Xu Hướng 12/2022 # Khí Phách Trần Mai Ninh Trong Thơ / 2023 # Top 14 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Khí Phách Trần Mai Ninh Trong Thơ / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Khí Phách Trần Mai Ninh Trong Thơ / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khí phách Trần Mai Ninh trong thơ

Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh. Ông sinh tại Thanh Hóa năm 1917, mất năm 1947. Thân phụ ông là Nguyễn Xuân Tuyển, một viên chức nhỏ. Lúc thiếu thời Trần Mai Ninh học Thành Chung ở Thanh Hóa, sau ra Hà Nội học tiếp Tú Tài.

Ngay từ thời còn đi học, Trần Mai Ninh đã cùng một số bạn bè ra tờ báo có tên “Con sáo” để phê phán nền giáo dục thực dân và nói lên lý tưởng của tuổi trẻ học đường. Sau đó ông tiếp tục viết bài và trực tiếp tham gia biên tập các tờ báo của Đảng xuất bản trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939) như: Bạn dân, Thời thế (1937), Tin tức, Thế giới, Người mới (1938) và Bạn đường, Tự do ở Thanh Hóa… với các bút danh: KT, Mạc Đỗ, Trần Mai Ninh, Hồng Diện, Nguyễn Thường Khanh. Trần Mai Ninh tham gia phong trào yêu nước Mặt trận dân chủ (1936-1939). Trần Mai Ninh để lại nhiều tác phẩm, nhưng nổi tiếng hơn cả là những tác phẩm thơ thể hiện tình yêu Tổ quốc, nhân dân cần lao với khí phách kiên trung, bất khuất, ngang tàng và lãng mạn. Trong số các tác phẩm đó tiêu biểu là: “Tình sông núi”, “Nhớ máu”, “Sau này nhắc lại”, “Tôi buồn”…

Thơ Trần Mai Ninh ra đời vào giai đoạn đất nước ta sôi sục ý chí đấu tranh chống thực dân Pháp, giành lại hòa bình và độc lập dân tộc. Thơ của ông bắt nguồn từ lòng yêu nước, thương dân sâu sắc và lý tưởng cách mạng chói ngời tinh thần bất khuất, khí phách kiên cường của người chiến sĩ cách mạng một khi dấn thân trên con đường đấu tranh giành lại hòa bình và độc lập dân tộc. Khí phách người chiến sĩ cách mạng ngang tàng, kiêu dũng thể hiện rõ nét trong bài thơ “Thắc mắc”. Mở đầu bài thơ trong một đêm không ngủ, ông viết:

“Lòng tôi đứng dậy cao ghê quá

Nó muốn nâng lên dậy cả trời

Và tung ra khắp không gian rộng

Để kết liên người lại với người”

Tinh thần chiến đấu trong dòng máu của người chiến sĩ cách mạng đã dâng cao ngất với một khí thế mạnh mẽ nên tất cả những bài thơ của Trần Mai Ninh đều có phong cách trần thuật, đặc tả hơi thở thời đại của giai đoạn lịch sử chiến tranh cách mạng. Vì vậy, những nhịp thơ mạnh mẽ của thể thơ tự do đã làm nên sứ mệnh chuyển tải được tất cả khát vọng, ý chí, tư tưởng của tác giả muốn biểu hiện trong lời thơ, ý thơ, giàu nhạc điệu, âm thanh và hình ảnh:

“Dưới cờ tranh đấu dựng muôn gươm

Mắt sáng soi lên khắp nẻo đường

Đội hùng binh tiến, trời ngăn nổi

Hợp dần sinh lực của ngàn phương”.

Để thể hiện rõ tinh thần chiến đấu quyết liệt của mình, nhà thơ Trần Mai Ninh đã sử dụng ngôn ngữ hình ảnh thể hiện sức mạnh lý tưởng cách mạng của người thanh niên thời đại, như: Gang, vàng, hoa hồng, kim cương… Đây là sự chọn lọc mang chủ ý thể hiện tinh thần quật cường và niềm tin mãnh liệt của dân tộc quyết tâm đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm chất chứa trong tâm hồn người chiến sĩ:

“Cho cõi lòng tôi khỏi xốn xang

Vững bền như thép cứng như gang

Vì tin ở sức nhân quần mạnh

Thực hiện ngày mai giấc mộng vàng

Đoàn thanh niên mới vươn mình dậy

Bứt những ngôi sao kết hoa hồng

Để rải trên đài tươi thắm của

Hòa bình nhuốm vạn ánh kim cương”.

