánh, chẳng còn màng gì đến việc đèn sách học hành. Một đêm mùa thu, dưới mái nhà tranh, trong ánh đèn mờ, chàng ngâm hai câu thơ cám cảnh, ru con ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ của. Đào Lang mở cửa và thấy người vợ vắn số hiện trưóc măt. Chàng nắm áo vợ và nói:

– Từ ngày âm dương đôi ngả, không những ta mất người vợ hiền, mà còn mất cả người cùng ta chia sẻ lẽ sống. Vết thương lòng không phương hàn gắn. Chẳng còn gì ràng buộc ta với cõi đời này nữa. Không có nàng ta sống cũng như chết trong sầu thương.

Tiên Chúa đáp lời

– Xin chàng chớ nhầm. Lòng vả cũng như lòng sung. Chẳng ai chôn vùi tương lai trong cảnh góa bụa. Chàng còn cha mẹ già để thờ phụng, còn đứa con thơ để nuôi dậy cho nên người. Trách nhiệm đó trao cho ai mà chàng tính truyện đi theo thiếp. Chẳng dấu gì chàng, thiếp vốn là công chúa con Ngọc Hoàng, và chàng vốn là Đế Sở Tinh Tào. Sách trời đã định là cuộc xum họp giữa đôi ta đến đây tạm ngưng, hai chục năm nữa chúng mình lại tái hợp xin chàng đừng quá lo.

Tiên Chúa ở lại bên Đào Lang hết đêm đó. Sáng sớm hôm sau, sau khi nhắc nhờ Đào Lang phải giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ già, Tiên Chúa bay bổng biến mất trong mây.

Từ bữa đó, Tiên Chúa vân du khắp chốn, biến hiện khôn lường. Đôi khi hiện làm cô gái đẹp thổi sáo dưới trăng. Có lần hiện làm bà lão ngồi kề bóng tre bên vệ đường. Bất kỳ ai lên tiếng trọc ghẹo đều mang vạ.Vàng lụa do người được Tiên Chúa phù hộ tiến dâng, Tiên Chúa thường mang về kính biếu đỡ đần cha me. Hai năm sau, cha mẹ ruột cùng cha nuôi lần lượt qua đời. Năm sau đến lượt Đào Lang. Chỉ còn người anh Tiên Chúa trông nom đứa con nhỏ của Tiên Chúa.

Từ đó không còn ràng buộc với cõi trần, Tiên Chúa vân du khắp chốn danh lam thắng cảnh khắp nơi trong nước. Tiên Chúa lên vùng Lạng Sơn thăm chùa cổ trong động đá. Tiên Chúa viếng cảnh núi sông rộng, cùng chốn chợ búa đông đúc, như chợ Hoà Nhai, thành Hoành Đình, tháp Báo Thiên, bến Đông Tân Nơi nơi Tiên Chúa đều giáng bút lưu niệm. Một ngày nọ, Tiên Chúa hiện làm chủ quán rượu bên Hồ Tây, trong một buổi xế trưa cùng Phùng Sinh, Ngô Sinh và Lý Sinh làm thơ liên hoàn vịnh cảnh hồ. Sau đó ba nhà thơ quay lại chốn cũ, thì chằng còn thấy quán hôm trước mà chỉ còn nghe tiếng ve than trên cây tiếng ếch kêu ven nước. Đọc lại bài thơ liên cú cùng làm bữa trước ba người nhận ra cô chủ quán không phải là nàng Thơ, không phải là nữ thần Hồ Tây mà chính là Công Chúa Liễu Hạnh.

Ít năm sau Tiên Chúa hiện ra tại làng Sóc Hương, thuôc tỉnh Nghệ An. Sóc Hương có cảnh thanh tú. Mạn Bắc có một giải núi, trong thung lũng có một con suối uốn khúc, hai bên bờ suốiø là một vườn đào cành lá xum xuê.Đang giữa mùa hè, trời nắng trang trang nung nóng cát mà vẫn thoang thoảng gió mát. Tiên Chúa ngồi dưới gốc đào, tầm mắt đảo từ rặng núi xa, về dòng suối trong vắt và rặng đào lá xanh hoa thắm. Trên cành ríu rít tiếng chim, dưới khe tung tăng cá lội, hoa đào từng cánh từng cánh rụng xuống lòng suối chẩy triền miên. Cảnh xinh làm Tiên Chúa nhớ lại những ngày sống trên thượng giới, Để xua đuổi nỗi nhớ, Tiên Chúa dạo bước trong rừng đào. Vừng ô dần khuất sau núi, và bóng chiều dần xuống mỗi lúc một dầy. Tiên Chúa trầm mình trong cõi mộng. Bỗng nhiên, tới cuối đường mòn Tiên Chúa găp một nho sinh, tuổi chừng đôi mươi, hình dáng nho nhã, tay cắp sách, đang rảo bước về xóm Đoài. Tiên Chúa lên tiếng hỏi thăm đường. Chàng thư sinh dường không nghe thấy tiếp tục tiến bước không trả lời. Tiên Chúa nhận ra chàng thư sinh là hoá thân của Đào Lang, bèn rút trâm vạch trên thân cây một bài thơ tặng chàng. Chàng nho sinh chính là Đào Lang tái sinh vào một gia đình nề nếp, nhưng chẳng may loạn lạc đã khiến thành một chàng trai mồ côi không còn nơi nương tựa. Tuy nhiên trong cảnh bần hàn, chàng vẫn theo học mấy vị túc nho trong làng. Chiều đó, từ trường về chàng đã gặp Tiên Chúa.

Mấy bữa sau, cũng từ trường về, Đào Lang chợt dừng bước tại khúc đường mà bữa trước chàng gặp người phụ nữ hỏi thăm đường. Chàng chợt thấy bài thơ khắc trên thân cây đào. Đọc kỹ bài thơ chàng chắc chắn là tác giả bài thơ đó không ai khác là thiếu phụ hỏi đường bữa trước. chàng liền họa nguyên vận và khắc bài họa cạnh bài xướng. Rồi chàng thơ thẩn quên về dầu trời chiều đã nhọ măt người. Liền mấy ngày sau, trời mưa không dứt, khiến Đào Lang buồn bực chịu trói chân ở nhà. Khi trời mới hừng nắng, chàng vội chạy ra gốc đào thăm hai bài thơ khắc trên cây sau trận mưa ngâu. Thấy hai bài thơ khắc trên cây, nét chữ còn tươi khiến chàng mừng trong dạ, nhưng đồng thời như mê mẩn không muốn dời bước. Chợât chàng nghe tiếng bước chân tới gần sau lưng, quay lại thì chàng nhìn thấy Tiên Chúa. Sau lời chào hỏi thường lệ, cùng lời khen tụng hai bài thư xướng họa, câu truyện giữa hai người quay về buổi gặp gỡ lần đầu.

Tiên chúa nói:

– Thiếp là con là khoa hoạn, ở cách đây không xa. Cha mẹ khuất núi, thiếp dời về đây.

Đào Lang trả lời:

– Ta cũng cùng một cảnh côi cút như nàng, và chưa tính tới truyện tạo đoan. Ta ước ao cùng nàng kết nghĩa.

Tiên Chúa nhìn xuống, đỏ mặt không đáp. Thế rồi, đêm đó trời sáng sao, giải Ngân Hà rực rỡ như chưa từng thấy; gió mát hây hẩy, bụi hồng ngát hương. Tiên Chúa và Đào Lang thành vợ thành chồng. Một năm sau Tiên Chúa hạ sinh con trai.

Từ ngày lấy vợ Đào Lang sao lãng việc học mà chỉ mê mải làm thơ. Rồi tới một chiều, Đào Lang về tới nhà chậm hơn mọi ngày, cháng đưa roi thơ cho Tiên Chúa đang ngồi dệt bên khung cửu. Tiên Chúa dịu dàng nói:

– Thơ chàng thật chẳng ai sánh kịp. Nhưng không phải vì thơ mà chàng mài miệt bút nghiên bấy lâu nay. Nhưng xin chàng nghe thiếp phận trai là thờ vua trị nước giúp dân. Vậy phải dùi mài kinh sử hơn là chau chuốt vần thơ để nổi danh thi bá

Nghe vợ nói, Đào Lang nghiêng mình hứa cùng vợ là chàng sẽ chiếm bảng vàng trong khoa tới. Như lới hứa, Đào Lang thi đậu liền ba khoa thi hương thi hội thi đình, và được bổ vào làm tại viện Hàn Lâm.Từ ngày đại đăng khoa, Đào Lang và vợ sống một chuỗi ngày đầy hạnh phúc. Thế rồi một chiều mùa đông, Tiên Chúa, mắt nhòa lệ nói với chồng:

– Thiếp không phải là ngưởi dương thế mà vốn là con Đức Ngọc Hoàng, thiếùp lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên mói bị giáng xuống trần gian. Còn chàng vốn là một vị tinh tào. Trước đây đôi mình đã có một thời làm vơ. làm chồng, mối tơ duyên đó đã đứt khi thiếp hết hạn lưu đầy trở lại thượng giới. Rồi đôi mình lại có dịp tái hợp. Nay lại tới ngày thiếp phải về thượng giới, dầu không muốn cũng không sao khác được.

Đào Lang nghe truyện, xửng xốt hồi lâu nói không ra lời, rồi bật lên khóc nức nở. Chàng năn nỉ vợ giáng ở lại cùng nhau thêm ít năm tháng nữa. Nhưng có ai thoát khỏi số trời. Trống sang canh ba Tiên Chúa bồng con trao cho chồng, rồi xụp lậy giã từ. Đào Lang nắm tay Tiên Chúa như không muốn dời. Nhưng ngoài cửa đã có một cỗ xe loan cùng một đoàn tiên nữ đứng đợi. Tiên Chúa nhẹ rút tay khỏi tay Đào Lang, lẹ bưóc lên xe. Cỗ xe cùng bầy tiên và Tiên Chúa biến mất dạng trong bóng đêm. Đào Lang xúc động ngất xỉu.

Từ ngày đó Đào Lang không màng tới việc quan. Khoa hoạn chỉ còn là hai chữ vô nghĩa. Chàng làm sớ từ quan khi tròn ba mươi tuổi. Quay về cõi vườn đào, chốn xưa chàng gặp gỡ Tiên Chúa, Đào Lang sống đời ẩn dật, vui cùng bầu rượu túi thơ và chú tâm rèn luyện cho đứa con theo sở nguyện của Tiên Chúa. Người con Đào Lang cũng đền đáp công ơn cha mẹ học hành đỗ đạt vinh hiển.

Tiên chúa khấu đầu trước ngai rồng. Ngọc Hoàng phán hỏi:

– Giáng lâm cõi Nam chuyến này hẳn con được toại ý.

Tiên Chúa nói:

– Sau năm con giáp lưu đầy hạ giới, con xin tâu lên vua cha là lòng con còn quyến luyến dám trời Nam, và con lại xin vua cha cho con được xuống cõi Nam thêm một lần nữa.

Suy nghĩ hồi lâu, Ngọc Hoàng chấp thuận, và truyền cho Hồng Nương và Quế Nương theo hầu Tiên Chúa, giáng lâm giữa ban ngày xuống vùng Phố Cát, thuộc tỉnh Thanh Hoá.

Phố Cát là một vùng đồi núi trùng trùng, đất cát mầu mỡ, rừng rậm sông sâu. Tiên Chúa và hai vệ nữ ban ân cho người lành, hành tội kẻ dữ. Dân chúng trong vùng chung nhau lập dền thờ tráng lệ. Tiếng đồn vang tới kinh đô.

Năm Cảnh Trị đời Lê (1662), triều đình sai quân phá đền. dẹp tà thần. quân vua trảy về Phố Cát còn có nhiểu phương sĩ cao tay ấn từ khắp nơi trong nưóc theo phò. Tới nơi, quan quân dán bùa trừ tà, dẹp âm binh, rồi tiến về đền. Tiếng chiêng tiếng trống thúc quân, tiếng tên bay, tiếng ngựa hí, tiềng voi gầm, tiếng người reo ho, tiếng súng thần công vang dộâi khắp vùng đồi núi. Rồi mưa như thác đổ, xấm chớp liên hồi. Cuối cùng quân vua đốt trọn ngôi đền thành tro.

Kết quả là chiến trận làm sinh linh tan tác, cả chim trời cá biền cũng lâm cành lầm than, và làm Tiên Chúa nổi giận. Thế rồi dịch tễ lan tràn, người vật chết như ngả rạ. Người Phố Cát đều tin là Tiên Chúa tác oai. Hào lý trong vùng dâng sớ về kinh báo tin và đồng thời xin triều đình tìm cách cứu dân.

Trước oai linh Tiên Chúa, triều đình cho phép xây đền Phố Cát và sắc phong Tiên Chúa làm Mã Cái Công Chúa. Mã Cái là danh hiệu thời nhà Lê có nghĩa là Thánh Mẫu. Từ đó dân vùng Phố Cát mới khỏi nạn dịch tễ. Sau đó lại tấn phong la Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương. Sang đời nhà Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ sáu (1845) sắc phong lên hàng Thượng Đẳng Thần. Rồi vua Tự Dức (1853), vua Đồng Khánh (1887) và vua Thành Thái (1903) lần lượt tái phong Tiên Chúa làm Thượng Đẳng Thần.

