Xu Hướng 2/2024 # Làm Sáng Tỏ Nhận Định “Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Làm Sáng Tỏ Nhận Định “Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong cuốn Đến với thơ hay, Lê Chí Viễn cho rằng: ” Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”

Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Hãy làm sáng tỏ “thế giới của cái đẹp” trong tác phẩm ” Đọc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du.

* Giải thích nhận định:

– Thơ hay: hiểu chung là chỉnh thể thẩm mĩ, có khả năng khơi gợi ở người đọc những rung động thẩm mĩ, góp phần hoàn thiện con người, nâng con người lên…

– Điệu kiên cường hay làn êm ái: nội dung muôn màu muôn vẻ, phong phú vô cùng của thơ ca, “kiên cường”: thơ nói chí, tỏ lòng, trào phúng hay “làn êm ái”: thơ trữ tình, thơ lãng mạn.

– Thế giới của cái đẹp: “cái đẹp” là một phạm trù thẩm mĩ thể hiện ở nhiều phương diện: vẻ đẹp của tâm hồn, tấm lòng, tài năng người nghệ sĩ, cái đẹp toát lên từ nội dung và hình thức của thơ, cái đẹp khơi gợi những rung động thẩm mĩ, bồi đắp tâm hồn con người.

⇒ Cả nhận định: Nói về giá trị thẩm mĩ của thơ ca.

* Bàn luận

Ý kiến đúng đắn vì:

– Đối tượng của văn học nói chung, thơ ca nói riêng là đối tượng thẩm mĩ, được khám phá ở chiều sâu thẩm mĩ (mỗi hiện tượng của đời sống bước vào thơ đều được nhìn, được miêu tả dưới góc độ thẩm mĩ – VD: con đường đi vào thơ Xuân Diệu “nhỏ nhỏ xiêu xiêu” của một chiều thu…)

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc thăng hoa mãnh liệt, được ý thức nhưng đó cũng là những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ giàu chất nhân văn (niềm vui, nỗi buồn, khát khao, phẫn nộ …đều phải mang tính thẩm mĩ. VD: nỗi căm giận của con hổ trong vườn bách thú trong thơ Thế Lữ, nỗi buồn khi đứng trước cảnh sông nước trong thơ Huy Cận …)

– Thơ hay thực hiện được mục đích thiên chức của người nghệ sĩ là hướng con người tới chân, thiện, mĩ; nâng con người lên, làm cho lòng người phong phú thanh sạch hơn, khiến con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn.

– Tiếp nhận văn học, trong đó có việc tiếp nhận thơ và thơ hay thực chất là tiếp nhận thẩm mĩ, lấy cái trong trẻo, tinh tế và tri âm mà cảm nhận, không bao giờ chấp nhận cái vụ lợi tầm thường, lấy hồn ta để hiểu hồn người.

* Chứng minh:

Cần làm rõ bài thơ “Đọc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du là “thế giới của cái đẹp”:

– Cái đẹp của cảnh vật, con người được miêu tả.

– Cái đẹp của tâm hồn, tình cảm của người nghệ sĩ

– Cái đẹp trong cấu tứ, cách cảm, cách nói, cách dùng từ ngữ…

– Cái đẹp ở khả năng gợi lên những rung cảm thẩm mĩ, khơi luyện những tình cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc.

– Dẫn chứng mở rộng: Những tác phẩm khác của Nguyễn Du và tác phẩm của những nhà thơ khác như Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Đình Chiểu …

* Đánh giá:

– Thơ ca là thế giới của cái đẹp, đó chính là đặc trưng thẩm mĩ của thơ ca, cũng là nội dung mục đích của văn học nói chung: văn học cần hướng đến khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người cuộc sống, nhà thơ, nhà văn cũng cần viết về những điều tốt đẹp để khơi gợi tình yêu, lòng lạc quan cho người đọc.

– Không phải thơ ca lúc nào cũng miêu tả cái đẹp. Thơ ca có quyền miêu tả những cái xấu xa, độc ác, để sự thật cuộc đời được chân thực hơn.

– Nhà thơ phải là người sống sâu sắc, tinh tế để cảm xúc thăng hoa trên trang thơ, người đọc cũng cần rung động và hiểu đời, hiểu người để cảm nhận hết được thế giới cái đẹp mà nhà thơ miêu tả và muốn hướng tới.

“Thơ đưa con người đến với cái đẹp. Cái đẹp của muôn loài và vạn vật, cái đẹp của cuộc sống con người. Đến với cái đẹp của lòng đồng cảm và vị tha, của những phẩm chất nhân văn là đáng quý. Cái đẹp đó dù với cảm xúc mãnh liệt hay nhẹ nhàng, êm đềm cũng đều để lại cho người đọc những trăn trở, suy nghĩ và bâng khuâng. Bàn về thơ hay, trong “đến với thơ hay” Lê Chí Viễn đã cho rằng ” Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp” “cái đẹp” đó đã được thể hiện sâu sắc qua bài thơ ” Đọc tiểu thanh kí” của Nguyễn Du.

Ý kiến của Lê Chí Viễn đã để lại cho người đọc nhiều băn khoăn và trăn trở, suy nghĩ. “Thơ” là những sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tình cảm, cảm xúc mãnh liệt thông qua ngôn từ cô đọng, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Một bài ” thơ hay” là một bài thơ phải sử dụng ngôn ngữ tinh vi và đặc sắc, hình ảnh gợi cảm, hàm xúc và đa nghĩa; một bài thơ xuất phát từ chính tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ, là bài thơ đã kiến người đọc đồng cảm với chính tác giả, thấu hiểu triết lý, hiện thực cả một tầng lớp, một giai đoạn dân tộc.

Hay nói cách khác một bài “thơ hay” là bài thơ phải kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp đăc sắc nghệ thuật. “điệu kiên cường” và “làn êm ái” là những dọng điệu, tình cảm và cảm súc của tác giả gửi gắm trong bài thơ, một bài thơ hay, là chiếc cầu nối đồng điệu giữa tâm hồn độc giả với tiếng nói trái tim của người nghệ sĩ. Để rồi, qua đó, người đọc bước vào “thế giới của cái đẹp”, cái đẹp về tư tưởng, tình cảm, cái đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật được tác giả gửi gắm qua bài thơ. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã xuất phát từ đặc trưng và giá trị thẩm mĩ của thơ ca, tác động sâu sắc vào suy nghĩ và cách nhìn nhận của độc giả khi đến với vẻ đẹp tinh tế, đặc sắc của văn chương muôn đời.