Trong bài thơ “Tình sông núi”, Trần Mai Ninh khẳng định rõ tình yêu Tổ quốc là tình yêu lớn nhất của con người. Đây là tư tưởng lớn của nhà thơ và cũng với thể thơ tự do mang hơi thở thời cuộc, ông viết:

“… Dân tộc mồ hôi thấm đất

Bắp căng như đồng

Tay ghì cán cuốc

Tay ghì tay xe

Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao

Có mối tình nào hơn thế nữa?

Ăn sâu lòng đất thấm lòng người

Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi

Khi căm non nước với người đứng lên!

Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền

Có mối tình nào hơn thế nữa?

Trộn hòa lao động với giang sơn

Có mối tình nào hơn

Tổ quốc?”.

Với tình hình đất nước lâm nạn xâm lăng, nhà thơ chiến sĩ không thể dùng thể thơ lục bát, hay thể thơ nào khác ngoài thể thơ tự do để bộc lộ hết những khát vọng chiến đấu với quân thù, để trả món nợ non sông và những nỗi buồn khi lòng khát khao giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân thoát vòng nô lệ chưa thực hiện được. Những đau khổ dày vò đêm ngày vì vận nước, vì tình thương dân khiến nhà thơ không nguôi đau khổ, trong bài thơ “Tôi buồn” có đoạn ông viết:

“…Tôi đã nghiến răng và xé mạnh

Mảnh tàn tự ái hãy còn vương

Sụp xuống đất bùn, sâu xuống nữa

Quỳ tròn gối gãy bởi đau thương!”.

Như trên ông đã khẳng định chỉ có tình yêu Tổ quốc là cao quý nhất và khổ thơ trên ông cũng khẳng định, chỉ đứng trước nỗi thống khổ lầm than của nhân dân nô lệ ông mới quỳ gối trước nỗi đau của nhân dân. Quỳ gối trong nỗi đau mất nước đến khủng khiếp. Vì vậy, ý chí chiến đấu tràn dâng trong tâm hồn người chiến sĩ với quyết tâm sắt đá, kiên cường, quyết liệt chiến đấu với kẻ thù: “…Tôi đã nghiến răng và xé mạnh…”.

Tình yêu Tổ quốc luôn thường trực trong lòng người chiến sĩ cách mạng Trần Mai Ninh. Đỉnh cao của tình yêu ấy thể hiện trong bài thơ “Nhớ máu” khi ông vào chiến đấu trong chiến trường Nha Trang, Khánh Hòa. Lần đầu tiên thơ trữ tình cách mạng Việt Nam xuất hiện một giọng thơ rực lửa cách mạng, hừng hực khí thế tấn công, coi thường vũ khí tối tân và đội quân tinh nhuệ của kẻ thù. Những người nông dân quần nâu, áo vải, tay cầm dao, gươm, sát mặt quân thù không hề run sợ mà còn thể hiện bản lĩnh phi thường, tinh thần quả cảm:

“Còn mấy bước nữa tới Nha Trang

A, gần lắm

Ta gần máu

Ta gần người

Ta gần quyết liệt…”

Bài thơ “Nhớ máu” viết đêm 9-11-1946. Khi đó Nha Trang, Khánh Hòa đã có chiến sự dữ dội:

“Ơi hỡi Nha Trang

Cái đô thành vĩ đại

câu thơ hay

vang động lạ thường.”

Và:

“Mắt ta căng lên

Cả mặt

Cả người

Cả hồn ta sát tới…”

Ngôn ngữ thơ với những nhịp điệu mạnh, hùng dũng, quyết liệt, mô tả sự dấn thân tuyệt đối vì nghĩa cả, vì tình yêu Tổ quốc và vì hòa bình độc lập cho dân tộc. “Nhớ máu” là một trong những bài thơ mang tính chiến đấu ra đời sớm nhất của văn đàn nước ta cùng với “Đèo cả” của Hữu Loan. Nhà thơ Trần Mai Ninh đã đem các tác phẩm thơ nhịp bước cùng toàn dân tộc, bước vào cuộc chiến tranh thần thánh với một tâm hồn cao cả mang khát vọng lớn lao làm cuộc cách mạng dời sông, lấp bể:

“Những con người

Đã bước vào bất tử

Ơ, những người

Đen như mực, đặc thành keo…

Hay những người gầy sắt lại

Mặt rẹt một đường gươm

Lạnh gáy”.