Đông đảo người Việt Nam sùng tín Thánh Mẫu Liễu Hãnh. Hầu hết đền chùa đều có điện thờ Thánh Mẫu. Tại đền Phủ Giầy hàng năm còn mở hội vào ba ngày mùng bẩy mùng tám và mùng chín tháng ba.

Người đọc tìm thấy tung tích Đào Lang và người con trai qua thần tích Thường Lạc Sơn Nguyễn Đại Vương, tại đền thờ ở thôn An Trí, xã Nội Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An. Tự Điển Di Tích Văn HóaViệt Nam của nhóm Ngô Đức Thọ, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1993, chép theo sách can Lộc Huyện Phong Thổ Chí:

Tương Truyền ở bản thôn có Nguyễn Phán là người tài hoa, khi du học phương xa gặp chúa Liễu Hạnh ở vùng Quỳnh Lâm, kết làm đôi lứa. Sau ba năm sinh được hai trai: trưởng là Nguyễn Cả, thứ là Nguyễn Hai. Sau đó Phán thi đậu, được bổ chức Thị Nội Văn Hàn. Bấy giờ tiên nữ cưỡi mây về trời. Phán buồn rầu, xin nghỉ việc quan, trở về nhà lấy sơn thủy làm vui. Nguyễn Cả, Nguyễn Hai lớn lên thông minh tuấn tú, tài năng hơn người. Năm Hồng Đức thứ hai, Cả và hai chừng 16, 17 tuổi, gặp lúc Chiêm Thành cho quân ra quấy phá biên địa, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu xuất binh. Cả và Hai xin phép cha cho về kinh giúp vua dẹp giặc. Vừa lúc ấy ở chân núi Thường Lạc, xuất hiện hai con voi trắng, bên cạnh mỗi con đều có sẵn một chiếc roi sắt, người làng đến dụ, voi nằm yên không động. Nhưng khi Cả và Hai đến, hô một tiếng voi liền thuần phục. Hai người cỡi voi về kinh. Dọc đường gặp quan quân nhà vua Nam chinh, hai ông vào yết kiến, vua phong cho làm tiên phong. Chưa đầy nửa năm, dẹp yên quân giặc, hai ông được phong chức Đại Tướng Quân. Năm Hồng Đức thứ sáu, nguyễn Phán qua đời, hai ông xin về quê chịu tang cha. Trong thời gian ở quê nhà, hai ông cho đào một hồ lớn, tục gọi là Hồ Dài, chiêu mộ quân lính tập thủy trận. người làng theo đông. Vua nghe tâu cho rằng hai ông mưu khởi loạn, bèn triệu về kinh rồi sai đi trấn giữ ở nơi quan ải, không cho về quê quán. hai ông đành tuân lệnh ra đi, rồi mất ở nơi đồn trú. Trước khi mất, ông dặn các con đóng thuyền, đặt quan tài và hộp bài vị ghiđầy đủ tên họ, quê quán, chức tước, trồi thả cho trôi theo dòng sông. các con y theo lời dặn. Thuyền xuôi ra biển, rồi giạt vào cửa biển Cương Gián, huyện Nghi Xuân. Dân xã thấy vậy cho là điềm gở, đẩy cho trôi ra khơi. Nhưng chiếc thuyền trôi ra rồi lãi giạt vào. Người làng Đông Gián lấy làm lạ, mở hộp đựng bài vị ra xem mới hay sự việc, bèn cho người sang xã An Trí báo tin. Dân bản xã đến rước quan tài hai ông về an táng, xây lăng, lập đền thờ phụng. Vua nghe tâu, sắc phong làm trung đẳng thần. Nhưng thần tỏ ý không ưng, nổi cơn giông tố, kinh sư giữa ban ngàytrời đất tối đen. Vua gia phong cho làm thượng đẳng thần, mưa gió mới tạnh. Khi đoàn phụng sắc, đi qua đền Tiên Mẫu ở Phố Cát, tiên mẫu hiển ứng ban cho một đôi long bàn để dân làng rước về thờ phụng. Đền hằng được coi là ngôi đền thiêng trong bản huyện.

Tóm tắt Vân Cát Thần Nữ Truyện để viết sự tích Công Chúa Liễu Hạnh, người viết đã tạm lược bỏ một đọan dài trong nguyên bản nói về mối duyên bút mực giữa Công Chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Mối duyên bút mực này dường biểu thị thi tài của Đoàn Thị Điểm khởi hứng từ văn học truyền miệng trong đại chúng. Mối duyên bút mực đó như sau.

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) tự Hoằng Phủ, hiệu Nghị Trai, người làng Phùng Xá, tên nôm là làng Bùng, huyện Thạch Thất tỉnh Sơn Tây. Theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan là em cùng mẹ khác cha của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491-1585). Ông thi đậu hương cống thì gặêp cảnh nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, ông vào Thanh Hóa theo giúp vua Lê. Đến năm ông 53 tuổi, dưới triều vua Lê Thế Tôn, Quang Hưng thứ 3 ông mới đậu tiến sĩ. làm quan đến Hộ Bộ Thượng Thư, tước Mai Quân Công. Năm 70 tuổi ông đi sứ sang Trung Quốc. Ông để lại hơn mười thi tập, trong số đó có hai tập Phùng Sứ Thần Thi Tập và Phùng Thái Phó thi có lời đề tựa của sứ thần Triều Tiên Lý Thúy Quang viết vào năm 1597. Nhân dịp đi sứ này Phùng Khắc Khoan mang từ Trung Quốc về những hạt giống ngô đậu. Ông còn có công truyền cho đại chúng nghề dệt the lụa, cùng khai mương dẫn nưóc tư ønúi Thầy về cánh đồng Đặng Xá. Hoàng Xá, Phùng Xá. Nhớ những công ơn ấy, đại chúng gọi ông là ông Trạng Bùng. Hàng năm tổ chức ngày giỗ ông tại đền thờ nhằm ngày hai mươi bốân tháng chín âm lịch. Quanh Phùng Khắc Khoan có nhiều truyền thuyết chép thành sách như cuốn Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện, chép sự tích bà mẹ sinh ra Phùng Khắc Khoan, hoặc nhiều truyện khác chép trong sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề.

Dựa trên sách Mai Lĩnh Hầu Thánh Mẫu Chi Truyện Trần Lê Sáng viết:

Thân phụ Phùng Khắc Khoan, người Thạch Thất, Sơn Tây, đậu tiến sĩ triều Lê, rất giỏi nghề địa lý. Buồn vì thời thế, ông đi ngao du sơn thủy, tìm đất tốt.

Một lần ông đến vùng Từ Sơn, Kinh Bắc, bỗng gặp một phụ nữ trên đường. Nguời phu ï nư õ này mày thanh mắt sáng, da trắng tựa đánh phấn, môi đỏ tựa thoa son, dáng người óng ả tha thướt, ăn mặc giản dị.

Hai người tình cờ gặp nhau và đi cùng một đường. Đi được một đoạn đường ông hỏi:

– Sao nương tử đi một mình? Nương Tử từ đâu tới?

Người phụ nữ dịu dàng nhìn ông. Thấy dáng mạo ông trang nhã, mặt có phúc tướng, nghĩ ngợi một lát rồi nói:

– Thiếp người Hải Dương. Có mối thù mà sức mình không trả được. Thiếp mong có đứa con trai, nuôi dưỡng cho thành tài để trả thù cho mình.

Ông nghe nói cảm kích tiếp lời:

– Nương tử là bậc nữ lưu mà còn có chí lớn như vậy. Tôi là kẻ mày râu nam tử, từng mặc áo đội mũ triều cũ, làm sao có thể làm tôi tớ cho bọn phản nghịch!

Hai người nói chuyện tâm đầu ý hợp, rồâi cùng về Sơn Tây kết làm vợ chồng. Năm sau sinh con trai, tiếng khóc to, mắt sáng, gân cốt khác thường. Đó là Phùng Khắc Khoan.

Khi Phùng Khắc Khoan năm, sáu tuổi đã có khí vụ trượng phu. Phu nhân nói với chồng:

– Nhờ trời sinh con trai. Xem ra có nét phi phàm, ông nên dậy con học hành, may trời không phụ thì sau này nó có thể hoàn thành chí nguyện của thiếp.

Từ đó ông đem hết sở học dậy con. Đến năm 15 tuổi, không còn đủ sức dậy con, ông bèn gửi sang Hải Dương theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Theo sách Công Du Tiệp Ký của Vũ Phương Đề, và do Trần Lê Sáng viết lại thì:

Mẹ Phùng Khắc Khoan ngưòi Hải Dương, con gái thượng thư Nhữ Văn Lan, thông minh xuất chúng, giỏi dịch số và địa lý. Hơn hai mươi năm kén chồng, có chí lớn, mãi sau bà mới lấy

Nghiêm Quân Công Nguyễn Văn Định.

Bà sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nhỏ ông Văn Định nói với con nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bà giận lắm, cho rằng nguyệt là trăng biểu tượng kẻ làm tôi, bèn bỏ ông Văn Định đi ngao du sơi với

Khi đến Thạch Thất, gặêp một người hiền lành, có tướng sinh qúy tử, kết làm vợ chồng và sau sinh ra Phùng Khắc Khoan.

Năm Khắc Khoan bẩy, tám tuổi, đang chơi ở sân đình thì có người khách lạ đi qua cứ nhìn khắc Khoan. Khắc Khoan cũng nhìn lại chằm chằm. Người khách hỏi Khắc Khoan sao cứ nhìn vậy. Khắc khoan nói:

– Tôi thấy ông hơi lạ. Nếu là quan thì sao không có người theo hầu. Nếu là dân sao không có bắp tay bắp chân của thợ cầy?

Người khách nghe nói cười lớn. Người khách đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm Phùng Khắc Khoan mười lăm tuổi, cha ông gửi sang Hải Dương học với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai anh em một mẹ khác cha rất là tâm đắc.

Cũng theo truyền thuyết, Phùng Khắc Khoan gặp công chúa Liễu Hạnh hai lần; lần thứ nhất trên đường đi sứ về tới Lạng Sơn, lần thứ hai tại Tây Hồ gần kinh đô. Truyện do Trần Lê Sáng chép như sau về chuyến gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Lạng Sơn:

Lúc Phùng Khắc Khoan đi sứ về tới Lạng Sơn, ông thấy một cô gái xinh đẹp ngồi dưới ba cây thông, trước sân chùa, vừa đàn vừa hát. Ông lên tiếng:

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Câu này có nghĩa là: ba cây che sân, cô gái đẹp ngồi đó, nhưng đồng thời chơi trò chiết tự: tam mộc là ba chữ môc ghép lại thành chữ sâm; chữ hảo do chữ nữ đăt cạnh chữ tử mà thành. Người con gái nghe vậy bèn đối:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Câu này nghĩa là: núi non mở đường, sứ giả đi đến là ông quan, đồng thời cũng chơi trò chiết tự: Trùng sơn là hai chữ sơn chồng lên nhau thành chử xuất, chữ sứ do chữ nhân và chữ lại ghép thành.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc vì sự đối đáp thông minh và mau lẹ của cô gái. Ông bèn tiếp:

Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm.

Nghĩa là: cô sơn nữ ngồi ghế phải chăng là tiên nữ giáng trần. Nhưng lắt léo ở việc chiết tự: chữ sơn và chữ nhân ghép lại thành chữ tiên; chữ bằng có bộ kỷ, chữ nhất và chữ kỷ ghép thành chữ phàm. Cô gái không cần nghĩ ngợi đáp ngay:

Văn tử đới trường căn, tất thị học sinh thị trướng

Nghĩa là: nhà văn chít khăn dài, đích thị học trò nhìn trướng. Câu đáp lịch sự dí dỏmvà chiết tự cũng rất tinh tế. Chữ văn và chữ tử ghép thành chữ học, Dưới chữ đới có bộ cân, chữ trường và chữ cân ghép thành chữ trướng.

Phùng Khắc Khoan vô cùng khâm phục cô gái. Ông cúi đầu làm lễ, lúc ngẩng lên thì cô gái đã biến mất, chỉ còn thấy trên cây gỗ viết bốn chữ: Mão Khẩu Công Chúa, cạnh đó treo tấm biển cũng có bốn chữ: băng mã dĩ tẩu.

Những người đi cùng sứ đoàn chẳng ai hiểu câu đó như thế nào, hỏi Phùng Khắc Khoan thì ông từ tốn đáp:

– Cây gỗ là mộc, mộc thêm chữ mão là chữ liễu; mộc thêm chữ khẩu là chữ hạnh, người con gái vừa rồi là Liễu Hạnh công chúa. Còn bộ băng đi với chữ mã, chính là họ Phùng của ta. Chữ dĩ cạnh chữ tẩu chính là chữ khởi. Có lẽ Liễu Hạnh công chúa dặên họ Phùng ta phải khởi công sửa lại ngôi chùa này.

Sau đó Phùng Khắc Khoan đã cho người tu sửa lại ngôi chùa. Trên cổng chùa ông treo tấm hoành phi có bẩy chữ:

tùng lâm tịch mịch phất nhân gia

Nghĩa là: Rừng thông vắng vẻ không phải nhà người thường. Nhưng câu này cũng chơi triết tự tinh vi: chữ phất đi với chữ nhân là chữ Phật. Phất nhân gia còn hiểu là Phật gia, là nhà Phật.