Một “bài thơ hay” là bài thơ của tiếng nói tình cảm và tâm hồn của những triết lý nhân sinh và sâu sắc. Những gì đã đi vào trong thơ đều là những trăn trở, suy nghĩ chân thành, là những ấn tượng đặc sắc về thế giới quan của tác giả. Nó phải mạnh mẽ, thăng hoa và mãnh liệt đến nỗi nếu không bộc lộ, người nghệ sĩ sẽ trăn trở và băn khoăn, day dứt. Bởi vậy thế giới của cái đẹp mà nhà thơ sáng tạo lên không đơn thuần là hiện thực cuộc sống bàng quang và vô vị, mặt khác, thế giới đó phải là hình ảnh khách quan trong thế giới chủ quan, nghĩa là phải mang những cảm xúc mãnh liệt, những chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả.

Cái đẹp đó phải khiến độc giả phải đồng điệu trong từng tâm trạng, từng nhịp đập với nhà thơ. “Thế giới của cái đẹp” trong một bài thơ hay được kết nối đến người đọc qua những “điệu kiên cường”, là tình cảm mãnh liệt, lên án và phê phán đanh thép của tác giả, qua những “làn êm ái”, là sự vị tha, đồng cảm, tri tâm, là giọng thơ khắc khoải, ưu sầu của chính tâm hồn người nghệ sĩ. Bởi vậy, một bài “thơ hay” dù xuất phát hay thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ hay giọng điệu nào để hướng người đọc đến cái đẹp, để cảm nhận “thế giới của cái đẹp”, nét đẹp về nội dung và nghệ thuật đặc sắc.

Nguyễn Du đã đưa người đọc đến với cái đẹp về nội dung bài thơ, cái đẹp của lòng đồng cảm và tri ân, cái đẹp của sự nhân đạo và xót xa cho bao kiếp người bạc mệnh.

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu“Cổ kim hận sự thiên nan vấn“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Theo chúng tôi Phong vận kì oan ngã tự cư”. Văn chương vô mệnh lụy phần dư”. Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.

Tây Hồ là hình ảnh cụ thể, một địa danh có thật, tuyệt đẹp xuất hiện trong bài nhưng nay đã hoá thành gò hoang, trống vắng và hoang tàn. Từ hình ảnh cụ thể đó nhà thơ đã liên tưởng đến sự thay đổi khắc nghiệt của cuộc đời con người. Sự thay đổi giữa cảnh đẹp nay thành gò hoang, giữa hiện tại và quá khứ, giữa vẻ đẹp chỉ còn trong hoài niệm mà nay đã biến mất rồi. Để từ đó là sự thay đổi trong cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Từ một người con gái nhan sắc đẹp đẽ, tài năng tuyệt diệu mà nay chỉ còn là một nấm mồ. Nàng chết trong cô đơn và lẻ loi, để lại những ước mơ và thanh xuân tươi đep. Một cuộc đời, một con người tài hoa mà bạc mệnh.

“Tẫn” là sự huỷ diệt, đổi thay đến triệt để và tận cùng của thời gian. Để từ đó nêu ra sự thay đổi đến khắc nghiệt của cuộc đời. Dường như trong câu thơ, người đọc vẫn bắt gặp sự ngậm ngùi, xót xa của Nguyễn Du cho người con gái, cho một số phận bạc mệnh, đắng cay. Qua đó, tấm lòng của Nguyễn Du đã được thể hiện qua tâm thế tri ân cùng nàng. Nhà thơ nhớ người xưa trong khung cảnh “độc điến”, một mình ngắm nàng. Hình ảnh đó như kéo ngắn lại không gian và thời gian, cho hai con người sống ở hai giai đoạn khác nhau cùng đồng cảm và tri ân. Hình ảnh đó là sự xót xa, là niềm cay đắng cho kiếp tài tử phong lưu, là tìm được một người bạn cùng thuyền, cùng sẻ chia và cùng tâm sự. Cái đẹp về nhân cách của tác giả chính là biểu hiện ở chỗ đó.

Hai câu thơ đã sử dụng nghệ thuật đối, làm lớp nghĩa được xét đa chiều suy nghĩ khác nhau. Son phấn có thần nên khi đốt vẫn ngậm ngùi, xót xa; văn chương không mệnh nhưng đốt vẫn để lại cho lòng người nhiều cay đắng. “Son phấn” là vẻ đẹp về nhan sắc, ngoại hình. “văn chương” là vẻ đẹp về tài năng và trí tuệ. “Son phấn” hay “văn chương” dù khi đã đốt vẫn để lại xót xa cho hậu thế. Là vẻ đẹp về tài năng và nhan sắc tồn tại vĩnh cửu, không bao giờ bị phai mờ. Dù khi đã hoá tro tàn nhưng luôn khiến những người đời sau phải đau đớn, trăn trở và suy nghĩ. Suy nghĩ cho người phụ nữ, tài hoa mà bất hạnh, suy nghĩ cho kiếp tài tử phong lưu đầy xót xa và cay đắng. Để rồi qua đó cái đẹp mà người đọc thấy được ở Nguyễn Du là cái đẹp của lòng đồng cảm, cái đẹp của sự thấu hiểu và tri ân, cái đẹp vẫn văng vẳng trong lòng độc giả.

Nỗi hận ở đây là nỗi hận không có lời giải đáp, nỗi hận mà trời cao cũng không thể trả lời: Tại sao kiếp “Tài tử giai nhân” luôn phải chịu những cay đắng, bi kịch, không bao giờ có lối thoát? Là sự xót xa cho một kiếp người. Nỗi hận đó không ai thấu hiểu, chỉ có những con người đồng cảnh ngộ mới có thể đồng cảm và sẻ chia.. Để rồi Nguyễn Du cũng thấu hiểu cái nỗi oan lạ lùng đó. Xót thương, cay đắng cho một kiếp người nay thành xót thương cho chính mình. Một kiếp người tài năng và trí tuệ nay cuối cùng phải chôn vùi trong tấm bi kịch, để rồi kết thúc là một nấm mồ hoang sơ, lẻ loi và cô đơn theo năm tháng. Nỗi hận đó của Nguyễn Du đã đi vào lòng người đọc, đầy u oán và trách cứ, làm cho tâm hồn phải thổn thức, làm trái tim độc giả phải băn khoăn và suy nghĩ.