Trần Mai Ninh là một nhà cách mạng làm thơ, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mà sáng tác thơ và thơ cách mạng của ông là văn bản rọi chiếu, phản ảnh ý chí, tâm hồn của ông đối với lý tưởng cách mạng của một thanh niên thời đại, một trái tim tráng sĩ mang bầu máu nhiệt huyết tuổi trẻ, nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc khi vận mệnh giang sơn ngàn cân treo sợi tóc. Mỗi một hồng cầu chảy trong huyết quản của ông đều chứa một chữ tận dâng tất cả vì lòng tự tôn dân tộc, vì thương dân mất nước, vì căm hờn kẻ xâm lăng, vì muốn xả thân cho quê hương được độc lập trên tinh thần cách mạng cao cả:

“Máu chan hòa trên góc cạnh kim cương

Các anh hùng tay hạ súng trường

Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu

Cười vang rung lớp lớp tinh cầu…”

Trần Mai Ninh là nhà thơ, nhà báo, là một tấm gương chiến đấu ngoan cường cho lý tưởng cách mạng. Thơ của ông là bản trường ca sáng mãi trong tâm hồn người Việt Nam về tinh thần đấu tranh cho hòa bình và độc lập dân tộc.

*Nguồn: Wikipadia tiếng Việt.

Hoa Mai Trong Thơ Cổ Vn / 2023

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2014/01/tranh-hoa-trang24.mp3

Hoa mai trong thơ cổ nước ta và nhiều quốc gia khác ở Á Đông, chính là hoa mai màu trắng. Như giống mai mù u, tên khoa học là Ochrocarpus siamensis thuộc họ Guttiferae (họ măng cụt), hiện còn một cây trong chùa Gò ở Phú Lâm (Sài Gòn). Cây mai này đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà thơ Minh Hương Trịnh Hoài Đức (1725-1825) và các cây bút cùng thời viết nên tập “Mộng mai đình”. Cây mai này cũng là biểu tượng của Thi xã Bạch Mai quy tụ nhiều tên tuổi “vang bóng một thời” ở Nam Bộ vào thế kỷ trước : Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường, Trần Thiện Chánh, Hồ Huấn Nghiệp, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông,…

Có lẽ, nụ mai nở sớm nhất trong thơ ca Việt Nam lại là đóa hoa nở… muộn. Ấy là cành mai cuối mùa của một đại sư thuộc phái Vô Ngôn Thông: đại sư Mãn Giác (1052-1096). Nguyên văn được chép trong “Thiền Uyển Tập Anh” như sau :

Tạm dịch:

Một thiền sư khác sống sau đó hơn hai thế kỷ có pháp hiệu Huyền Quang (1254-1334), là vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm Yên Tử, từng tôn mai lên ngôi vị “ngự sử đài” – chức quan giữ trọng trách giám sát và can gián vua chúa:

Ngự sử mai, trượng phu tùng và quân tử trúc hợp thành “tam ích hữu” (3 người bạn có ích). Khái niệm này xuất phát từ thiền “Quý thị” trong sách “Luận ngữ”. Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn (Bạn có ích gồm 3 hạng : ngay thẳng, rộng lượng và hiểu biết nhiều). Sách “Nguyệt lệnh quảng nghĩa” gọi hình tượng ước lệ bộ ba tùng – trúc – mai là Đông thiên tam hữu, Tuế hàn tam hữu hoặc Đông xuân tam hữu. Đây là đề tài có vị trí đặc biệt trong thơ ca cổ điền của Á Đông nói chung, của nước ta nói riêng.

Thi hào Nguyễn Trãi (ngôi sao sáng chiếu rọi từ bầu trời văn học thế kỷ XV) thường xuyên khai thác đề tài Đông thiên tam hữu. Riêng mai chiếm tần số xuất hiện khá cao trong các sáng tác của Ức Trai. Đọc 21 bài “Ngôn chí”, đã thấy 8 bài đề cập đến mai với những câu “tuyện diệu” như :

Đối với mai, Nguyễn Trãi hết sức ưu ái. Tại sao? Qua bài thơ chữ hán “Đề Hoàng ngự sử mai tuyết hiên”, nhà thơ đã giải thích : Ái mai, ái tuyết, ái duyên hà? Ái duyên tuyết bạch, mai phương khiết (Yêu mai, yêu tuyết vì đâu? Vì tuyết trắng, mai thơm và trong sạch). Trong phần thơ “Hoa mộc môn”, ngoài các bài “Mai” và “Lão mai”, bài thất ngôn pha lục ngôn viết về mai làm theo thể ô thước kiều phối hợp liên hoàn của Nguyễn Trãi là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thơ quốc âm thời ấy:

So với tùng và trúc, mai giống ở khí tiết. Nhưng mai còn có ưu điểm mà hai bạn không sao có được: sắc hương.