Giai thoại kể lại cuộc gặp gỡ lần thứ hai giữa công chúa Liễu Hạnh và Phùng Khắc Khoan như sau:

Về kinh đô Thăng Long, một bữa Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi hồ Tây. Ba người lững thững đến một quán rượu bên hồ, ngoài cửa quán thấy đề bốn chữ lớn: Tây Hồ Phong Nguyệt. Có cô gái xinh xắn ra chào nói:

– Đây là quán hàng mới của Liễu Nương, xin quí ông vào sơi rượu làm thơ tự nhiên.

Ba người đi vào, thấy trên tường có dán bài thơ, nét mực còn tươi:

Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt Thời chính nhân bàng lập thổ khê Khách hữu tâm linh cầu nguyệt đới Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề

Bài thơ có nghĩa là;

Cửa quán là đây trăng sáng soi Bên mành ai đứng đợi chờ ai Khách đến ba người thừa đội nguyệt Một cây huệ mọc giữa hai ngài.

Phùng Khắc Khoan đọc bài thơ ngẫm nghĩ. Người bạn họ Lý chiết tự nói: Điếm phương nhàn tức quán đang vắng, thời chính giai tức được buổi đẹp, Khách hữu tâm tức khách có lòng; huệ nhiên lai tức mời vào chơi. Bỗng ngưới hầu gái thưót tha bưng ra một cái khay, trên khay có tấm thiếp viết câu:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên

Ba người hết sức ngạc nhiên, biết đây là câu mở của một bài thơ liên cú. Lý, Phùng, Ngô liền theo câu đó, mỗi người lần lượt làm một hai câu thành bài thơ như sau:

Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên Túng mục kiền khôn tận khoát nhiên Cổ thụ nhiễu trang thanh tịch mịch Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên Hoạt kế thùy gia nhất chích thuyền Cách trúc sơ ly văn khuyển phệ Phanh trà bại bích thấu trù yên Khinh khinh quế trạo thứ trung đãng Đoản đoản xoa y thân thượng xuyên Phảng phất Động Đình du Phạm Lãi Y hy bích hán phiếm Trương Khiên Thiên tầm hiệu đãng am thâm thiển Tứ ccá vi mang điệt hậu tiên Ải nãi vãng lai hồng liễu bạn Âu a xuất nhập bạch lư biên Sa trung hiệp hý vong cơ lộ Vân ngoại nhàn khan xuất tính diên Kỷ khúc thương ca văn thủy quốc Nhất song bạch nhãn ngạo trần huyên Giao đầu đối thoại y hà cát Thân thủ tương chiêu hý khiếm tiền Lạp phong thiên gian tàng thái nỗn Lam trần sao để dưỡng ngư tiên Hoặêc tương đạm tửu hoa tùng chước Thời chẩm trường cao liễu ánh niên Túy hậu linh tinh phao thủy diện Dục dư hiệu liễu bộc phong tiền An hoa mục tử thân bàng kết Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên Bão tất từ ngô quan bạng thế Thám hàm tiều bị một long uyên Võng sơ mỗi tỵ thế đồ hiểm Câu trục tu tương lợi nhĩ huyền Hàn chử hạ lai do át nhật Trường an đông tận vị trì niên Tam công khẳng bả thiên hà hoán Bán điểm ninh dung lục lự khiên Vị thủy nhậm phù băn bá bốc Đào nguyên hào phoóng Vũ Lăng duyên Văn chung sạ giác tâm vi Phật

***

Đến đây bỗng từ trong nhà vọng ra tiếng chủ nhân họ Liễu ngâm:

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Lý, Phùng, Ngô không hẹn mà cùng vỗ tay khen câu kết. Nếu cắt câu mở ghép với câu kết, hai câu ấy sẽ là:

Tây Hồ biệt chiếm nhất hồ thiên Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

Rõ là hai câu thơ của cùng một người thơ. Lời thơ, ý thơ, tâm tình nhà thơ đều nhất quán.

Hồ Tây riêng chiếùm trọn một miền Đất trời ngon mắt cảnh thiên nhiên Cổ thụ làng bên xanh ngắt ngắt Trâu vàng đầm rộng nước mông mênh Sinh nhai lác đác vài gian cỏ Kiếm sống nhà ai một mái thuyền Giậu trúc khó ngăn tiếng chó sủa Vách xiêu không cản khói vươn lên Chèo quế tay đưa khua nhè nhẹ Áo tơi sột soạt khoác lưng bên Thấp thoáng Động Đình thuyền Phạm Lãi Dập dềnh Sông Hán bè Trương Khiên Ngàn trùng nào biết đâu nông cạn Bốn mặt khó phân nẻo hậu tiền Chèo đưa bến lác lùa lau lách Câu hát bờ lau khúc triền miên Đánh bạn cồn ngoài cùng cò cốc Mắt dõi mây xa cánh quạ đen Giọng hát đục trong vang đáy nước Tròng mắt trắng xanh cuộc đảo điên Long hà đầu gối truyện không dứt Giữ thân tay trắng cười không tiền Mặt hồ thả nón hái rau búp Đáy nước thả câu đợi phao chìm Dưới hoa rượu chuốc say túy lúy Bóng liễu gác chèo tạm buộc thuyền Say rồi cởi áo thả theo sóng Tắm đọan buông quần hóng gió lên Thượng uyển tiều phu y hẹn cũ Yên hoa mục tử kết bạn hiền Bụi rậm rình cò tài ẩn núp Hàm rồng mò ngọc khéo bon chen Lưới trời thưa mắt mà không sót Lưỡi câu danh lợi thoát đòi phen Hè về bến mát còn ham nắng Tràng An đông tận năm chưa tàn Tam Công chẳng sánh vui khói ráng Thanh cao nào nhuốm nửa bụi trần Sông Vỵ há tin lời bói toán Đào Nguyên ước nối Vũ Lăng duyên Nghe chuông chợt nhớ tâm là Phật Nhìn trăng soi bóng ta là Tiên.

Ít lâu sau, Phùng, Lý, Ngô lại tới quán nàng họ Liễu. Nhưng đến nơi thì quán cũ không còn. Trên cây chốn cũ ve sầu kêu ra rả. Ba người nhìn thấy trên thân cây có bốn câu chữ triện

Vân tác y thường phong tác xa Tiên du Đầu Suất mộ yên hà Thế nhân dục thức ngô danh tính Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa.

Lý và Ngô hỏi Phùng Khắc Khoan về ý bài thơ trên. Ông trẫm ngâm một lát rồi nói: – Ba câu đầu thì quý bạn đã rõ:

Lấy mây làm áo gió làm xe Sáng chơi Đầu Suất xế yên hà Người đời muốn hỏi ta tên tuổi

Câu chót thì chữ nhất trên chữ đại là chữ thiên, chữ sơn bên chữ nhân là chữ tiên, vậy là

Rằng tiên thượng giới Ngọc Quỳnh hoa

Không một ai thắc mắc truyện thâït giả của những giai thoại gặêp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Nhưng ai ai cũng thấy đó là hình ảnh công chúa Liễu Hạnh trong dòng thơ Việt Âm, chẳng khác gì hình ảnh Tây Vương Mẫu trong văn học Trung Quốc qua các áng thơ của Lý Bạch, Vương Duy cũng như Lý Thương Ẩn, đời Đường.

Mai Hương Và Nhặt Cánh Sao Rơi « Thư Viện Đất Việt

Tác giả:

Thuở mới bắt đầu lang thang, lưu lạc ở ngoại quốc, rất khó tìm được băng nhạc giá trị. Ngày đó những ca sĩ thượng thặng như Thái Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc… hãy còn bặt tiếng ở trong nước. Mãi đến khoảng 1985, tìm được cuộn băng “Tiếng Hát Mai Hương / Giấc Mơ Hồi Hương”, tôi quý vô cùng. Ngoài Giấc Mơ Hồi Hương, của Vũ Thành, băng nhạc còn những tác phẩm tuyệt diệu khác như Cung Đàn Xưa (Văn Cao), Hương Xưa (Cung Tiến), Tà Áo Văn Quân (Phạm Duy Nhượng), Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy)… Mai Hương hay hát Phạm Đình Chương, Lê Văn Thiện, Văn Phụng và Huỳnh Anh hòa âm. Cuối băng nhạc, Mai Hương có chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong băng nhạc Mai Hương sau.

Đến tám hay chín năm, không thấy bóng dáng băng nhạc thứ hai của Mai Hương đâu cả. Tôi biết, nhưng không có dịp nghe, Mai Hương vẫn có hát với Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi của Trần Chúc hay Ban Tứ Ca Thùy Dương. Và thỉnh thoảng chỉ được nghe Mai Hương hát lẻ tẻ trong những băng nhạc như “Tiếng Chiều Rơi /Lê Văn Khoa”, “Dấu Vết Tình Ta 1/Diễm Xưa”, “Hoài Bắc 1 / Đôi Mắt Người Sơn Tây”, “Hoài Bắc 2 / Người Đi Qua Đời Tôi” và … “Tình Ca Phạm Anh Dũng / Đưa Người Về Phương Đông”. Chỉ mãi gần đây, thính giả yêu nhạc mới được thưởng thức băng nhạc đó, mới, với hoàn toàn giọng hát của Mai Hương. 12 bản nhạc, đa số thuộc nhạc tiền chiến, bất diệt, sáng tác bởi những tên tuổi lớn của nhạc Việt như Văn Cao, Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Tô Vũ, Tử Phác, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, Đan Trường… rồi Ave Maria của Gounod, hòa âm do những nhạc sĩ lừng danh Văn Phụng, Nhật Bằng, Lê Huy và Vũ Tuấn Đức đã thừa sức bảo đảm trình độ nghệ thuật cao của băng nhạc “Tiếng Hát Mai Hương / Nhặt Cánh Sao Rơi”.

Về Văn Cao. Nếu ông không có những bài hát vớ vẩn, tôi không thích chút nào và tôi không tưởng tượng là do Văn Cao sáng tác, như Ca Ngợi Hồ Chủ Tịch, Công Nhân Việt Nam…, tôi sẽ nghĩ Trịnh Công Sơn đúng khi viết:  “…Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng… Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng… tôi nghe trong âm nhạc anh gió vẫn chuyển và cây thay lá…”.

Từ những bài nhạc hùng như Gò Đống Đa, Chiến Sĩ Việt Nam, Thăng Long Hành Khúc Ca… đến tình ca như Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu (Chinh Phụ Khúc), Cung Đàn Xưa, Suối Mơ (Bài Thơ Bên Suối), Bến Xuân (Đàn Chim Việt)… mà tuyệt đỉnh là Thiên Thai và Trương Chi, đều là những khúc nhạc có giá trị và đã tồn tại cả nửa thế kỷ và sẽ mãi mãi lưu truyền về sau.

1947. Sau chiến thắng sông Lô của quân Việt chống Pháp, nhiều nhạc sĩ cảm hứng viết thành bài hát, Lương Ngọc Trác viết Lô Giang, Phạm Duy viết Tiếng Hát Trên Sông Lô… Riêng Văn Cao, khác hẳn, ông đã hoàn thành một tác phẩm lớn lao Trường Ca Sông Lô, đó là bản nhạc mở đầu cho băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”. Mai Hương cùng Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh Giao đã đưa thính giả vào thế giới của giai đoạn quân kháng chiến Việt Nam (không chỉ của Việt Minh) chống Pháp ở vùng Việt Bắc ngày xưa. Đoạn mở đầu ở âm giai Ré Trưởng, chậm và tình cảm, tả cảnh êm đềm của sông Lô trong mùa Thu: “Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u Thu ru bến sóng vàng, từng nhà mờ biếc chìm một màu khói Thu…” Chiến tranh bùng nổ: “…Sông Lô sóng ngàn kháng chiến, cháy bờ lau thưa, đã tàn thôn trang…”

Và chiến thắng Sông Lô, nhạc nhanh hơn, chuyển thẳng qua Sol Trưởng: “…Trên dòng sông trở về, đoàn người reo mừng vui Trên sóng nước biếc, trôi đầy sông bao đám xác thù…

Dòng sông vui mừng cùng dân chúng: “…Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa…” Đến âm giai Si Trưởng với nhịp hành quân hùng mạnh của “…đoàn quân thời chinh chiến…chiến sĩ sông Lô”. Màn đêm buông xuống, nhạc lắng đọng, giọng Mai Hương chậm, truyền cảm: “Về trong đêm gió rét. Từng sân vui bóng người quanh lửa hồng” Bản nhạc sau đó trở về Sol Trưởng, nhạc vui nhanh khi thanh bình về lại với dòng sông và dân chúng bắt đầu xây dựng lại đời sống mới: “…vui hát ca hòa vui hát ca…buông lưới đánh cá…đắp nhà”. Cuối cùng, để chấm dứt, nhạc chậm lại, trở lại Ré Trưởng của đoạn mở đầu để Mai Hương, Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh Giao kết thúc bằng vài câu nhạc tình cảm nhẹ, tả cảnh mùa Xuân của dòng sông: “…Mùa Xuân tới, nước băng qua ngàn, nuớc in ven bờ xanh ôm bóng tre Dòng Sông Lô trôi…” Trường Ca Sông Lô của Văn Cao không dài lắm nhưng rất đều đặn, cách chuyển âm giai từ đoạn này sang đoạn khác khéo léo, xứng đáng là bản Trường Ca đầu tiên của âm nhạc Việt Nam. Trường Ca Sông Lô của Văn Cao đã mở đường cho những trường ca Việt Nam khác của Phạm Đình Chương ( Hội Trùng Dương), Lê Thương (Hòn Vọng Phu) và Phạm Duy (Mẹ Việt Nam, Con Đường Cái Quan, Bầy Chim Bỏ Xứ và Hàn Mặc Tử).