Tác giả đã xưng tên mình vào trong thơ, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng và cảm xúc của mình. Câu hỏi tu từ vang lên không chỉ là nỗi cay đắng xót thương cho nàng Tiểu Thanh mà còn xót thương cho chính bản thân Nguyễn Du. Tiểu Thanh còn có người đồng cảm và tri ân vậy ba trăm năm nữa, ai sẽ rơi lệ mà đồng cảm mà xót xa cho kiếp người “Cánh bèo mạn nước” như Nguyễn Du. Câu hỏi u sầu đó như ám ảnh người đọc, như trăn trở và băn khoăn.

Nguyễn Du còn dẫn độc giả đến “thế giới của cái đẹp” và nghệ thuật qua thể thơ Đường luật đặc sắc, sử dụng thành công nghệ thuật đối, nhân hoá và câu hỏi tu từ. Ngôn ngữ và giọng thơ thấm đượm buồn bã, u sầu và xót xa như gieo vào tâm trí độc giả những bâng khuâng và trăn trở.

Như vậy một bài thơ hay sẽ đưa con người vào “thế giới của cái đẹp”, của những tình cảm, cảm xúc, của vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Thế giới đó sẽ là chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và người đọc. Qua đó người nghệ sĩ phải biết xây dựng lên những “thế giới cái đẹp” trong lòng người đọc, viết bằng cảm xúc chân thật nhất, còn người đọc phải biết mở rộng tâm hồn để thưởng thức cái đẹp. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã đưa người đọc đến giá trị và đặc trưng của thơ ca, đến với “thế giới cái đẹp”.

Trình Bày Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Để Làm Sáng Tỏ Những Nhận Định

1. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm: Quang Dũng là một nhà thơ chiến sĩ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu của một con người tài hoa, đa tài. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, là kết tinh của những trải nghiệm trong cuộc đấu tranh chống Pháp cùng những người đồng đội trong binh đoàn Tây Tiến.

2. Thân bài

– “Dáng dấp của tráng sĩ thuở trước” là những nét đẹp lí tưởng mang tính ước lệ của văn chương trung đại.

– “Mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” lại hướng đến những nét đẹp hiện đại của những người chiến sĩ vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp.

– Trước tiên, hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt cùng tinh thần xả thân tự nguyện, tư thế ngang tàng, ngạo nghễ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao.

+ Hình tượng người lính Tây Tiến được đặt trong không gian đầy hào hùng, cổ xưa gợi cho độc giả liên tưởng đến không gian bi hùng cổ xưa.

+ Quang Dũng đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ Hán Việt “biên cương”, “mồ viễn sứ”, “áo bào” để làm tăng tính trang trọng.

+ Không gian chiến trường trong bài thơ Tây Tiến hiện lên là miền viễn xứ chốn biên ải, đây là nơi chiến đấu, cũng là nơi mãi mãi nằm xuống của những người lính vô danh.

+ Nói về cái mất mát, hi sinh nhưng nhờ sử dụng ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ mà sự hi sinh ấy trở nên thật thiêng liêng, cao đẹp.

– Người lính Tây Tiến còn mang trong mình vẻ đẹp của những người chiến sĩ giải phóng của thời chống Pháp, hào hùng, kiên cường nhưng rất đỗi hào hoa, lãng mạn:

+ Chiến đấu với tinh thần vệ quốc, quyết hi sinh, dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp lớn của đất nước

+ luôn lạc quan, vui vẻ thể hiện được sức sống căng tràn của những chàng trai Hà Thành lãng mạn, mộng mơ.

+ Những người lính trong tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng của những người lính vệ quốc nhưng cũng thể hiện những nét đẹp tươi trẻ, nghịch ngợm của những chàng trai đôi mươi đầy lãng mạn, mộng mơ.

3. Kết bài

Hai ý kiến nhận định về bài thơ Tây Tiến nhìn bên ngoài có vẻ đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất vì cùng hoàn thiện cho vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, vừa kiên cường, quả cảm vừa lãng mạn hào hoa.

II. Bài tham khảo cho đề cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

Quang Dũng là một nhà thơ chiến sĩ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu của một con người tài hoa, đa tài. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, là kết tinh của những trải nghiệm trong cuộc đấu tranh chống Pháp cùng những người đồng đội trong binh đoàn Tây Tiến. Thành công nổi bật của của bài thơ là xây dựng được hình tượng người lính Tây Tiến vừa mang dáng dấp của những người chiến sĩ thuở trước, vừa mang những vẻ đẹp hiện đại của những người chiến sĩ chống Pháp, kiên cường nhưng cũng rất đỗi hào hoa, phong nhã.

Đọc Tây Tiến, có ý kiến cho rằng “người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh “Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp”. Hai ý kiến tưởng chừng đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất bởi nó đều là những nét đẹp đặc trưng trong hình tượng của những người lính Tây Tiến. “Dáng dấp của tráng sĩ thuở trước” là những nét đẹp lí tưởng mang tính ước lệ của văn chương trung đại. “mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” lại hướng đến những nét đẹp hiện đại của những người chiến sĩ vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp.

Trước tiên, hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt cùng tinh thần xả thân tự nguyện, tư thế ngang tàng, ngạo nghễ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao:

“Rải rác biên cương mồ viễn sứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Hình tượng người lính Tây Tiến được đặt trong không gian đầy hào hùng, cổ xưa gợi cho độc giả liên tưởng đến không gian bi hùng cổ xưa, nơi những chiến binh anh hùng ra đi vào cuộc trường trinh, vào nơi lam chướng nghìn trùng. Trong bài thơ Tây Tiến, tác giả Quang Dũng đã sử dụng hàng loạt những từ ngữ Hán Việt “biên cương”, “mồ viễn sứ”, “áo bào” để làm tăng tính trang trọng, để làm cho sự ra đi của người lính giảm bớt đau thương, thiêng liêng hóa cho sự hi sinh thầm lặng đó.