Sắc, ai ai cũng dễ dàng nhìn thấy, dù ngồi gần hay đứng xa, kể cả qua “bóng thưa ánh nước” chập chờn : Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên (Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông buổi trời nắng – thơ Trần Quang Khải). Song, hương thì “khách tục” làm sao nhận ra. Chỉ tri âm, tri kỷ mới đủ khả năng tương thức. Đó là vầng trăng. Lịm đưa hương, một nguyệt hay: câu thơ lục ngôn thầm kín đáo quá, kín đáo như hương mai vậy.

So với nhiều hoa khác, mai lại là loài “anh hoa phát tiết” sớm nhất, ngay từ tiết lập xuân còn nhiều giá lạnh. Do đó cổ nhân đã phong tặng mai danh hiệu Bách hoa khôi – ví như người đỗ đầu khoa thi, người con trai ưu tú nhất hoặc con gái xinh đẹp nhất.

Liếc mắt qua, Hoàng Giáp Phạm Như Xương sững sờ, không cho Phan Bội Châu làm bài nữa. Ông bảo: “Chỉ cần 4 câu mở đầu thế này là dư sức đỗ đầu xứ rồi”.

Nói đến mai, Nguyễn Trãi và các nhà thơ khác thuở trước thường nhắc đến “tiên Bô”, “lão Bô”. Nhân vật này là ai ? Ấy là Lâm Bô, tức Lâm Hòa Tĩnh (967-1028), một hiền sĩ ở Cô Sơn (Hàng Châu, Trung Quốc) vào đời Tống. Họ Lâm không vợ con, chỉ thích trồng hoa mai và nuôi chim hạc, nên người đời nói về ông : “Cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con”. Lâm Bô có để lại bài thơ “Mai hoa” được nhiều thế hệ truyền tụng. Đây là 4 câu đầu :

Nghĩa : Các hoa rụng hết, chỉ còn hoa mai tươi đẹp dưới bóng nắng ; chiếm cả vẻ đẹp của mảnh vườn con ; bóng cành thưa nằm ngang giữa làn nước trong nơi cạn ; hương thoảng đưa nhè nhẹ dưới ánh trăng buổi hoàng hôn…

Cặp thực của bài thơ trên lại được cô đúc thành một câu : Ánh hương phù động, ảnh hoành tà. Giản Chi dịch : Chập chờn hương thoảng, bóng cành xiên ngang.

Nhiều thi nhân khen rằng chỉ 7 chữ mà lột tả đầy đủ vẻ đẹp của hoa mai, không thể thêm bớt được một chữ nào. Kiệm lời, chắt ý đến thế thì vượt qua cả thơ tứ tuyệt Trung Hoa lẫn thơ Haiku Nhật Bản. Gọi đây là thể gì nhỉ, “nhất tuyệt” ư ?

Mai thường sánh vai với trăng :

Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu. (Chinh phụ ngâm khúc)

Mai cũng kề bóng chim (mai điểu), chủ yếu là chim én hoặc chim hạc. Ví dụ đôi câu “thần bút” của nhà thơ đa tài Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), đến nay vẫn khiến chúng ta giật mình kinh ngạc

Ngoài bộ “tam hữu” như đã nói, mai còn được kết hợp với lan, cúc, trúc tạo nên bộ “tứ quý” tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Và không chỉ với thực vật, động vật, mai lại được các thi nhân cho “se duyên” với ngọc, với tuyết để ví von tài tử giai nhân. Như bài “Lão mai” trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” có câu :

Hoặc như trong “Hương miệt hành”, truyện thơ được sáng tác từ đầu Lê (có sách cho là đời Trần), có câu : Tuyết mai cốt cách, ngọc tinh thần Câu thơ ấy buộc nhiều người liên tưởng ngay đến câu Kiều quen thuộc : Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Cũng cần nói thêm, trong pho Truyện Kiều của Nguyễn Du, tác phẩm được xem là “tập đại thành” của nền văn chương cổ điển Việt Nam, mai đã xuất hiện cả thảy 15 lần, mà quá nửa là đóng vai trò mỹ từ: sân mai, song mai, trướng mai, tiên mai, giấc mai, hồn mai…