Về tình ca, có lẽ không có bài nào của Văn Cao và có lẽ khó có bài nào của bất cứ nhạc sĩ Việt Nam khác có thể so sánh với hai nhạc phẩm Thiên Thai và Trương Chi. Thế giới âm nhạc tình yêu của Văn Cao là hình ảnh của Thiên Thai trong giấc mộng Đào Nguyên và tâm sự của Trương Chi, truyện truyền kỳ, nhưng hình như cũng là tâm sự của chính ông, người nghệ sĩ cô đơn. Không biết về đời sống thực của ông, chắc ông cũng có gia đình êm ấm, nhưng về nghệ thuật nhiều khi tôi thấy ông có vẻ đơn độc, khác người: “Chiều nay run rẩy tha đôi cánh Một bóng sơn ca đến lạc loài” (thơ Văn Cao)

Trong băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, ta gặp lại chuyện cổ tích Trương Chi-Mỵ Nương. Trương Chi là một hình ảnh ám ảnh Văn Cao khá mạnh. Trong Cung Đàn Xưa đã có bóng hình của chàng Trương Chi xấu số: “…Chiều năm nay bóng người khơi thương Tiếng đàn gieo oan giấc mộng chàng Trương…”.

Mai Hương đã đem hết tâm hồn diễn tả bản nhạc của chàng Trương Chi Văn Cao. Bài hát cả nhạc lẫn lời viết thật tài tình. Bắt đầu bằng những câu nhạc chậm của Ré Thứ miêu tả khung cảnh trăng nước hòa vào tiếng hát của họ Trương. Câu đầu tiên đã hay: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ…”

Không nói đến nhạc vội. Chỉ bàn về lời. Trăng nước thành thơ đã là hay nhưng “trăng nước chưa thành thơ” thì thật tuyệt lạ.

Tiếng hát Trương Chi xuất hiện cùng với mùa Thu: “…Ôi, tiếng cầm ca Thu tới bao giờ…” Rồi giọng Mai Hương có vẻ lãng mạn khi diễn tả trong đêm khuya vắng, Mỵ Nương lả lơi nghe tiếng đàn hát của người lái đò từ chốn phòng loan, nơi Tây Hiên. Mai Hương, buồn thấm thiết đưa hồn người đến lúc: “…Oán trách cuộc từ ly não nùng…” Và đến lúc thuyền và người chìm sâu đáy nước. Nhưng vẫn có đâu đó: “…Từng khúc nhạc xa vời, trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi…” Hay: “…Dâng ứa trăng về khuya, bao tiếng ca ru mùa Thu” Mưa gió đến, nhạc chuyển bất ngờ, dồn dập vào Sol Trưởng: “Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn, còn nghe như ai nức nở và than Trầm vút tiếng gió mưa, cùng với tiếng nước róc rách, ai có buồn chăng Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn, về phương xa ai nức nở và than Cùng với tiếng gió vương, nhìn thấy ngấn nước lấp lánh, in bóng đò xưa…” Mai Hương hát chỗ này đúng ý viết nhạc. Rất quan trọng phải hát đúng ở đây vì Văn Cao dùng những dấu lặng sau mỗi nốt nhạc ở chỗ này thật kỳ diệu và diễn tả rõ được những giọt mưa rơi như những giọt nước mắt trên phím ngà. Nghe kỹ ta có thể “nghe” được “tiếng nước róc rách” của giọt mưa, hay “nhìn” thấy “ngấn nước lấp lánh” của dòng sông, cũng nhờ những dấu lặng đặt đúng chỗ. Đã một lần, tôi nghe có một ca sĩ có giọng rất tốt, rất dài hơi hát Trương Chi và ở đoạn này đã “nuốt” mất những dấu lặng làm mất ý nghĩa. Hai chữ “gió” ở những nốt nhạc cao và được láy. Mỗi chữ là bốn móc đơn được nối vào nhau, láy, để diễn tả “gió”, chữ thành dài ra nghe rất tượng thanh. Mai Hương, buồn não nề, đưa người trở lại âm giai chính Ré Thứ, trở lại với chính tâm sự của chàng Trương Chi thời đại,Văn Cao, người nghệ sĩ cô đơn: “Đò ơi ! Đêm nay giòng sông Thương dâng cao, mà ai hát dưới trăng ngà Ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…” Và để chấm dứt, ngậm ngùi, một câu hỏi của Văn Cao như cho chính mình: “… Đâu bóng thuyền Trương Chi ?” Gần đây tôi có xem một cuộn video về Văn Cao cũng có Trương Chi, Thiên Thai… xuất bản từ trong nước ra. Chỉ có một ấn tượng mạnh duy nhất là giọng nói và hình ảnh thanh thoát của Văn Cao với chòm râu dài bạc lướt thướt. Còn hòa âm không có gì xuất sắc và kỹ thuật thu thanh nghèo nàn. Lại nữa, các ca sĩ không đủ tài diễn tả được những bài hát. Lúc nhạc đến lúc thật là buồn thì lại nhoẻn miệng cười tươi đẹp như hoa nở giữa mùa xuân, thật chướng (điểm này cũng thường thấy ở những video nhạc Việt Nam xuất bản ở hải ngoại). So với Trương Chi và Trường Ca Sông Lô do Mai Hương hát thì đúng là một vực một trời. Bao giờ mới thấy một băng nhạc có giá trị gồm chỉ những bản của Văn Cao? Nhờ các trung tâm nhạc như đứng đắn như Thúy Nga, Diễm Xưa…trả lời.

Bản thứ hai trong băng nhạc sau Trường Ca Sông Lô là Nhớ Trăng Huyền Xưa của Nguyễn Văn Quỳ. Ông nhạc sĩ họ Nguyễn chỉ có rất ít nhạc truyền lại cho hậu thế trong đó có Nhớ Trăng Huyền Xưa. Thường thì ta chỉ nghe thấy người bàn đến “tóc huyền” hay “mắt huyền” hoặc “áo huyền” và huyền của tóc, mắt, áo nghĩa là mầu đen. Chắc chắn Nguyễn Văn Quỳ không ám chỉ “trăng… đen” vì trong bài hát trăng rất là sáng. Có lẽ là “trăng huyền hoặc” thì đúng hơn. Cũng có thể là “trăng khuyết” hay “trăng treo ngang trời”. Bản nguyên thủy viết bằng Blues. Nhật Bằng, vẫn còn đủ phong độ của con chim đầu đàn của ban nhạc nổi danh Hạc Thành ngày xưa (gồm Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần và Hồng Hảo). Anh đổi Nhớ Trăng Huyền Xưa sang Tango và Boléro sống động hơn. Mai Hương hát thật hay, nhịp nhàng theo Tango mở đầu bản nhạc: “Bóng trăng dần xuống, hàng cây hắt hiu theo gió buồn Mây trắng mờ trong bóng đêm, không gian lắng chìm vắng im…” Nửa bản sau là Bolero, Mai Hương chợt vút lên ngay trong những chữ đầu tiên: “Dưới trăng huyền xưa, từng ánh lung linh chan hòa muôn gió biếc Tìm đến bên hoa, gió trăng nhè nhẹ mơn mơn cánh yêu kiều…” Bản nhạc chấm dứt, tiếng hát vẫn vương vấn.

Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ tiền phong của âm nhạc Việt Nam. Ông sáng tác nhạc theo đủ nhạc điệu. Bản nhạc phổ thông nhất vì dễ trình bày là Bóng Chiều Xưa (lời Minh Trang). Những tuyệt tác của ông như Đêm Tàn Bến Ngự, Áng Mây Chiều, Tiếng Xưa… thì quá nhiều, không thể kể hết ở đây. Bản nhạc riêng tôi thích nhất của Dương Thiệu Tước là Bến Xuân Xanh, bản nhạc Valse hay nhất của ông và có lẽ cho đến nay, cũng là bản Valse hay nhất và dài nhất của nhạc Việt Nam. Lần này Mai Hương đem Tango của Dương Thiệu Tước đến với Cánh Bằng Lướt Gió. Bài hát có âm hưởng, tình cảm nhẹ nhàng của thời văn nghệ tiền chiến: “Bên phương trời đượm bao gió sương, mây bao la man mác âm thầm Chiều chiều buồn âm u tiếng trầm trầm giòng sông nước cuốn cuốn…”

Giữa Thập Niên 1950, phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” ở miền Bắc Việt Nam nổi dậy. Đến bây giờ tôi vẫn còn lạnh người đọc những dòng chữ như: “Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ” (thơ Trần Dần) hay vẫn kính phục những ý tưởng như: “Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét Dù ai cầm dao dọa giết Cũng không nói ghét thành yêu…” (thơ Phùng Quán) Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi quyền phát biểu tự do của những nhà trí thức, văn sĩ, họa sĩ, tư tưởng gia, thi sĩ, giáo sư… Những tên tuổi như Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung,Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán… đã làm rung chuyển tận gốc rễ Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản ngày đó và vẫn còn ảnh hưởng đến mãi sau nàỵ Về nhạc sĩ có ba người tham dự phong trào là Văn Cao, Đặng Đình Hưng và Tử Phác. Tử Phác có ít tác phẩm lưu truyền nhưng đều xuất sắc cả. Tử Phác và Lương Ngọc Châu có một bài hát hay vô cùng là Tiếng Hát Lênh Đênh, tựa đề của cuốn băng đầu tiên của Anh Ngọc ở hải ngoại.

Băng nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi có Mai Hương hát Tiếng Hát Quay Tơ là một bản Valse do Tử Phác sáng tác và là bản Luân Vũ tương đối nhanh, duy nhất trong băng nhạc rất phù hợp với nhịp của máy quay tơ. Đây không phải là chuyện nàng quay tơ, anh đan áo trong thời bình như bài nhạc thơ Thoi Tơ của nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Đức Quỳnh. Đây là chuyện quay tơ của thời chiến. Mai Hương ở Tiếng Hát Quay Tơ là những lời thầm thì, hiền dịu, những tâm sự đằm thắm của người đàn bà gửi gấm vào tấm vải may áo cho người yêu đang ở nơi biên cương,của những hàng nước mắt dưng dưng nhớ người ở xa… Hình ảnh của thiếu phụ ngồi quay tơ trong một buổi chiều nắng nhẹ, bỏ hết mọi chuyện và chú tâm vào việc đan áo rét cho người người chiến sĩ của nàng đang ở chốn sa trường là một hình ảnh “cổ điển”, một hình ảnh thật đẹp, thật cảm động của thời đại văn minh tiền chiến: “…Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ Quay, quay, xe áo rét dâng chàng Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ Quay, quay, chăn ấm quấn thân chàng Mỗi một đường tơ là mối dây tình trong lòng em dâng người hiên ngang…”

Bản “Nhạc Chiều” của Dzoãn Mẫn thật tuyệt diệu. Một nửa đầu viết theo Luân Vũ 3/4. Mai Hương chậm, nhẹ, vương vấn: “Chuông chùa vương tiếng ngân, âm thầm trong chiều vắng Đường tơ lắng buông trong huy hoàng…” Qua điệp khúc, nhạc ở 4/4, nhanh hơn. Mai Hương hát thêm giọng hai, quyện lấy giọng chính, vui hơn: “Vương sầu làm chi cho ngày thắm phai Hãy vang tiếng tơ vui đi cho ngày mai….” Mai Hương rồi linh hoạt, hát tự đuổi theo giọng chính của mình: “Nên ngừng bâng khuâng nghe muôn tiếng ca Cố quên đau thương cho vui lòng ta…” Bản nhạc trở về một giọng hát, âm điệu chậm 3/4, như đoạn đầu: “Nhạc chiều êm đưa trong vườn khuya lưu luyến Âm thanh ghi lấy vài lời u huyền…”

Biệt Ly (“Biệt ly nhớ nhung từ đây…), bản nhạc hay thấy hát nhất của Dzoãn Mẫn, nhưng Nhạc Chiều có lẽ là bản hay nhất của ông. Và Mai Hương hát Nhạc Chiều thật là điêu luyện.

Một trong những bản nhạc tương đối giản dị mà thật hay, hay lạ lùng, nhưng chả mấy khi được nghe là Trách Người Đi của Đan Trường. Ngày xưa ở Việt Nam tôi chỉ nhớ lại được Pat Lâm, nam ca sĩ người Hoa, hay hát bài này. Mai Hương hát Trách Người Đi rất não lòng. Văn Phụng hòa nhạc xuất sắc. Tôi thích nhất lúc có tiếng hát Mai Hương họa theo giọng của chính mình, như tiếng gió hú lướt đi: “…Gió Thu về mang thương nhớ Đến cho lòng thêm chan chứa Lá ngô bay trong sương sầu Biết bao giờ còn thấy nhau…”

Đan Trường, chuyện gì gây cảm hứng để ông viết Trách Người Đi? Ông còn hai bản nữa là Cái Áo The Thâm Tàn và Biệt Quê, tôi biết nhưng chưa được nghe ai hát bao giờ? Đan Trường, ông là aỉ Nhạc Việt cần nhạc sử gia để hậu thế biết đến tất cả nhạc phẩm, nhạc sĩ, ca sĩ… của mọi thời đại. Bao nhiêu nhạc phẩm có giá trị đã mất đi, bao nhiêu nhạc sĩ có tài không ai biết đến. Nửa thế kỷ trước đã có một tờ báo chỉ chuyên về nhạc. Tôi không nhớ tên nhưng nhớ tờ báo sống được ít lâu và cũng chỉ là tờ báo về âm nhạc Việt Nam duy nhất từ xưa đến giờ!