Không gian chiến trường trong bài thơ Tây Tiến hiện lên là miền viễn xứ chốn biên ải, đây là nơi chiến đấu, cũng là nơi mãi mãi nằm xuống của những người lính vô danh, họ đã dâng hiến cả cuộc đời, cả tuổi xanh cho sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ tổ quốc “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Trong sự thiếu thốn của hoàn cảnh, manh áo không lành lặn trên người của những người lính ấy cũng chính là “áo bào”để “thay chiếu anh về đấy”. Tuy nói về cái mất mát, hi sinh đấy nhưng nhờ sử dụng ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ mà sự hi sinh ấy trở nên thật thiêng liêng, cao đẹp.

Không chỉ mang vẻ đẹp của những người chiến binh xưa mà những người lính Tây Tiến còn mang trong mình vẻ đẹp của những người chiến sĩ giải phóng của thời chống Pháp, hào hùng, kiên cường nhưng rất đỗi hào hoa, lãng mạn. Những người lính trong binh đoàn Tây Tiến chiến đấu với tinh thần vệ quốc của cuộc kháng chiến chống Pháp, quyết hi sinh, dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp lớn của đất nước:

“Người đi Tây Tiến không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi”

Sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn về vật chất, hiểm nguy trong chiến đấu với cái chết kề cận nhưng những người lính ấy chưa từng thoái chí, sờn lòng mà luôn lạc quan, vui vẻ thể hiện được sức sống căng tràn của những chàng trai Hà Thành lãng mạn, mộng mơ:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Cuộc sống quân ngũ gian khổ nhưng những người lính vẫn một lòng hướng về biên giới với tinh thần đấu tranh quyết liệt, mạnh mẽ với kẻ thù. Cùng với sự kiên cường, quả cảm trong chiến đấu là những phút lãng mạn, hào hoa của những chàng trai khi nhớ về bóng dáng kiều thơm. Những người lính trong tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng của những người lính vệ quốc nhưng cũng thể hiện những nét đẹp tươi trẻ, nghịch ngợm của những chàng trai đôi mươi đầy lãng mạn, mộng mơ. Cũng chính tinh thần lạc quan, yêu đời cùng những cảm xúc hào hoa, lãng mạn ấy đã mang đến doanh trại – nơi vốn trang nghiêm với những kỉ luật thép trở nên thật rực rỡ, ấn tượng với “hội đuốc hoa”.

Hình tượng những người lính Tây Tiến cũng được gắn liền với sự kiện lịch sử có thật, đó chính là cuộc hành binh của những người lính Tây Tiến, những địa danh xuất hiện trong bài thơ cũng là những địa danh có thực, ngôn ngữ thơ cũng thật bình dị như lời thì thầm tâm sự của những người lính.

Như vậy, hai ý kiến nhận định về bài thơ Tây Tiến nhìn bên ngoài có vẻ đối lập nhưng hoàn toàn thống nhất vì cùng hoàn thiện cho vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, vừa kiên cường, quả cảm vừa lãng mạn hào hoa.

Làm Sáng Tỏ Nhận Định”Bài Thơ Tây Tiến Có Hai Đặc Điểm Nổi Bật: Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng”

GS.TS văn học Trần Đăng Xuyền có viết: “Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng”.

(Giảng văn văn học Việt Nam – NXB Giáo Dục)

Anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Trích: Tây Tiến – Quang Dũng) Hướng dẫn làm bài

Học sinh có thể có nhiều cách làm bài khác nhau nhưng cần đảm bảo được những yêu cầu sau:

1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. 0,25

2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. 0,25

3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận

a. MB: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề nghị luận (dẫn nhận định). 0,5

b. TB:

* Giải thích:

– Cảm hứng lãng mạn trong văn học là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, hướng về lí tưởng. Nó đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hàng ngày, nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng.

– Tinh thần bi tráng: Bi: Gian khổ, hi sinh.Tráng: Hào hùng, tráng lệ.

* Biểu hiện vẻ đẹp lãng mạn của hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ:

– Đó là cách nhìn người lính có vẻ tiều tụy trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thời xưa. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng thiêng.

– Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm).

* Biểu hiện tinh thần bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ:

– Nhà thơ không hề che dấu sự gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và cả những hi sinh, mất mát của người lính.

– Người lính Tây Tiến không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho tổ quốc. Đó là dũng khí, tinh thần và hành đọng cao đẹp. Tư thế ra trận, lí tưởng lên đường hào hùng mà bi tráng.

– Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Bài thơ viết về sự hi sinh của người lính một cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng. Cái chết của người lính gợi lên sự bi thương nhưng họ đã “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, đó là cái chết thiêng liêng, bất tử.

* Đánh giá chung:

– Bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa cái nhìn hiện thực và cảm hứng lãng mạn. Thể thơ 7 chữ chắc khỏe mang giọng điệu hào hùng như một khúc quân hành. Thủ pháp đối lập tương phản đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn được sử dụng triệt để, phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng yếu tố cường điệu để tô đậm vẻ khác thường, phi thường của người lính…

– Nhà thơ Quang Dũng đã dựng lên bức tượng đài người lính vừa mang vẻ đẹp lãng mạn, vừa đậm chất bi tráng, vừa chân thực, vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp, sức mạnh của dân tộc ta trong thời kì đầu chống thực dân Pháp. 0,5

c. KB: Khẳng định lại sự đúng đắn của lời nhận định và giá trị bài thơ, đoạn thơ. 0,5

4. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận 0.,25

5. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25

Làm Sáng Tỏ Nhận Định: Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp”

Trong cuốn “Đến với thơ hay”, Lê Chí Viễn cho rằng: “ Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”

Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Hãy làm sáng tỏ “thế giới của cái đẹp” trong tác phẩm “Đọc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du.

* Gợi ý làm bài:

* Giải thích nhận định:

– Thơ hay: hiểu chung là chỉnh thể thẩm mĩ, có khả năng khơi gợi ở người đọc những rung động thẩm mĩ, góp phần hoàn thiện con người, nâng con người lên…

– Điệu kiên cường hay làn êm ái: nội dung muôn màu muôn vẻ, phong phú vô cùng của thơ ca, “kiên cường”: thơ nói chí, tỏ lòng, trào phúng hay “làn êm ái”: thơ trữ tình, thơ lãng mạn.