Một mùa xuân lại đến. Mai vàng lại rực rỡ mãn khai. Đón tết bên cành “bách hoa khôi” cốt cách, thong thả thưởng thức những áng thơ của người xưa, âu là một thú đầy tao nhã. Tùy cơ duyên, mỗi người có thể chọn vài ba bài hay dăm bảy dòng tâm đắc cho bản thân mình.

Riêng tôi, đã nhiều đêm trừ tịch lặng ngắm mai vàng, lòng cứ hiển hiện đôi câu Cao Bá Quát:

Ôi Chu Thần: Mười năm xuôi ngược giao du quyết tìm thanh kiếm cổ, suốt một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai.

Bây giờ giữa Sai Gòn, bên nhành mai hương quý báu phảng phất thơm, nhành mai mà một bạn ở Huế vừa gửi vào làm quà Tết, tôi đang hồi hộp ngóng đợi phút giao thừa. Đúng phút linh diệu ấy, tôi sẽ xông một lò trầm nhỏ, rồi lặng lẽ cúi đầu vái hai vái.

Một vái tạ hoa mai, dĩ nhiên.

Một vái xin dành cho những câu thơ tuyệt bút mà cha ông ta từng lao tâm khổ tứ ngợi ca loài hoa cao khiết.

Trích (blog: Phố núi và bạn bè…)

Trang Thơ Hoa Mai (P.2) – Hoa Mai, Mai Viet Nam, Mai Vang, Cho Thue Mai Tet, Ban Mai Tet, Mai Vang Nam Canh, Mai Bonsai, Ban Goc Mai Vang, Noi Ban Hoa Mai Dep / 2023

Càng thưở già càng cốt cách Một phen già một tinh thần Mai cốt cách tuyết tinh thần Một người một vẻ muôn phân vẹn toàn

Trang Thơ  Mai  Vàng  Việt Nam  2

                                          Mai già

(Quốc Âm thi tập )

Càng thưở già càng cốt cách

Một phen già một tinh thần

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Một người một vẻ muôn phân vẹn toàn

  (Nguyễn Du viết )

Thơ Xuân

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng  hết

Đêm qua sân trước nở một nhành mai

 (Mẫn Giác Thiền sư)

Nhành Mai trở mình

Cám ỏn mùa xuân

Mang màu nắng ấm

Mang màu hoa thắm

Rộn ràng ngõ quê ….

Tiếng mùa đông vọng

Nghiêng trời gió lọng

Đồng vàng xôn xao

Vút tận trời cao

Dập dìu chim én

Mùa xuân  đồng hiện

Mây bay la đà

Ngập tràn sông hoa

Trôi về muôn nẻo

Tiếng cười trong trẻo

Người gần bên ta

Nghe lòng nao nao

Xuân sà bên cửa

Bếp vừa đỏ hồng

Nhành mai trở mình

Lê Đức Đồng

Hương Sắc  Tháng 1,2  năm 2008

Cây Mai nhà bạn

Bỗng nhiên hóa thành nhân thế

Thân riêng lại đứng bên lề

Năm tháng hương thơm rụng hết

Mai ơi,  trắng cả đam mê

Lê văn Giao  (Hoa Cảnh11/2009)