Âm nhạc Việt Nam có những nhạc sĩ chỉ cả đời chỉ có một bản duy nhất thật hay và thôi. Như Con Chim Lạc Bạn của Phạm Văn Chừng, Tan Tác của Tu My… Có thể tôi không được may biết đến, hay vì họ sáng tác nhiều hơn nhưng vì lý do nào đó không được phổ biến hết.

Đào Thừa Liệt cũng là một trong những người này, chỉ có Bến Đò Xưa. Bản hát cũng có lịch sử của nó. Đào Thừa Liệt thương một cô lái đò. Mối tình không thành. Ông làm ra Bến Đò Xưa, rồi bỏ đi Pháp sinh sống. Chuyện tình thật lãng mạn của thời tiền chiến. Bài hát thật giản dị. Tuy vậy nếu hát đúng như viết thì hơi dài dòng vì bản nguyên thủy viết theo Slow trong khi có rất nhiều nốt nhạc dài hơn dấu móc đơn, có nhiều nốt đen liên ba (là nét đặc thù của tân nhạc Việt Nam), nhiều nốt đen. Lê Huy, người đã từng hoạt động âm nhạc từ những ngày ban Phượng Hoàng còn ở Việt Nam, phụ trách hòa âm cho Bến Đò Xưa đã khéo léo đổi cả bài nhạc sang Bolero và do đó giọng Mai Hương trở nên rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Lời bản nhạc êm như mơ: “Chiều xưa, có ai qua bến sông Hồng mộng mơ Dìu dặt, đôi lời hò còn vương vấn nhớ nhung…” Trong băng nhạc Bến Đò Xưa đề là sáng tác của Đào Thừa Liệt. Thật ra bản nhạc có sự góp sức của Nguyễn Kim nữa. Để cho chính xác hơn: Con Đò Xưa là của Đào Thừa Liệt và Nguyễn Kim.

Hoàng Phú, tác giả của Ngày Xưa, bản nhạc nhắc đến hai dòng sông lịch sử, Hát Giang và Bạch Đằng Giang. Hoàng Phú là em ruột Hoàng Quý, người sáng tác Cô Láng Giềng, Chùa Hương, Đêm Trong Rừng…. Sau khi Hoàng Phú đổi tên thành Tô Vũ. Ông có được ba tác phẩm tình ca nổi tiếng để đời. Đó là Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ và Tiếng Chuông Chiều Thu. Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa là một trong những bản đắc ý của Anh Ngọc ngày xưa. Không ai hát bản này bằng anh và rõ ràng không có gì để nói thêm. Tạ Từ thì có lẽ phải nói đến Duy Trác. Bản này anh hát làm rung động bao người. Cả Anh Ngọc và Duy Trác đều đã hát Tiếng Chuông Chiều Thu và đều hay cả nhưng tôi bàng hoàng nghe Mai Hương. Giọng hát Mai Hương đã làm tâm hồn người nghe chìm xuống vào một buổi chiều Thu với lá rơi nhè nhẹ, với nắng Thu nhạt nhòa, với gió heo may… và có tiếng chuông chùa vọng lại. Tô Vũ đã đắm trong mộng tưởng, trong ước vọng hòa bình có “chuông khơi mùa nắng mới”. Có hai điểm trong bản nhạc tôi muốn bàn qua: Thứ nhất: “…Ai xót ly hương mấy Thu vàng úa Nhạc say mùa xương máu Tóc xanh bơ phờ bù rối…” Chữ “mùa xương máu” ở đây nghe hơi ghê rợn, “nhạc” mà “say mùa xương máu” thì e là loại nhạc sắt máu, không hợp với bản nhạc trữ tình, lãng mạn. Có thể nếu đặt địa vị vào của tác giả thời đó đang chiến tranh đẫm máu thì nghe thông cảm hơn chăng? Thứ hai. Trong nguyên tác bản Tiếng Chuông Chiều Thu, đoạn kết của Tô Vũ là: “…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương Khi lòng mơ màng trầm lắng tiếng chuông chiều Thu Ngày nào khi chiến chinh xong Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng Chuông khơi mùa nắng mới, tình xưa đẹp bao nhiêu Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều” Mai Hương hát theo bản của nhạc sĩ Hoàng Trọng viết lại cho ban Tiếng Tơ Đồng: “…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương Khi lòng mơ màng thầm lắng tiếng chuông chiều Thu Chuông vang lời ước xưa, tình ta đẹp bao nhiêu Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều” Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã bỏ hẳn “Ngày nào khi chiến chinh xong. Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng” và chữa thêm vài chữ. Không hiểu bỏ hai câu đó đi thì có hay hơn bao nhiêu, nhưng tôi tiếc không được nghe thêm dòng nhạc nguyên thủy của Tô Vũ.

Cũng như CD Gió Thoảng Hương Duyên của Kim Tước, không phải tình cờ cả hai băng nhạc của Mai Hương đều có tên từ những bản nhạc của Vũ Thành: Giấc Mơ Hồi Hương và Nhặt Cánh Sao Rơi. Tôi nghĩ cố nhạc sĩ Vũ Thành đã để lại niềm kính phục của bao người khác trong đó có Kim Tước và Mai Hương. Phải nói Vũ Thành là nhạc sĩ có công lao nhiều nhất để xây dựng nền âm nhạc Việt Nam và nhất là đã cố nâng cao tầm thưởng ngoạn của thính giả. Tuy Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước là bản nhạc Việt đầu tiên có mang tính chất nhạc cổ điển Tây Phương nhưng phải đến Vũ Thành thì loại nhạc này mới đến thính giả thật sự bằng những sáng tác của ông và với Ban Nhạc Đại Hoà Tấu Vũ Thành. Những bản như Say Nhạc Canh Tàn, Gửi Áng Mây Hàng… là tiêu biểu cho tính chất cổ điển Tây Phương trong nhạc Vũ Thành. Sau này có những nhạc sĩ khác tiếp tục theo Vũ Thành và có những bản nhạc với mầu sắc của nhạc cổ điển: Cung Tiến với Nguyệt Cầm, Mắt Biếc… Lê Văn Khoa với Gọi Nhớ… Phạm Duy thì có một bản Đường Chiều Lá Rụng. Giấc Mơ Hồi Hương, bản nhạc nổi danh nhất của Vũ Thành. Bản nhạc thương nhớ “em”, thành phố Hà Nội. So với những bài khác của ông, bài này thật dễ nghe vì truyền cảm. Hai bản của Vũ Thành trong băng nhạc mới của Mai Hương là Nhặt Cánh Sao Rơi và Nhớ Bạn. Hai bản này, theo ý tôi, là gạch nối giữa Giấc Mơ Hồi Hương và những bản gần như hoàn toàn nghiêng về cổ điển Tây Phương đã kể trên. Trong cả hai bản nhạc, Vũ Thành không dùng chữ “anh” và “em” mà dùng “bạn” và “tôi”. Toàn bộ có vẻ như là nói về bạn bè thương nhớ nhau hơn là về tình yêu lứa đôi. Tôi không rõ ý thật của ông nói về người bạn hay người yêu.  Tuy vậy những chữ như “tay nắm tay” trong Nhặt Cánh Sao Rơi hay “niềm ân ái xưa” của Nhớ Bạn thì lại có nghiêng về tình trai gái. Nếu vậy nhạc sĩ Vũ Thành cũng “lạ”. Thành phố ông lãng mạn gọi là “em” mà người yêu lại “mắc cở” gọi tránh đi là “bạn”! Nhặt Cánh Sao Rơi và Nhớ Bạn, tôi nghĩ đều là tuyệt tác của họ Vũ. Cả hai bản nhạc như gợi niềm hối tiếc những tình cảm, những “bạn” đã xa vắng… Mai Hương đã hát Giấc Mơ Hồi Hương thật tình cảm và làm rung động thính giả đến mức tột cùng. Mai Hương, trong Nhớ Bạn và Nhặt Cánh Sao Rơi, khác hẳn. Biến chuyển theo dòng nhạc kiêu sa, đài các của Vũ Thành. Bây giờ tiếng hát Mai Hương là của lụa là, gấm vóc: “Chiều phai nắng rụng lá khô bên thềm Chiều vương khói nhạc lắng buông êm đềm Gió chiều nhẹ ru ngàn cây thoáng vương khúc ly ca Nhắc bao ngày qua khuất mờ gây bao niềm thương nhớ…” (Nhặt Cánh Sao Rơi) Và: “Xuân vương trên ngàn hoa, nhắc bao sầu nhớ mơ màng Mây buông trong chiều vắng, như luyến tiếc giấc mơ đã tàn…” (Nhớ Bạn) Tôi đã nghe Nhớ Bạn do Anh Ngọc hát ngày xưa với hòa âm cổ điển phức tạp và công phu của Ban Đại Hòa Tấu Vũ Thành. Lần này nghe Tuấn Đức hòa âm, tuy giản dị nhưng vẫn làm sáng nét nhạc của bài hát.

Bản cuối cùng, bản đáng nói đến nhất trong băng nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi là Ave Maria của Gounod. Nhạc sĩ người Pháp Gounod chính ra chuyên viết operas, nổi tiếng nhất là Faust. Ông có viết một số nhạc khúc và trong đó có Ave Maria. Có hai bản Ave Maria nổi tiếng nhất thế giới, một của Franz Peter Schubert và một của C-harles Francois Gounod (Việt Nam cũng có Ave Maria của Văn Phụng). Cả Schubert và Gounod đều là nhạc sĩ vào thế kỷ thứ 19. Ave Maria của Schubert là một tuyệt phẩm. Bản nhạc hay từ đầu đến cuối, rất đều đặn. Bản của Gounod, theo ý tôi có lẽ còn hay hơn, vì những nốt cao ngất ngây của đoạn sau đã được sửa soạn thật kỹ lưỡng bằng những dòng nhạc độ cao độ thấp hơn của đoạn đầu. Phạm Duy viết lời Việt cho bản này thật là hay. Vào đầu, Mai Hương chậm rãi, tôn kính: “Cầu xin Maria, thấm nhuần một lòng thương chúng con Đoái hoài một đàn con khát khao…” Dòng nhạc cứ thư thả, trầm trầm như vậy… Rồi tiếng cầu nguyện thôi thúc hơn, cao lên dần: “Xin cầu một kiếp nào, mối tình xanh mãi mầu Tiếng hát chầu đưa bao duyên lành mới qua cầu” Mai Hương, cao nhiều hơn nữa: “Hoa trong muôn vườn hát khoe mầu” Và cực điểm, tiếng hát vút lên: “Người cười trong ánh nắng” Giọng Mai Hương trở thành chứa chan, bao dung: “Tiếng reo yên lành Đây đó ta cùng nép dưới bàn thờ xin cầu lời thương nhau” Bài hát âm giai chính là Do Trưởng nhưng bản nhạc được chấm dứt bằng hai nốt Sol, thật đặc biệt: “A men” Ave Maria là điểm cao nhất của băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”. Ave Maria là điểm cao nhất của tiếng hát Mai Hương từ xưa đến giờ.

Những ngày ở Việt Nam xưa kia, Mai Hương hát hay, hiền dịu, dễ thương. Đó là những ngày của Dịu Dàng (Văn Phụng), của Hoa Bướm Ngày Xưa (Nguyễn Hiền)… Ở xứ ngoài, mấy năm trước đây, trong băng nhạc “Giấc Mơ Hồi Hương”, Mai Hương hát hay hơn, đậm, chín… hơn nhiềụ Với băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, Mai Hương đã đi xa hơn nữa. Giọng ca đã đến một đỉnh cao. Nghe xong băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, tôi tự hỏi: “Những bài hát này, bây giờ, có ai hát hay bằng Mai Hương?”. Câu hỏi cũng đã thầm trả lời.

Santa Maria, California, USA Ngày 10, tháng 10, năm 1994 Phạm Anh Dũng

Truyện Cổ Tích Việt Nam: Nàng Công Chúa Bán Than

Tóm tắt: Ngày xưa có một hoàng hậu sinh được 3 người con gái. Hai công chúa chị đều lấy chồng nhà quan, giàu sang phú quí và không làm việc gì động đến móng tay. Nàng công chúa thứ ba thì trái lại, lúc nào cũng thích làm việc và không chịu lấy con nhà quan nên Vua cha rất tức giận đuổi cô công chúa Ba ra khỏi hoàng cung với một con ngựa mù. Nàng vỗ về con ngựa và thốt lời hứa sẽ làm việc để giàu có và chữa cho mắt ngựa khỏi mù… Công chúa cưỡi ngựa đi suốt ngày và gặp một túp lều tranh ven rừng, có một bà góa với đứa con trai làm nghề đốt than…

Kỳ 2 (tiếp theo)

Nàng công chúa bán thân.