– Thế giới của cái đẹp: “cái đẹp” là một phạm trù thẩm mĩ thể hiện ở nhiều phương diện: vẻ đẹp của tâm hồn, tấm lòng, tài năng người nghệ sĩ, cái đẹp toát lên từ nội dung và hình thức của thơ, cái đẹp khơi gợi những rung động thẩm mĩ, bồi đắp tâm hồn con người.

⇒ Cả nhận định: Khẳng định giá trị thẩm mĩ của thơ ca.

* Bàn luận:

Ý kiến đúng đắn vì:

– Đối tượng của văn học nói chung, thơ ca nói riêng là đối tượng thẩm mĩ, được khám phá ở chiều sâu thẩm mĩ (mỗi hiện tượng của đời sống bước vào thơ đều được nhìn, được miêu tả dưới góc độ thẩm mĩ – VD: con đường đi vào thơ Xuân Diệu “nhỏ nhỏ xiêu xiêu” của một chiều thu…)

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc thăng hoa mãnh liệt, được ý thức nhưng đó cũng là những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ giàu chất nhân văn (niềm vui, nỗi buồn, khát khao, phẫn nộ …đều phải mang tính thẩm mĩ. VD: nỗi căm giận của con hổ trong vườn bách thú trong thơ Thế Lữ, nỗi buồn khi đứng trước cảnh sông nước trong thơ Huy Cận…)

– Thơ hay thực hiện được mục đích thiên chức của người nghệ sĩ là hướng con người tới chân, thiện, mĩ; nâng con người lên, làm cho lòng người phong phú thanh sạch hơn, khiến con người sống đẹp hơn, nhân văn hơn.

– Tiếp nhận văn học, trong đó có việc tiếp nhận thơ và thơ hay thực chất là tiếp nhận thẩm mĩ, lấy cái trong trẻo, tinh tế và tri âm mà cảm nhận, không bao giờ chấp nhận cái vụ lợi tầm thường, lấy hồn ta để hiểu hồn người.

* Chứng minh :

Cần làm rõ bài thơ “Đọc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du là “thế giới của cái đẹp”:

– Cái đẹp của cảnh vật, con người được miêu tả.

– Cái đẹp của tâm hồn, tình cảm của người nghệ sĩ

– Cái đẹp trong cấu tứ, cách cảm, cách nói, cách dùng từ ngữ…

– Cái đẹp ở khả năng gợi lên những rung cảm thẩm mĩ, khơi luyện những tình cảm thẩm mĩ trong lòng người đọc.

– Dẫn chứng mở rộng: Những tác phẩm khác của Nguyễn Du và tác phẩm của những nhà thơ khác như Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Đình Chiểu…

* Đánh giá:

– Thơ ca là thế giới của cái đẹp, đó chính là đặc trưng thẩm mĩ của thơ ca, cũng là nội dung mục đích của văn học nói chung: văn học cần hướng đến khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người cuộc sống, nhà thơ, nhà văn cũng cần viết về những điều tốt đẹp để khơi gợi tình yêu, lòng lạc quan cho người đọc.

– Không phải thơ ca lúc nào cũng miêu tả cái đẹp. Thơ ca có quyền miêu tả những cái xấu xa, độc ác, để sự thật cuộc đời được chân thực hơn.

– Nhà thơ phải là người sống sâu sắc, tinh tế để cảm xúc thăng hoa trên trang thơ, người đọc cũng cần rung động và hiểu đời, hiểu người để cảm nhận hết được thế giới cái đẹp mà nhà thơ miêu tả và muốn hướng tới.

Mở bài:

“Thơ đưa con người đến với cái đẹp”. Cái đẹp của muôn loài và vạn vật, cái đẹp của cuộc sống con người. Đến với cái đẹp của lòng đồng cảm và vị tha, của những phẩm chất nhân văn là đáng quý. Cái đẹp đó dù với cảm xúc mãnh liệt hay nhẹ nhàng, êm đềm cũng đều để lại cho người đọc những trăn trở, suy nghĩ và bâng khuâng. Bàn về thơ hay, trong “đến với thơ hay” Lê Chí Viễn đã cho rằng “Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp”. “Cái đẹp” đó đã được thể hiện sâu sắc qua bài thơ “Độc tiểu thanh kí” của Nguyễn Du.

Thân bài:

Ý kiến của Lê Chí Viễn đã để lại cho người đọc nhiều băn khoăn và trăn trở, suy nghĩ. “Thơ” là những sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tình cảm, cảm xúc mãnh liệt thông qua ngôn từ cô đọng, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Một bài “ thơ hay” là một bài thơ phải sử dụng ngôn ngữ tinh vi và đặc sắc, hình ảnh gợi cảm, hàm xúc và đa nghĩa; một bài thơ xuất phát từ chính tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ, là bài thơ đã kiến người đọc đồng cảm với chính tác giả, thấu hiểu triết lý, hiện thực cả một tầng lớp, một giai đoạn dân tộc.

“Một câu thơ hay là một câu thơ giàu sức gợi” (Lưu Trọng lư). Hay nói cách khác một bài “thơ hay” là bài thơ phải kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp nội dung và vẻ đẹp đăc sắc nghệ thuật. “điệu kiên cường” và “làn êm ái” là những dọng điệu, tình cảm và cảm súc của tác giả gửi gắm trong bài thơ, một bài thơ hay, là chiếc cầu nối đồng điệu giữa tâm hồn độc giả với tiếng nói trái tim của người nghệ sĩ. Để rồi, qua đó, người đọc bước vào “thế giới của cái đẹp”, cái đẹp về tư tưởng, tình cảm, cái đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật được tác giả gửi gắm qua bài thơ. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã xuất phát từ đặc trưng và giá trị thẩm mĩ của thơ ca, tác động sâu sắc vào suy nghĩ và cách nhìn nhận của độc giả khi đến với vẻ đẹp tinh tế, đặc sắc của văn chương muôn đời.

Một “bài thơ hay” là bài thơ của tiếng nói tình cảm và tâm hồn của những triết lý nhân sinh và sâu sắc. Những gì đã đi vào trong thơ đều là những trăn trở, suy nghĩ chân thành, là những ấn tượng đặc sắc về thế giới quan của tác giả. Nó phải mạnh mẽ, thăng hoa và mãnh liệt đến nỗi nếu không bộc lộ, người nghệ sĩ sẽ trăn trở và băn khoăn, day dứt. Bởi vậy thế giới của cái đẹp mà nhà thơ sáng tạo lên không đơn thuần là hiện thực cuộc sống bàng quang và vô vị, mặt khác, thế giới đó phải là hình ảnh khách quan trong thế giới chủ quan, nghĩa là phải mang những cảm xúc mãnh liệt, những chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả.