Bốn Mùa

Xuân lại gót để hạ về khoát áo

Dệt tiếng ve hòa sắc phương thắm tươi

Cơn mưa chiều rải bong bóng khắp nơi

Ép tất cả đi vào trang lưu bút

Và hạ đi thu ngập ngừng một chút

Khẻ len qua những tán lá vàng ươm

Cúc xòe bung,tung phấn nhụy ứa thơm

Trường rộng cổng đón bạn bè áo trắng

Rồi đông sang làm dịu từng sợi nắng

Sương lung linh nghịch đọng cành mơ

Búp bê mi hoa lém lỉnh đợi chờ

Dáng nho nhả nay có dịp làm điệu

Suỵt! khẻ thôi..A! dũa thần kỳ  diệu

Dã kính cong cây nảy lộc đâm chồi

Hương mùa xuân lan tỏa khắp đất trơi

Mai vàng nở bao nụ cười xinh thắm

Làn gió qua cuốn một mùa đi mất

Dền lại một mùa khác cũng dễ thương

Hết hoàng hôn lại rực rỡ vầng dương

Bốn mùa lại bốn mùa mang mộng ước

Kim Cương (LH các hội KHKT)  Hoa Cảnh 1/1999

Cây Tứ Quý

Mai bốn mùa

Nở hoa kết trái cho vừa lòng nhau

 Hoa vàng dáng nhỏ lao sao

Trái xanh trái đỏ lúc nào cũng xuân

Bao nhiêu  hạnh phúc vui mừng

Trao cho bất tận

(cũng chùng ấy thôi )

Hoa này cho kẻ mồ côi

Kẻ thương ,  kẻ khó , kẻ ngồi tơ vương

Hoa này tiển kẻ lên đường

Hoa mai chia biệt vân vương cuộc tình

Cánh sương rụng đón bình minh

Cành mây khép lại một mình hoàng hôn

Mặc cho đau đớn mất còn

Kiếp này xin sống cho tròn lòng nhau

Nguyễn Hiệp

Hoa Mai Đỏ

 Có vàng lại thích nhung xanh

Có tim tím biết  muốn thành hồng tươi

Thương em lưu lạc vườn người

Đ duyên sao phải khóc cười trúc mai ..?

Phan Thành Minh

Hương Sắc Hoa xuân

Ta vừa chạm khắc giao mùa trời đất

mua dăng mành rây bột mịn  mong manh

Mai chúm chím khoe vàng dim mắt lá

Nụ đào phai e mắt ép bên cành

Hương hoa bưởi gọi bầy ong vội vã

Thược dược khoe trong sắc xanh

Lan hàm tiếu dáng thẹn thùng bẹn lẽn

Hoa mận xinh xinh nở trắng trên cành

Đất chếch choáng uống men nồng trời ủ

Trời ngất ngây hương đất mới thanh tân

Ta say với phút gia hòa vũ trụ

Cùng muôn hoa khoe sắc đón mùa xuân

 Nguyễn Tường Thuật

Mừng Báo ,Mừng xuân

Tay nâng xuân cả ba miền

Mai vàng ,đào thắm nét duyên tình

Việt nam hương sắc tỏa ngời

Mừng xuân , mừng báo , tứ thời đều xuân

Trần  Hàn  Nhân

Mai

Một  khóm mai vàng rực cuối thu

Trời  như hừng sáng ,ấm sương mù

Người về chốn củ mang bao nắng

Hoa thể tình ai nở trái mùa

Cây Mai của cha

Cha trồng một chậu mai vàng

Khẳng khiu gốc rể, mơn man lá cành

Nét hổ phục dáng rồng doanh

Cây còn mang nặng nghĩa tình cha con

Tản cư nhà cửa cháy rồi

Nụ mai vẫn nở bồi hồi bên cha

Nhớ ngày người thoát đi xa

Chít khăn trắng con cây và thọ tang

Ba hai năm mơ màng

Hồn cha thắp cảnh mai vàng về đây

Cây xưa lại nhớ lấy ngày

Đứng hầu kỵ giỗ rơi đầy lệ hoa

Đầu xuân cháu chắt rộn nhà

Ôm mai cổ thụ gọi là ông yêu

Quốc Thành   (Hoa Cảnh 2/99)

Đón xuân

Sáng nay trong vắt giọt sương tan

Mấy chậu mai tơ trổ đóa vàng

Cánh bướm lửng lơ đùa gió quyện

Lòng ta ngây ngất đón xuân sang

Xuân Cao Niên  

Cao niên ai bảo chẳng còn xuân

Mai lão khai hoa nở trắng ngần

Tùng cội lộc chội khoe lộc biếc

Oanh già thỏ thẻ tiếng vang ngân

Trăng Mai

Nguyệt thẹn nhường mai càng khởi sắc

Mai phô ánh nguyệt rõ thần

Long lanh cung quế mai vờn bóng

Lai động cành đưa nguyệt não nhân

Dưới trăng lởi rởi  mai rạng ngọc

Bên hoa vắng lặng nguyệt trong ngần

Lòng vẫn yêu mai luôn ái nguyệt

Nguyệt mai ,mai nguyệt thảy đều xuân

  (Lý Thân Dịch)