Sau một hồi chuyện trò, thăm hỏi, công chúa tự xưng tên và hoàn cảnh của mình và nàng có ý xin ở lại làm dâu bà cụ. Nghe nói vậy bà cụ sợ hãi chắp tay vái lạy công chúa và hết lời từ chối. Chàng Đốt Than cũng không dám nhận lời. Chàng mời công chúa nghỉ lại một đêm rồi sáng sớm mai công chúa định đi đến đâu thì chàng sẽ dẫn đi đến đó. Công chúa út hết sức sức thành thật một mực xin ở lại để làm dâu bà cụ và làm vợ chàng Đốt Than. Riết rồi bà cụ không còn cách nào từ chối, đành phải nhận lời.

Sau bữa cơm rau bình thường, công chúa hỏi han mọi việc làm ăn và mọi sinh hoạt sớm tối ở trong nhà. Ba mẹ con thân mật trò chuyện tới khuya lắc.

Sáng hôm sau, hai mẹ con bà cụ lại mỗi người mỗi việc như thường lệ. Bà cụ dậy sớm nấu cơm cho con trai ăn trước khi đi làm. Chàng Đốt Than cũng dậy rất sớm quay sẵn hai gánh nước cho mẹ. Công chúa cũng bắt tay vào công việc. Nàng dậy sớm hơn mọi hôm ở trong cung điện để dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân ngõ, thả ngựa đi ăn cỏ. Sau bữa cơm sáng, chàng Đốt Than lại đeo dao, quẩy sọt vào rừng. Công chúa Ba ngỏ ý muốn đi theo nhưng bà cụ bảo nàng ở lại cùng cuốc vườn để kịp trồng ngô đúng ngày đúng vụ. Nàng làm việc suốt từ sáng đến chiều nên rất mệt. Đến cuối buổi nàng còn cố gắng cắt thêm một gánh cỏ cho ngựa ăn đêm. Chiều tối chàng Đốt Than quay một gánh than về. Công chúa ra tận ngõ đón chồng…

Từ khi có vợ, chàng không phải đi chợ bán than như mọi khi nữa. Việc bán than đã có vợ giúp nên chàng có nhiều thì giờ vào rừng tìm gỗ đốt nên càng ngày càng được nhiều than hơn. (còn nữa).

Kỳ 2 (tiếp theo)Sau một hồi chuyện trò, thăm hỏi, công chúa tự xưng tên và hoàn cảnh của mình và nàng có ý xin ở lại làm dâu bà cụ. Nghe nói vậy bà cụ sợ hãi chắp tay vái lạy công chúa và hết lời từ chối. Chàng Đốt Than cũng không dám nhận lời. Chàng mời công chúa nghỉ lại một đêm rồi sáng sớm mai công chúa định đi đến đâu thì chàng sẽ dẫn đi đến đó. Công chúa út hết sức sức thành thật một mực xin ở lại để làm dâu bà cụ và làm vợ chàng Đốt Than. Riết rồi bà cụ không còn cách nào từ chối, đành phải nhận lời.Sau bữa cơm rau bình thường, công chúa hỏi han mọi việc làm ăn và mọi sinh hoạt sớm tối ở trong nhà. Ba mẹ con thân mật trò chuyện tới khuya lắc.Sáng hôm sau, hai mẹ con bà cụ lại mỗi người mỗi việc như thường lệ. Bà cụ dậy sớm nấu cơm cho con trai ăn trước khi đi làm. Chàng Đốt Than cũng dậy rất sớm quay sẵn hai gánh nước cho mẹ. Công chúa cũng bắt tay vào công việc. Nàng dậy sớm hơn mọi hôm ở trong cung điện để dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân ngõ, thả ngựa đi ăn cỏ. Sau bữa cơm sáng, chàng Đốt Than lại đeo dao, quẩy sọt vào rừng. Công chúa Ba ngỏ ý muốn đi theo nhưng bà cụ bảo nàng ở lại cùng cuốc vườn để kịp trồng ngô đúng ngày đúng vụ. Nàng làm việc suốt từ sáng đến chiều nên rất mệt. Đến cuối buổi nàng còn cố gắng cắt thêm một gánh cỏ cho ngựa ăn đêm. Chiều tối chàng Đốt Than quay một gánh than về. Công chúa ra tận ngõ đón chồng…Từ khi có vợ, chàng không phải đi chợ bán than như mọi khi nữa. Việc bán than đã có vợ giúp nên chàng có nhiều thì giờ vào rừng tìm gỗ đốt nên càng ngày càng được nhiều than hơn. (còn nữa).

Nàng Công Chúa Mặt Trời

Nàng công chúa mặt trời

Ngày xửa ngày xưa, có một nhà vua và một bà hoàng hậu sống bên kia chín ngọn núi và chín cánh rừng. Họ sinh hạ được một cậu con trai mà họ yêu thương da diết.

Khi lớn lên hoàng tử có rất nhiều bánh ngọt và kem để ăn . Chàng mặc quần áo đệt bằng chỉ bạc chỉ vàng. Khi chàng ra lệnh, dường như từ trong không khí bỗng hiện ra những người giúp việc mặc áo choàng. Những quan hầu mặc áo dài, thắt đai sáng chói, những con chó săn sói mình trắng như tuyết líu ríu chạy theo chàng không rời nửa bước.

Còn về phần cha mẹ chàng, họ có thể bắt cả mặt trời bỏ vào cái rây mà đưa cho chàng. Nhưng vị hoàng tử trẻ luôn luôn buồn rầu. Chàng muốn xua đuổi những người giúp việc và những con chó của chàng, chàng buồn bã đi dạo quanh quẩn trong vường thượng uyển và than phiền về số mệnh của mình.

Chàng thường nói:” Con không có chị em, anh em gì cả, không có một ai cùng chơi đùa, trò chuyện. Thưa mẹ, mẹ hãy cho con hay vì sao con chỉ có một mình?”. Hoàng hậu chỉ cúi mặt nhìn xuống, không trả lời. Bà vỗ tay ra lệnh cho các cung tần mĩ nữ múa những chũm choẹ bằng vàng mua vui cho hoàng tử. Tuy vậy lòng hoàng tử vẫn nặng trĩu.

Hồi bấy giờ, ở gần cung điện là một cái sân có bức tường đá cao tám mươi thước bao quanh. Trên tường lởm chởm những thanh kim cương sắc nhọn như dao đến nỗi kẻ nào dám cả gan trèo qua tường thì sẽ bị cắt đôi. Ngay cả hoàng tử người ta cũng khuyên chàng đừng bao giờ đến gần bức tường ấy. Dĩ nhiên điều đó chỉ khiến chàng càng tò mò muốn biết có gì đằng sau bức tường đó. Mặc dù chàng hỏi dồn dập nhưng hoàng hậu và các triều thần vẫn không trả lời chàng.

Một hôm, một con quạ đến đậu trên chóp bức tường. Hoàng tử dương cung sắp sửa bắn thì con quạ bỗng nói tiếng người:

– Xin hoàng tử đừng giết tôi, tôi sẽ nói cho chàng biết bí mật về bức tường này, đó là một cung điện nhốt ba công chúa chị của chàng. Nếu hoàng tử muốn gặp ba công chúa thì xin chàng hãy tìm chiếc chìa khoá vàng nhỏ dưới chậu hoa trong phòng ngủ của hoàng hậu. Chàng hãy mở cửa sổ căn phòng các công chúa để họ được thở bầu ko khí trong lành.

Con quạ vỗ cánh bay đi, hoàng tử đứng đó như tê dại, không biết là mơ hay thực.

Đêm xuống, khi mọi ngươì đều ngủ, hoàng tử lặng lẽ trở dậy, vuốt ve những con chó của chàng để chúng không sủa, rồi chàng lẻn vào phòng hoàng hậu, lấy chiếc chìa khoá vàng dưới chậu hoa.

Chàng đi ra, đưa tay sờ bức tường tìm cánh cửa bí mật, mở khoá, bước vào vườn, mở cửa sổ phòng các chị. Ba công chúa chị của chàng đưa tay ra nắm tay chàng, hôn chàng, cám ơn chàng vì đã để họ hít thở bầu không khí trong lành, ngửi những đoá hoa xinh đẹp thơm ngát và ngắm những vì sao lấp lánh.

Bỗng nhiên mặt đất rung chuyển, một cột bụi đen ngòm bay lên trời. Cả ba chị của chàng đều bị cơn lốc cuốn qua cửa sổ. Hoàng tử hoảng sợ vì đã gây nên nông nỗi ấy. Chàng khóc lóc thảm thiết, gọi các chị bằng những cái tên âu yếm nhất, chàng nguyền rủa mình đã tò mò một cách điên rồ.Những giọt lệ của hoàng tử không giúp gì được cho chàng cả. Các chị đã biến mất rồi, gian phòng của họ tối tăm trống trải, chỉ còn nhửng ngôi sao lấp lánh như trước.

Sáng hôm sau khi hoàng hậu thức dậy sửa soạn cơm nước mang cho các công chúa thì không thấy chìa khoá vàng đâu nữa. Hoàng hậu chạy sang cung điện, nơi các công chúa ở, nhưng than ôi! chẳng còn một ai ở đó cả! Hoàng hậu khóc thổn thức, vặn tay tuyệt vọng: ” ôi các con gái đáng thương của ta, ta không bao giờ còn nhìn thấy chúng nữa, con rồng đã ăn thịt chúng rồi!”

Vị vua già giận giữ quát tháo. Tiếng của ngài vang khắp lâu đài khiến tất cả mọi người đều run sợ. Nhưng không một ai biết kẻ nào đã gây ra.

Được biết vì mình mà nhiều người phải chết oan, hoàng tử vội gặp vua cha. Chàng thú nhận toàn bộ sự việc.

Nhà vua tối sầm mặt mày, ngài quát lên giận giữ:” Trước khi mày ra đời, những nhà chiêm tinh nói rằng các chị của mày có thể sẽ bị một con rồng bắt mang đi. Vì vậy ta đã xây một bức tường tám mươi thước, giữ chúng nó trong một cung điện khoá chặt. Nhưng mày không vâng lời ta. Cho nên, là một kẻ có tội mày hãy đi tìm các chị của mày, đến khi nào tìm được thì hãy trở về ” .

Thế rồi nhà vua tự tay mở cổng, ra lệnh cho hoàng tử muốn đi đâu thì đi. Hoàng hậu khóc oà lên, nhưng bà cũng kịp dúi cho chàng một chiếc bánh nướng trước khi cánh cổng đóng sập sau lưng chàng.

Hoàng tử lên đường, không biết làm gì hay đi đâu. Chàng đi liên miên, lên thác xuống ghềnh, qua những đầm lầy, đồng cỏ. Ban đêm chàng trèo lên cây ngủ để không bị thú dữ ăn thịt.

Chàng đi như thế trong nhiều ngày, qua những con đường lớn nhỏ, cùng đường mới ngả lưng xuống nghỉ cho tới khi đến một vùng đất lạ. Chân đau, mệt lử, chàng dừng lại trước một túp lều cũ nát, gõ cửa xin vào ngủ nhờ một đêm. Một bà cụ già đi ra. Bà hỏi chàng đi đâu. Hoàng tử nói với bà về các chị của mình, bà già bảo:

– Cậu không thể tìm thấy họ sớm hơn được đâu chàng trai ạ! Con đường phía trước còn xa, đầy nguy hiểm, hai bàn tay yếu ớt của cậu không quen lao động, tính cậu lại nhút nhát chưa được thử thách. Hãy ở lại đây với già trong ba năm để học hỏi tự kiếm sống, đến lúc ấy già sẽ giúp đỡ cậu.

Thế là hoàng tử đã ở lại với bà cụ già. Chàng đốn cây, cày ruộng, xay lúa, bện dây bằng vỏ cây… Tất cả đều là việc nặng nhọc, nhưng hoàng tử không lùi bước, vì ý chí muốn cứu ba chị của chàng rất mạnh mẽ.

Ba năm trôi qua thật nhanh. Bà cụ gọi hoàng tử đến bên mình và nói:

– Ngày mai cậu có thể lên đường đi tìm các chị của cậu. Đây là cuộn chỉ ta biếu cậu. Nó lăn đi đâu thì cậu đi đấy. Đây là khoanh bánh mì. Lúc nào đói cứ ăn thật no. Nó sẽ đủ dùng trong một thời gian dài.

Hoàng tử từ biệt cụ già, tiếp tục cuộc hành trình. Cuộn chỉ lăn, nẩy lên phía trước để chỉ đường cho chàng. Khoanh bánh mì trong túi không bé bớt đi dù chàng đã ăn được bao nhiêu, những dòng suối cho chàng nước uống, chim chóc cất tiếng hát làm lòng chàngThế rồi chàng đến một ngọn núi bằng đồng, trên đỉnh núi là một cánh rừng bằng đồng. Hoàng tử trèo lên cây bẻ một nhánh làm gậy, bỗng nhiên một mụ phù thủy bốn mắt bay đến, vừa bay vừa đập cánh ầm ầm. Mụ rít lên:

– Đứa nào dám bẻ cành cây trong rừng của ta ???????