Cái đẹp đó phải khiến độc giả phải đồng điệu trong từng tâm trạng, từng nhịp đập với nhà thơ. “Thế giới của cái đẹp” trong một bài thơ hay được kết nối đến người đọc qua những “điệu kiên cường”, là tình cảm mãnh liệt, lên án và phê phán đanh thép của tác giả, qua những “làn êm ái”, là sự vị tha, đồng cảm, tri tâm, là giọng thơ khắc khoải, ưu sầu của chính tâm hồn người nghệ sĩ. Bởi vậy, một bài “thơ hay” dù xuất phát hay thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ hay giọng điệu nào để hướng người đọc đến cái đẹp, để cảm nhận “thế giới của cái đẹp”, nét đẹp về nội dung và nghệ thuật đặc sắc.

Nguyễn Du đã đưa người đọc đến với cái đẹp về nội dung bài thơ, cái đẹp của lòng đồng cảm và tri ân, cái đẹp của sự nhân đạo và xót xa cho bao kiếp người bạc mệnh.

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.

Tây Hồ là hình ảnh cụ thể, một địa danh có thật, tuyệt đẹp xuất hiện trong bài nhưng nay đã hoá thành gò hoang, trống vắng và hoang tàn. Từ hình ảnh cụ thể đó nhà thơ đã liên tưởng đến sự thay đổi khắc nghiệt của cuộc đời con người. Sự thay đổi giữa cảnh đẹp nay thành gò hoang, giữa hiện tại và quá khứ, giữa vẻ đẹp chỉ còn trong hoài niệm mà nay đã biến mất rồi. Để từ đó là sự thay đổi trong cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Từ một người con gái nhan sắc đẹp đẽ, tài năng tuyệt diệu mà nay chỉ còn là một nấm mồ. Nàng chết trong cô đơn và lẻ loi, để lại những ước mơ và thanh xuân tươi đep. Một cuộc đời, một con người tài hoa mà bạc mệnh.

“Tẫn” là sự huỷ diệt, đổi thay đến triệt để và tận cùng của thời gian. Để từ đó nêu ra sự thay đổi đến khắc nghiệt của cuộc đời. Dường như trong câu thơ, người đọc vẫn bắt gặp sự ngậm ngùi, xót xa của Nguyễn Du cho người con gái, cho một số phận bạc mệnh, đắng cay. Qua đó, tấm lòng của Nguyễn Du đã được thể hiện qua tâm thế tri ân cùng nàng. Nhà thơ nhớ người xưa trong khung cảnh “độc điến”, một mình ngắm nàng. Hình ảnh đó như kéo ngắn lại không gian và thời gian, cho hai con người sống ở hai giai đoạn khác nhau cùng đồng cảm và tri ân. Hình ảnh đó là sự xót xa, là niềm cay đắng cho kiếp tài tử phong lưu, là tìm được một người bạn cùng thuyền, cùng sẻ chia và cùng tâm sự. Cái đẹp về nhân cách của tác giả chính là biểu hiện ở chỗ đó.

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư”.

Hai câu thơ đã sử dụng nghệ thuật đối, làm lớp nghĩa được xét đa chiều suy nghĩ khác nhau. Son phấn có thần nên khi đốt vẫn ngậm ngùi, xót xa; văn chương không mệnh nhưng đốt vẫn để lại cho lòng người nhiều cay đắng. “Son phấn” là vẻ đẹp về nhan sắc, ngoại hình. “văn chương” là vẻ đẹp về tài năng và trí tuệ. “Son phấn” hay “văn chương” dù khi đã đốt vẫn để lại xót xa cho hậu thế. Là vẻ đẹp về tài năng và nhan sắc tồn tại vĩnh cửu, không bao giờ bị phai mờ. Dù khi đã hoá tro tàn nhưng luôn khiến những người đời sau phải đau đớn, trăn trở và suy nghĩ. Suy nghĩ cho người phụ nữ, tài hoa mà bất hạnh, suy nghĩ cho kiếp tài tử phong lưu đầy xót xa và cay đắng. Để rồi qua đó cái đẹp mà người đọc thấy được ở Nguyễn Du là cái đẹp của lòng đồng cảm, cái đẹp của sự thấu hiểu và tri ân, cái đẹp vẫn văng vẳng trong lòng độc giả.

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kì oan ngã tự cư”.

Nỗi hận ở đây là nỗi hận không có lời giải đáp, nỗi hận mà trời cao cũng không thể trả lời: Tại sao kiếp “Tài tử giai nhân” luôn phải chịu những cay đắng, bi kịch, không bao giờ có lối thoát? Là sự xót xa cho một kiếp người. Nỗi hận đó không ai thấu hiểu, chỉ có những con người đồng cảnh ngộ mới có thể đồng cảm và sẻ chia. . Để rồi Nguyễn Du cũng thấu hiểu cái nỗi oan lạ lùng đó. Xót thương, cay đắng cho một kiếp người nay thành xót thương cho chính mình. Một kiếp người tài năng và trí tuệ nay cuối cùng phải chôn vùi trong tấm bi kịch, để rồi kết thúc là một nấm mồ hoang sơ, lẻ loi và cô đơn theo năm tháng. Nỗi hận đó của Nguyễn Du đã đi vào lòng người đọc, đầy u oán và trách cứ, làm cho tâm hồn phải thổn thức, làm trái tim độc giả phải băn khoăn và suy nghĩ.

“Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.

Tác giả đã xưng tên mình vào trong thơ, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng và cảm xúc của mình. Câu hỏi tu từ vang lên không chỉ là nỗi cay đắng xót thương cho nàng Tiểu Thanh mà còn xót thương cho chính bản thân Nguyễn Du. Tiểu Thanh còn có người đồng cảm và tri ân vậy ba trăm năm nữa, ai sẽ rơi lệ mà đồng cảm mà xót xa cho kiếp người “Cánh bèo mạn nước” như Nguyễn Du. Câu hỏi u sầu đó như ám ảnh người đọc, như trăn trở và băn khoăn.