Hoàng tử ném cuộn chỉ về phía mụ phù thuỷ, mụ vồ lấy, đập trán vào thân cây quá mạnh làm toé lửa. Trong khi mụ đứng đó lấy sức thì hoàng tử đã trèo lên ngọn núi đầu. Đứng tít trên chóp núi chàng nhìn thấy một cung điện bằng đồng, thấy chị cả đang ngồi ở cửa sổ trước guồng xe chỉ. Nàng nhận ra em trai, đón tiếp ân cần, dọn đồ ăn cho chàng. Nhưng khi đêm đến, nàng bắt đầu buồn phiền lo nghĩ. Nàng bảo hoàng tử nấp sau một cái tủ sơn, sau một bức rèm màu lá cây.

Những cây rừng kêu ro ro, những ngọn lá bằng đồng kêu leng keng chói tai, rồi một con chim ưng bay về. Nó bỏ bộ lông ở cửa biến thành một chàng trai cao lớn, đẹp trai. Nhìn thấy cây gậy của hoàng tử chàng bèn hỏi vợ xem ai đã chặt cây trong rừng của mình. Công chúa liền dẫn hoàng tử ra, chim ưng rất vui mừng đón tiếp nồng nhiệt. Chim ưng than phiền về số phận mình: chàng bị một mụ phù thủy yểm bùa bắt phải làm chim ưng trong sáu năm nữa. Chỉ có công chúa mặt trời mới có thể giải bùa giúp chàng. Dù chàng đã bay khắp nơi để tìm công chúa nhưng không tìm được.Hoàng tử hứa sẽ tìm công chúa mặt trời giúp chim ưng. Chim ưng bèn biếu hoàng tử một cái khăn lúc chia tay và nói:

– Hễ gặp khó khăn cậu hãy trải tấm khăn này ra và cậu sẽ có cái cậu muốn.

Hoàng tử cám ơn chim ưng và lên đường theo cuộn chỉ của cụ già. Đi mãi đi mãi, chàng đến một ngọn núi bạc, trên đó có một cánh rừng bằng bạc. Chàng bẻ cây để làm gậy. một con quỷ hiện ra trong làn khói tím, chàng ném cuộn chỉ thật mạnh vào trán con quỷ, nó ngã xóng xoài ra đất. Hoàng tử vội vàng trèo lên đỉnh núi. Trên đó chàng nhìn thấy một lâu đài. Công chúa thứ hai đang ngồi thêu bên cạnh cửa sổ. Công chúa nhận ra em trai bèn đón tiếp nồng hậu. Nhưng khi đêm đến, nàng buồn rầu nói:

– Đáng tiếc là em không thể ở lâu với chị được. Chồng chị là gấu có thể xé xác em ra mất

– Chị đừng sợ em sẽ trốn đi

Đêm đến, rừng cây bạc rền rĩ kêu lên, một con gấu chạy về. biến thành một chàng trai cao lớn, nhìn thấy cây gậy bạc chàng hỏi:

– Ai đến đây thế?

Công chúa bèn kể lại sự tình, gấu trách vợ không giữ em trai lại chờ mình. Công chúa liền chạy ra cửa gọi hoàng tử. Chàng và anh rể chào nhau, người anh rể nói rằng anh bị một con quỷ yểm bùa thành gấu trong năm năm nữa. Nhưng chỉ có công chúa mặt trời mới có thể giải bùa.

Hoàng tử bèn hứa hẹn sẽ giúp gấu. Trước lúc hoàng tử lên đường gấu tặng cho chàng một nồi bột thần diệu, chỉ cần bôi một ít bột này vào đâu thì vật nào chạm đến sẽ bị dính chặt vào ngay. Hoàng tử từ biệt anh chị rồi lên đường.

Cuộn chỉ lăn mãi cho đến khi đến gần bờ biển. Một hòn đảo nằm giữa biển. Trên đảo có một lâu đài bằng vàng. Chàng băng qua những con quái vật biển để lên đảo. Chẳng mấy chốc chàng đã đến một cánh rừng vàng. Bỗng xuất hiện hai mụ phu thủy gớm ghiếc. Hoàng tử bôi một ít bột thần diệu vào thân cây, hai mụ phù thủy ngửi thấy mùi lạ bèn chạy đến và bị dính chặt vào thân cây. Chàng bẻ một nhành cây vàng và tiến vào lâu đài, nơi có chị út của chàng. Công chúa đang ngồi chơi với quả bóng vàng lăn trên đĩa. Nàng đón tiếp em trai rất nồng nhiệt. Một lát sau nàng bèn đưa chàng đi trốn sau 1 tảng đá và nói:

– Chồng chị là cá chó, có bộ răng sắc nhọn sắp về rồi, em hãy trốn vào đây.

Cung điện bằng vàng rung chuyển, một con cá chó khổng lồ bước vào lâu đài và lột xác thành một chàng trai cường tráng. Anh hỏi vợ xem ai đến thăm họ, công chúa dẫn em trai vào. Họ ngồi vào bàn rất vui vẻ. Nhưng một lát sau cá chó buồn rầu nói:

– Tôi rất tiếc hoàng tử ạ! một mụ phù thủy đã yểm bùa tôi làm cá chó trong bốn năm nữa. Chỉ có công chúa mặt trời mới cứu tôi được thôi.

Hoàng tử hứa sẽ đi tìm công chúa mặt trời, cá chó bèn đưa chàng một chiếc hộp vàng, chỉ cần mở hộp sẽ thấy thứ cần dùng. Hoàng tử tạm biệt anh chị rồi lên đường đi tìm công chúa mặt trời .

Hoàng tử lại lên đường theo cuộn chỉ đi tìm vương quốc của công chúa Mặt Trời.

Không một ai có thể nói là con đường dài hay ngắn, nhưng sau một thời gian dài hoàng tử đã đến lâu đài của công chúa Mặt Trời. Hai bên cổng lâu đài là hai cột lửa, không một ai đi qua mà sống sót. Hễ có người lạ đến là hai cột lửa đó chụm lại thiêu người ấy ra tro.

Hoàng tử để cuộn chỉ lăn đi trước giữa hai cột lửa. Chúng chụm lại với nhau, và kìa, chỉ có một làn khói mỏng bốc lên nơi cuộn chỉ đi qua. Hầu như ngay lúc đó hai cột lửa rời nhau ra. Hoàng tử thừa cơ lẻn qua, tuy thế tóc hai bên thái dương của chàng vẫn bị cháy xém. Bỗng chàng nghe tiếng nói:

– Chàng tìm ai đấy chàng trai?

– Tôi muốn tìm công chúa Măt Trời

– Chàng muốn tìm công chúa để làm gì?

– Tôi sẽ nói điều đó khi gặp được nàng

– Không phải chàng đến cầu hôn công chúa chứ?

– Nếu tôi cầu hôn thì sao nào?

Một tiếng cười vang lên, và bảo:

– Hãy đưa chàng trai này vào phòng khách

Một cơn lốc nổi lên ném hoàng tử vào một căn nhà làm bằng những khúc gỗ chưa đẽo gọt. Ba mươi chín cửa lớn bằng sắt của ngôi nhà đều mở. Hoàng tử thấy mình đang ở trong một ngục tối với một cửa sổ duy nhất hình trái tim, ở cao trên tường, sát trần nhà. Đó cũng là nguồn ánh sáng duy nhất. Hoàng tử không thể nói ngay là chàng ở đâu. Khi mắt đã quen với bóng tối chàng mới nhận ra có đến hai mươi tám cụ già ở cùng mình.

Chòm râu dài xác xơ, người gầy đét như que củi vì tuổi tác. Hoàng tử hỏi họ:

– Các cụ là ai? Sao lại ở đây?

Một cụ trả lời:

– Trước kia chúng tôi cũng như anh , trẻ khoẻ cường tráng, và chúng tôi đến đây để cầu hôn công chúa Mặt Trời, do đó mới bị thế này đây! Giờ chúng tôi chỉ còn biết chờ chết!

– Xin các cụ đừng buồn phiền. Chúng ta sẽ tìm một lối thoát. Chúng ta có hai chín người nên nhất dịnh sẽ nghĩ ra điều gì đó…

Nhưng các cụ chỉ biết lắc đầu nhìn xuống

Lúc ấy có người gõ cửa sổ rồi ném vào một bao yến mạch. Các cụ đỏ xô lại tranh nhau nhặt bằng miệng những hạt yến mạch trên sàn nhà. Họ nói:

– Anh phải ăn, vì đó là thức ăn độc nhất, và nước uống cũng là thứ độc nhất của chúng ta.

– Không phải thế. Tôi không phải ngỗng để mổ yến mạch.

– Khi anh đói anh khắc biết phải mổ yến mạch như chúng tôi

Bấy giờ một bàn tay nào đó luồn vào trong một bình nước, Hoàng tử giật lấy đổ qua cửa sổ. Các cụ rền rĩ :

– Sao anh lại làm thế? Nếu công chúa Mặt Trời tức giận thì chúng tôi sẽ chết khát đấy.

– Các cụ đừng sợ! Hãy ném đống yến mạch này trả cho công chúa để nàng không nhạo báng các cụ nữa

Rồi chàng cầm bao yến mạch ném qua cửa sổ.

Chàng lấy trong túi ra chiếc khăn mà chim ưng tặng. Tức khắc, những đĩa thức ăn ngon lành, những loại rượu hảo hạng hiện ra. Các cụ liền bắt đầu ăn uống như chưa từng được ăn uống. Họ coi chàng là vị ân nhân.

Lúc bấy giờ thị tì của công chúa hé mắt qua cửa sổ và hết sức ngạc nhiên khi nhận ra đó là chiếc khăn của chim ưng. Cô vội vàng vào nói với công chúa Mặt trời. Công chúa ra lệnh:

– Ta phải có chiếc khăn kia. Hãy đưa người lạ mặt những gì hắn muốn để lấy kì được chiếc khăn

Cô thị tỳ trở lại nhà ngục, loan báo ý muốn của công chúa.

Các cụ van nài hoàng tử đừng đưa chiếc khăn cho công chúa nhưng hoàng tử không nghe lời, chàng nói:

– Cô hãy vào đây để lấy chiếc khăn

Sao Kim – tên của cô gái – bước vào. Nhan sắc của cô thật lộng lẫy. Hoàng tử nói tiếp

– Hãy nói với công chúa rằng tôi cầu chúc công chúa sức khoẻ, mong công chúa được hạnh phúc mãi mãi, thỉnh thoảng mong nàng nghĩ đến tôi. Sao Kim mang chiếc khăn về cho công chúa Mặt Trời và nhắn lại những lời hoàng tử nói khiến công chúa bật cười: Bây giờ thì anh sẽ chỉ có yến mạch để ăn mà thôi!

Nhưng hôm nay hoàng tử lại ném yến mạch qua cửa sổ. Công chúa mặt trời cho một thị tì khác là Sao Hôm đi thăm dò xem vì sao lại như vậy.Sao Hôm hé nhìn vào nhà tù, cô thấy các cụ đang uống rượu vang, ăn những món ăn ngon tuyệt, trong khi đó bên trong cái hộp bằng vàng cất lên những âm thanh vui vẻ, tiếng đàn vang lên lanh lảnh, tiếng vĩ cầm trầm bổng đến nỗi bốn bức tường đều rung lên.

Khi đã ăn uống no say rồi, các cụ bắt đầu khiêu vũ, vỗ tay, nhảy múa như điên. Sao Hôm nói, tiếng nói của cô lọt qua ô cửa sổ hình trái tim trên tường:

– Công chúa Mặt trời muốn có chiếc hộp vàng kia, ngươi hãy bán nó cho công chúa!

Hoàng tử đáp:

– Cô hãy vào đây, ngồi với chúng tôi một lát, rồi cô sẽ có cái hộp

Ba mươi chín cánh cửa mở ra, Sao Hôm bước vào, trông cô thật đáng yêu như tên cô đã chỉ rõ.

Các cụ phủ phục dưới chân hoàng tử xin chàng đừng đưa chiếc hộp cho Sao Hôm. Nhưng hoàng tử không nghe lời họ, chàng mời Sao Hôm ngồi trên một hòn đá, thết cô những thức ăn quí hiếm nhất, cùng thứ rượu mật ong ngon nhất. Sao Hôm ăn uống say sưa, khi cô đứng lên thì không đứng nổi nữa. Chắc các bạn nghĩ rằng cô ta bị say rượu chăng? Sự thực thì không phải, đó là do hoàng tử đã bôi một ít bột thần diệu lên tảng đá cô ngồi. Dù cho cô đã khóc lóc, van nài hoàng tử thả cô ra nhưng hoàng tử không để cô đi. Còn các cụ thì vui sướng thích thú.

Công chúa mặt trời nghe tiếng đàn tiếng hát, nhưng nàng ko hiểu vì sao trong nhà tù lại vui vẻ đến thế , vì Sao Hôm không trở về càng làm nàng tò mò và quyết định đến đó. Công chúa bước vào nhà tù, nhan sắc của nàng chói lọi quá mức làm các cụ phải bịt mắt lại, còn hoàng tử thì tim đập thình thịch!

Công chúa ra lệnh cho Sao Hôm:

– Hẵy rời khỏi nơi này ngay!

Cô thị tỳ trở về, vừa đi vừa cười khúc khích, rõ ràng là cô đã bị say rượu.

– Ta sẽ không xử xự thế này!- Công chúa kêu lên- Hỡi người khách lạ, ta muốn mua chiếc hộp bằng vàng này của ngươi, nhà ngươi muốn bán nó bao nhiêu tiền?

Hoàng tử nói:

– Hỡi nữ hoàng đáng yêu nhất trong các vị nữ hoàng! Nhan sắc của nàng đã mê hoặc tôi. Xin nàng hãy lấy bất cứ thứ gì nàng thích nhất, cái hộp nhỏ này, nàng Sao Hôm, hay chính bản thân tôi, chỉ đáng làm đầy tớ của nàng.

– Thiếp sẽ lấy cả ba!- Công chúa Mặt trời quyết định và đưa tay nắm lấy tay hoàng tử dẫn lên ngai vàng và nói:

– Từ hôm nay chàng sẽ là chồng thiếp. Đây là chìa khóa của bốn mươi căn phòng trong cung điện. Chàng đươc tự do đi bất cứ đâu, trừ căn phòng thứ bốn mươi chàng ko được mở.

Hoàng tử kết hôn cùng công chúa Mặt Trời , chàng sống trong cung điện của nàng. Chẳng hề lo nghĩ gì, chàng rất hạnh phúc. Thực ra chàng đã quên mất lời hứa của mình với ba anh rể. Nhưng chàng đã giải phóng những phòng giam người tù của công chúa. Họ cúi xuống hôn chân vị cứu tinh. chàng đi khắp cung điện để thưởng ngoạn. Trong phòng này là tiếng dế kêu rả rích, trong phòng kia lại là những ngón tay băng giá lạnh buốt, phòng khác lại là vô vàn những ngôi sao sáng rạng rỡ….. tất cả đều rất tuyệt.

Nhưng hoàng tử nghĩ: ” tại sao công chúa Mặt Trời lại cấm ta không đươc mở căn phòng kia chứ? sẽ không có ai xen được vào tình yêu của chúng ta mà , tại sao nàng lại làm vậy?

Quá tò mò, hoàng tử liền mở cánh cửa sát nặng nề. Cửa mở ra với tiếng kêu ghê rợn. Hoàng tử thận trọng bước vào. Nhưng ko thấy một sinh vật nào ngoài một chiếc cột phủ đầy rêu giữa nhà với những xiềng xích buộc từ cột này sang bốn góc phòng. Hoàng tử sờ vào cái cột, vừa quay đi thì nó ( cột ) kêu lên:

– Hãy rủ lòng thương tôi, hỡi chàng trai tốt bụng. Có một ống nước và cái ca lớn bên cạnh ở góc phòng. Chàng hãy múc một ít nước vào cái ca cho tôi uống, tôi sẽ đền ơn chàng!

Hoàng tử múc nước đổ vào cái cột. Cái cột uống hết nước. Nó lắc mình, kéo dây xích kêu chói tai và ô kìa, xiềng xích rơi xuống nền nhà, rêu biến mất, cái cột vươn mình và hoàng tử nhận ra đó nào phải cái cột mà là một tên khổng lồ gớm ghiếc!

Hắn gầm lên:

– Cám ơn chàng trai lắm! Giờ thì công chúa Mặt Trời đã thuộc về ta!

Hắn vụt đi như cơn lốc, lao vọt ra khỏi phòng, bắt công chúa bay đi. Đôi lúc tóc nàng rực sáng trên cánh đồng đen tối khiến người ta có thể nhận biết được tên khổng lồ đã mang nàng đi đâu.

Bầu trời tối sầm lại, lạnh buốt. Ánh sáng, sự ấm áp, màu sắc đã biến khỏi mặt đất. Nỗi kinh hoàng lắng xuống tận đáy biển.

Nhưng không có tấm lòng nào buồn thảm bằng tấm lòng hoàng tử, vì phải chăng chàng đã định đoạt số phận của người vợ thân yêu.

Suy đi nghĩ lại, chàng chọn con ngựa tốt nhất đuổi theo kẻ đã bắt đi công chúa Mặt Trời.

Hoàng tử đi suốt hai ngày dài đằng đẵng, sang ngày thứ ba thì đến lâu đài tên khổng lồ. Chàng thấy hắn đang ngủ, một con dê ba mắt đang canh giữ công chúa Mặt Trời.

Hoàng tử cúi xuống khẽ hát ru con dê để nó nhắm mắt lại: Hỡi dê yêu quý hãy nhắm mắt, hãy nhắm nốt mắt kia”

Nhưng chàng đã quên con mắt thứ ba của con dê. Ngay khi hoàng tử mang công chúa lên ngựa thì nó kêu lên:

– Cụ già ơi, cụ già ơi, chúng nó đang lấy cắp vật báu của cụ kìa!

Tên khổng lồ thức dậy

– ta còn nhiều thì giờ, cứ đi đào khoai rồi sẽ đuổi chúng sau!

Hoàng tử và công chúa đi được một đoạn khá xa và tên khổng lồ cũng đào được một bao tải khoai, hắn nhảy lên lưng con dê đuổi theo hai người. Vì con dê đi khá nhanh nên chẳng mấy chốc đã đuổi kịp hoàng tử. Hắn nói:

– Tao sẽ không giết mày, vì mày đã cứu tao. Nhưng nếu mày còn đến nữa thì tao sẽ giết mày.Rồi hắn tóm lấy công chúa mang đi. Công chúa chỉ kịp ném cho hoàng tử cuộn chỉ thần của chàng.

Hoàng tử lại tìm cách cứu vợ mình một lần nữa. Nhưng do phận rủi, chàng cũng quên mất con mắt thứ ba của con dê, nó kêu lên:

– Cụ già ơi cụ già, chúng nó đang lấy cắp vật báu của cụ kìa!

Tên khổng lồ thức dậy và nói:

– Ta còn nhiều thì giờ, cứ đi nướng khoai đã!

Hoàng tử và vợ của chàng vừa về đến lâu đài thì một cơn gió thổi đến, tên khổng lồ bắt lấy công chúa,và đánh một chùy vào đầu hoàng tử khiến chàng ngã lăn ra đất tắt thởi.

Công chúa chỉ kịp ném chiếc khăn thần của chim ưng cho hoàng tử.

Hoàng tử nằm chết lịm ở nơi tên khổng lồ đã cướp công chúa đi. Những con quạ đen bay đến sắp mổ vào mắt chàng thì chim ưng bay đến, mỏ ngậm nước suối hồi sinh trong cung điện của công chúa Mặt Trời ướm vào miệng hoàng tử. Hoàng tử từ từ tỉnh lại, chim ưng nói: cậu ko thể cứu công chúa bằng con ngựa tầm thường này đâu. Hãy đi tìm mụ phù thủy Lâumi, xin mụ cho làm người chăn ngựa. Cậu hãy lắng nghe những gì con mèo của mụ nói với cậu. Sinh mệnh của tên khổng lồ nằm trong quả trứng do con vịt trời đang sống ở bờ biển. Cậu phải đến đó, cưỡi con ngựa của mụ đến bắt con vịt trời, lấy quả trứng và đi giải thoát cho công chúa Mặt Trời. Nếu có khó khăn cứ trải cái khăn ra chúng tôi sẽ đến giúp cậu. Chúc may mắn.

Nói rồi chim ưng bay đi. Hoàng tử theo dấu cuộn chỉ tìm đến nhà mụ Lâumi, chàng gặp mụ ở cửa, mụ hỏi:

– Chàng trai trẻ đi đâu vậy?

– Cháu đi kiếm việc làm

– Hãy ở lại với ta và chăn đám ngựa cho ta trong ba ngày mà không mất con nào, ta sẽ trả cho anh thứ gì anh muốn. Bây giờ hãy vào nhà ăn bữa tối đi.

Hoàng tử vào nhà ăn, một con mèo mắt xanh trèo lên lòng hoàng tử và nói:

– Cho tôi miếng thịt ngon mà chàng đang ăn, tôi sẽ kể cho chàng nghe những gì tôi biết.

Hoàng tử cho nó một miếng thịt, con mèo nói tiếp:

– Tất cả những con ngựa cái đó đều là con gái của mụ Lâumi, mụ phù thủy đã dặn dò chúng ngày mai biến thành những con cá nhỏ trốn giữa những ngọn cỏ dại trong ao để phá rối hoàng tử.

Hôm sau, mụ phù thủy đưa cho chàng một miếng phó mát để ăn trưa. Mụ ra lệnh cho hoàng tử dẫn chúng ra đồng cỏ cạnh bờ ao.

Lũ ngựa ngoan ngoãn không hề trái lời hoàng tử. Khi hoàng tử ăn trưa và ngủ thiếp đi thì lập tức chúng biến thành những con cá nhỏ trốn dưới ao.

Khi chàng ngủ dậy thì ko thấy một con ngựa nào, chàng trải khăn ra thì cá chó xuất hiện:

– Mụ Lâumi đã biến con gái mụ thành những gì?

– Thành cá

Cá chó biến thành một con tôm đồng bơi theo bọn con gái mụ phù thủy, bắt chúng rồi lấy càng cắt làm đôi. Thế là bọn chúng chẳng còn cách nào khác là biến thành ngựa.

Hoàng tử dắt chúng về nhà. Mụ phù thủy đánh đập chúng

– Chúng mày là đồ hư đốn, không nghe lời người đi chăn!- mụ kêu lên- chúng mày chỉ đi nghênh ngang khắp bụi rậm chứ gì?Suốt cả buổi mụ nổi cơn tam bành vì không đứa con gái nào khôn khéo trốn đươc hoàng tử. Mụ bảo chúng hôm sau biến thành chim gõ kiến nấp trong gốc cây. Con mèo lại kể cho hoàng tử.

Hôm sau hoàng tử ăn phó mát và ngủ thiếp đi. Những con ngựa biến thành gõ kiến nấp vào gốc cây. Tỉnh dậy chẳng thấy lũ ngựa đâu. hoàng tử trải khăn ra, chim ưng bay đến, bắt những con gõ kiến xé chúng làm đôi, chúng chỉ còn cách biến thành ngựa cái. Hoàng tử dẫn chúng về nhà. Mụ phù thủy đón chúng ở cổng, mụ đánh chúng rất hung dữ vì chúng không nấp kỹ hơn được.

– Ngày mai chúng mày sẽ biến thành ấu trùng vỏ cây và phải trốn kĩ!

Con mèo lại nói với hoàng tử.

Nhưng hôm sau chim ưng lại giúp chàng bắt ấu trùng vỏ cây. Hoàng tử dẫn lũ ngựa về nhà, lần này mụ phù thủy giận điên lên, mụ lấy cái roi từ tay hoàng tử đánh lũ ngựa, nguyền rủa chúng. Rồi mụ nói với hoàng tử:

– Anh đi ngủ đi, ngày mai anh sẽ có thứ anh muốn

– Tôi không thích gì cả, chỉ cần con ngựa non nhỏ nhất của bà thôi

– Con ngựa đó ốm yếu vậy anh dùng sao được?

Đúng thế, con ngựa nằm một góc, không to hơn con mèo bao nhiêu, vẻ như sắp chết

Mụ phù thủy nói:

– Anh hãy lấy thứ khác đi

Nhưng hoàng tử không nghe, chàng nhất định chọn con ngựa non nhỏ yếu. Mụ Lâumi bắt đầu run lên, sùi bọt mép vì giận giữ, về phần con ngựa, nó có vẻ giống như đứa cháu yêu của mụ vậy.

Hoàng tử ôm con ngựa đi. Lạ thay, mỗi bước đi của chàng con ngựa lại to ra, hoàng tử có thể trèo lên lưng nó đến bờ biển để bắt con vịt trời. Con ngựa phi nhanh như gió, nó bay vút lên trời xanh làm toé cả lửa.

Chỉ một lát sau, hoàng tử đã đến bờ biển. Nhưng con vịt đang ở giữa biển khơi, làm sao bắt được? Bỗng nhiên cá chó hiện ra bắt con vịt lại cho chàng. Chàng nắm lấy con vịt, xé làm đôi và cầm lấy quả trứng sinh mệnh tên khổng lồ. Cất quả trứng vào áo choàng, chàng bay đến lâu đài tên khổng lồ. Chàng hét lên:

– Hãy thả vợ của ta ra, hỡi tên khổng lồ đáng ghét!

– Cút đi cho khuất mắt ta, nếu không mày sẽ chết nhóc con ạ!

– Mày chẳng thể làm thế được, vì tao đã nắm sinh mệnh của mày trong tay.

Nói đoạn hoàng tử lấy quả trứng ra và đập vỡ. Tức thì tên khổng lồ thét lên và chết. Công chúa Mặt Trời chạy ra ngã gục vào lòng hoàng tử, ôm lấy chàng. Ngay lúc đó mặt trời bừng sáng, muôn hoa đua nở, sự sống lại quay về mặt đất.

Công chúa Mặt Trời ném chiếc thắt lưng cưới của nàng lên bầu trời thành một cái cầu vồng rực rỡ. Hoàng tử xin công chúa giải cứu các anh rể của mình và nàng đồng ý.

Tiệc tùng nhiều ngày, công chúa Mặt trời và hoàng tử cùng các chị của mình về thăm vua cha và hoàng hậu. Đức vua và hoàng hậu rất vui mừng vì sau bao nhiêu thời gian họ tưởng chàng đã chết.

Từ đó hoàng tử và công chúa mặt trời sống hạnh phúc bên nhau trọn đời!

Cập nhật thông tin chi tiết về Liễu Hạnh Công Chúa « Thư Viện Đất Việt trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!