Nguyễn Du còn dẫn độc giả đến “thế giới của cái đẹp” và nghệ thuật qua thể thơ Đường luật đặc sắc, sử dụng thành công nghệ thuật đối, nhân hoá và câu hỏi tu từ. Ngôn ngữ và giọng thơ thấm đượm buồn bã, u sầu và xót xa như gieo vào tâm trí độc giả những bâng khuâng và trăn trở.

Kết bài:

Như vậy, một bài thơ hay sẽ đưa con người vào “thế giới của cái đẹp”, của những tình cảm, cảm xúc, của vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Thế giới đó sẽ là chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và người đọc. Qua đó, người nghệ sĩ phải biết xây dựng lên những “thế giới cái đẹp” trong lòng người đọc, viết bằng cảm xúc chân thật nhất, còn người đọc phải biết mở rộng tâm hồn để thưởng thức cái đẹp. Có thể thấy, ý kiến của Lê Chí Viễn đã đưa người đọc đến giá trị và đặc trưng của thơ ca, đến với “thế giới của cái đẹp”.

Phân Tích Và Làm Sáng Tỏ Nhận Định Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Có Giá Trị Như Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Đầu Tiên Của Việt Nam

Đề bài: Tại sao lại nói Nam quốc sơn hà có giá trị như bản tuyên ngôn lần đầu tiên của dân tộc Việt Nam Em hãy phân tích và làm sáng tỏ cho nhận định này.

I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài

– Khẳng định giá trị câu nói: “Nam quốc sơn hà có giá trị như bản tuyên ngôn lần đầu tiên của dân tộc Việt Nam”

– Có thể coi bài thơ “Nam quốc sơn hà” có giá trị như bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc Việt Nam

2. Thân bài

Sự ra đời của bài thơ “Nam quốc sơn hà”: Bọn phong kiến phương Bắc với tư tưởng muốn thống trị thiên hạ, bá quyền nước lớn nên vẫn nhăm nhe và ngông cuồng xâm lược Đại Việt ta

Sự khẳng định ranh giới lãnh thổ và độc lập chủ quyền: khẳng định nước Nam là của người Nam, sự ý thức sâu xa về chủ quyền dân tộc thiêng liêng và bất khả xâm phạm

Lời cảnh cáo kẻ thù: xâm phạm vào một tấc đất của nước Nam sẽ chuốc lấy kết cục bi thảm, nhơ nhuốc đến ngàn đời

Lòng quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc: Hoàng đế nước Nam không “phạm đạo trời” nên việc đấu tranh của dân tộc Đại Việt là chính nghĩa, lẽ phải

3. Kết bài

Khẳng định lại ý nghĩa của câu nói: Lời tuyên ngôn có âm hưởng vang mãi ngàn đời, dội vào tâm hồn nhiều thế hệ, tạo nên khí thể của cả một dân tộc, sẽ đè bẹp bất cứ kẻ thù nào.

II. Bài tham khảo

Có thể coi bài thơ “Nam quốc sơn hà” có giá trị như bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc Việt Nam bởi chính bài thơ là sự kết tinh từ tất cả tư tưởng và tinh thần, khát vọng và ý chí độc lập của dân tộc Đại Việt trong suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Vào thế kỉ X, nước Đại Việt độc lập đã được xây dựng, các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý kế tiếp nhau trị vì đất nước hàng trăm năm. Bọn phong kiến phương Bắc với tư tưởng muốn thống trị thiên hạ, bá quyền nước lớn nên vẫn nhăm nhe và ngông cuồng xâm lược Đại Việt ta. Những mong có thể biến nước ta thành quận huyện của chúng. Chính vì vậy đây là thời điểm mà dân tộc ta phải lên tiếng khẳng định chủ quyền của mình, từ đây bản tuyên ngôn độc lập của nước Đại Việt đã được ra đời:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thỉ bại hư.”

Trong câu thơ đầu tiên “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đã bộc lộ mạnh mẽ ý thức tự tôn dân tộc, khẳng định nước Nam là của người Nam, sự ý thức sâu xa về chủ quyền dân tộc thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ cũng thể hiện tư thế của mộ dân tộc kiêu hãnh, giáng một quả đấm thép vào thái độ ngông cuồng của bọn phong kiến phương Bắc.

Sông núi nước Nam là của người Nam, điều đó là sự thật hiển nhiên, bởi chính bàn tay của dân tộc ta đã gây dựng và tồn tại mấy ngàn năm nay, đó là sự tất yếu của quyền độc lập và tự chủ, khát vọng chính đáng của một dân tộc, ngay cả “Trời” cùng đã thừa nhận và ghi trong sách trời: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Hai câu thơ cuối đã khẳng định khát vọng và ý chí độc lập tự chủ, dân tộc ta quyết đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, dù cho kẻ thù có là ai thì cũng sẽ phải nhận thất bại thảm hại.

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”, nước Nam có Hoàng đế nước Nam, Hoàng đế nước Nam không “phạm đạo trời” nên việc đấu tranh của dân tộc Đại Việt là chính nghĩa, lẽ phải. Lời tuyên bố đanh thép, nếu kẻ thù dám coi thường phán xét của “Trời”, coi thường một dân tộc, xâm phạm vào một tấc đất của nước Nam sẽ chuốc lấy kết cục bi thảm, nhơ nhuốc đến ngàn đời “Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư”. Đó như là một lời cảnh cáo với những kẻ không thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại độc lập thiêng liêng ấy.

Với ngôn từ đĩnh đạc, trang nghiêm, mang tính chất của một bài chính luận, có thể nói, bài ” Nam quốc sơn hà ” xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Đại Việt. Từng câu chữ trong bài thơ được kết tinh từ lòng yêu nước và căm thù giặc đã chất chứa hàng ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Bản tuyên ngôn không chỉ tuyên bố chủ quyền đất nước mà còn tuyên bố lòng quyết tâm giữ vững chủ quyền đó của dân tộc Đại Việt. Lời tuyên ngôn có âm hưởng vang mãi ngàn đời, dội vào tâm hồn nhiều thế hệ, tạo nên khí thể của cả một dân tộc, sẽ đè bẹp bất cứ kẻ thù nào.

Thơ Hồ Chí Minh Chứa Đựng Nhiều Tình Cảm Cao Đẹp. Qua 2 Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Và Ngắm Trăng, Hãy Chứng Minh Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên

Thơ Hồ Chí Minh chứa đựng nhiều tình cảm cao đẹp. Qua 2 bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” và “Ngắm trăng”, hãy chứng minh làm sáng tỏ nhận định trên

Mở bài:

“Tức cảnh Pác Bó” và “Ngắm trăng” là hai thi phẩm xuất sắc của Hồ Chí Minh. Đọc bài thơ nào của Bác ta cũng đều bắt gặp một tình yêu thương tha thiết dành cho thiên nhiên và con người.

Thân bài:

Đến với thơ của Hồ Chí Minh dù ở bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng cảm thấy chan chứa một tình yêu tha thiết. Có khi tình yêu ấy hòa vào thiên nhiên để cùng sống với nó và vượt qua mọi gian khổ để thực hiện công việc lớn lao – giải phóng dân tộc qua bài “Tức cảnh Pác Bó” có khi lại bắt gặp Bác đang đối diện với ánh trăng qua song sắt nhà tù khắc nghiệt qua bài “ Ngắm trăng”.

Tình yêu thiên nhiên là một trong những vẻ đẹp của con người Hồ Chí Minh.

Đọc bài “ Ngắm trăng” thiên nhiên đến với người trong một hoàn cảnh đặc biệt giữa chốn lao tù. Dù bị xiềng xích mất tự do nhưng khi gặp lại ánh trăng thì người tù vẫn đón nhận nó một cách tự do – một thi nhân tìm đến với cái đẹp.

Trước ánh trăng sáng, Tâm trạng của Người trở nên bối rối. Người nghĩ đến hoàn cảnh thực tại, thấy thiếu thốn mọi thứ để có thể hòa mình với vầng trăng theo đúng nhã thú của người xưa. Thế nhưng, dù không có gì nhưng trong lòng người có một tình yêu tha thiết dành cho cảnh đẹp đem nay:

“Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.

Hiện thực thiếu thốn của nhà tù không thể ngăn cản tâm hồn bác tìm đến với vầng trăng. Có thể thấy, tình cảm của Người đối với trăng không bao giờ thay đổi. Trăng đối với Người không chỉ là hiện thân của cái đẹp của vũ trụ mà còn là người bạn hiền, là tri âm tri kỉ. Trong Nhật kí trong tù, trăng đã nhiều làn xuất hiện, lúc nào cũng hiền dịu, chân tình:

“Trăng gió đêm Thu gợn vẻ sầu Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt Lòng theo vời vợi mảnh trăng Thu”

(Trăng thu)

Bác coi trăng như là hình ảnh lý tưởng để vươn tới Lúc bị lính áp giải, tay chân bị trói, tưởng không còn để ý gì được đến ngoại cảnh, vậy mà bằng những cảm quan cực nhạy của tâm hồn nhà thơ, Bác vẫn có cái nhìn mới về trăng:

“Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn”

(Giải đi sớm)

“Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh”

(Đêm lạnh) 

Giữa bốn phía xà lim lạnh lẽo, Hồ Chí Minh thi sĩ chỉ biết làm bạn với trăng và mượn trăng để giãi bày tâm trạng, chia sẻ nỗi niềm. Trăng trong Nhật ký trong tù của Bác là biểu hiện của khát khao vươn tới tự do bay khắp nhân gian để tỏa sáng.

Đêm nay, vầng trăng ấy lại tìm đến. Trước vẻ đẹp trong sáng của ánh trăng, người chiến sĩ cách mạng đã quên bản thân mình là thân tù. Hướng ra ngoài đối diện tâm đàm với ánh trăng.

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Dù bị giam cầm, xiềng xích, người tù vẫn chủ động hướng ra ngoài cửa ngục để đón nhận trăng, chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh sáng ngời, quên hẳn đi cái cùm gông đang đè nặng lên thân xác. Xiềng xích có thể trói một thân xác chứ không thể trói một tâm hồn tự do. Chính sự say mê thiên nhiên ấy đã mang đến người những phút giây thanh thản đến tuyệt vời. Và thật lạ, như cảm động trước tình người, vầng trăng cũng nhòm qua khe cửa đến tâm sự với người một cách tự nhiên. Có thể nói có thể sống hòa mình với thiên nhiên là nếp sống cao đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” ta hiểu hơn về tình yêu thiên nhiên tha thiết và khát vọng giải phóng dân tộc của Người. Những ngày mới trở về nước, phong trào cách mạng rất cần đến Bác. Mọi hoạt động cách mạng phải hoàn toàn bí mật, Bác sống và làm việc ở hang Pác Bó – Cao Bằng, điều kiện ăn ở vô cùng gian khổ: phải ngủ trong hang đá, phải ăn cháo bẹ với rau măng, Bác lại bị sốt rét liên miên, phải làm việc trên một bàn đá chông chênh. Thế mà Bác vẫn vui, vẫn bằng lòng đôi khi còn xem đó là cái thú lâm tuyền như người xưa.

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”

Bài thơ được viết trong những ngày Bác hoạt động cách mạng bí mật ở Pác Bó – Cao Bằng. Lức áy, cuộc sống gian khổ “cháo bẹ rau măng” nhưng Bác vẫn thấy vui sướng khi được sống trên quê hương mình và chấp nhận khó khăn để vượt qua.

Nếu không vì dân vì nước thì làm sao Bác có thể hóm hỉnh mà gọi cuộc đời cách mạng như thế là “sang” kết thúc bài thơ mở ra bao điều thú vị. Một chứ thôi đã nói lên tất cả tấm lòng vì dân, vì nước, vì công cuộc giải phóng dân tộc vĩ đại mà không quản ngại khó khăn, không nề hà gian khổ, hi sinh.

Kết bài:

“Tức cảnh Pác Bó” và “Ngắm trăng” vừa thể hiện phong thái ung dung, tự tại, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác trong nghịch cảnh, ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha, đức hi sinh cao cả vì nhân dân, đất nước của Bác Hồ vĩ đại.

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Sáng Tỏ Nhận Định “Vào Thơ Hay, Dù Là Điệu Kiên Cường Hay Làn Êm Ái Đều Là Vào Thế Giới Của Cái Đẹp” trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!