Trăng Mai 

Trăng soi mai sáng thêm thần

Dưới trăng mai lại mười phần sắc tươi

Long lanh cung quế mai cười

Cành mai lay động não người bởi trăng

 Ngọc hoa rời đáy nguyệt  chăng

Sân mai vắng lặng ,trăng vằng vặc trong

Yêu mai ái nguyệt tình nồng

Một mai ,một nguyệt đều cùng là xuân

                                                       Lý Thân dịch  ( sách  kỹ thuật trồng Mai  )

                                                                                   Huỳnh Văn Thới

Quý vị có những bài thơ hay  về hoa Mai ,Đào  xin quý vỉ gửi vào Email : maisaigon@ymail.com  Thay mặt hội chân thành cám ơn

Hoa mai việt nam

Âm Vang Của Hào Khí Đông A / 2023

Đề bài: Âm vang của hào khí Đông A qua hai tác phẩm Thuật Hoài (Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão) và Bạch Đằng giang phú (Bài Phú sông Bạch Đằng) của Trương Hán Siêu.

Đọc bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vị tổng chỉ huy cuộc kháng chiến lần thứ hai của nhân dân Đại Việt chống giặc Nguyên Mông, khó ai quên được hình ảnh vô cùng cảm động của người anh hùng dân tộc khi vó ngựa quân xâm lăng ngấp nghé ngoài chốn biên ải. Ông tâm sự với tướng lĩnh dưới quyền:

– Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da nuốt gan uống máu quân thù dẫu cho trăm thân hày phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta củng cam lòng.

(Hịch tựớng sĩ – Trần Quốc Tuấn)

Lời hịch bừng bừng sức nóng, hừng hực ngọn lửa căm thù như một âm vang hùng tráng vọng mãi trong lòng người đọc.

Luồng giố mang đầy hơi nống của bầu nhiệt huyết yêu nước, mang hùng khí của dân tộc thổi qua hàng trăm năm lịch sử vẫn nóng bỏng một ý chí quật khởi chống ngoại xâm cùng với lòng tự hào dân tộc vô bờ bến, hào khí Đông A.

Nhà văn Nguyễn Trung Thành khi nhìn lại cả một chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta đã cảm khái mà thất lên rằng: Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thì trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, Lê bao đời gây dựng nền độc lập. Có triều đại nào không phải kinh qua những cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, có thời đại nào không vang dội những chiến thắng nức lòng, có người dân của thời đại nào mà không sôi sục trong huyết quản một dòng máu yêu quê hương tha thiết? Hào khí Đông A, hiểu theo chiết tự, là hào khí của thời đại nhà Trần, nhưng hào khí ấy bắt nguồn từ lịch sử xa xưa các vua Hùng dựng nước và trực tiếp bắt nguồn từ chiến thắng của Ngô Quyền đối với quân Nam Hán (938), chiến thắng của Lí Thường Kiệt (1076). Hào khí âm vang lan truyền tới mãi mãi sau này, trong niềm kiêu hãnh dân tộc của người dân đất Việt.

Làm sao có thể lí giải được một dân tộc nhỏ bé, một đất nước bé nhỏ lại có thể ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông – một đế quốc hùng mạnh và hung hãn nhất của thời bấy giờ, đi tới đâu là gieo rắc sự chết chóc cho mọi sinh linh tới đó: Vó ngựa quân Nguyên Mông đi tới đâu, thì cỏ không còn mọc được tới đó, nếu như không nghe qua những lời thơ hùng tráng của các thi sĩ – tướng sĩ, hay chỉ là một kẻ khách không thôi, cũng đượm một hào khí Đông A, cũng ngùn ngụt một niềm kiêu hãnh, tự hào không hề che giấu.

Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

(Múa giáo non sông trải mây thâu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu).

(Thuật Hoài – Phạm Ngũ Lão)

Câu thơ dịch là Múa giáo, không sát với nguyên bản và vì thế đã giảm mất tư thế “hoành sóc” hiên ngang của người tráng sĩ. Hoành sóc (cắp ngang ngọn giáo) thể hiện tư thế của người tráng sĩ, một tư thế ung dung đĩnh đạc, vừa tĩnh lại vừa động, vừa điềm đạm lại vừa hào hùng, thách thức. Đó là tư thế của một dân tộc biết được sức mạnh của mình và sức mạnh đó đã được trải qua bao cuộc thử thách, một tư thế vững vàng không thể lay chuyển được. Từ thế đứng của một tráng sĩ mà thấy thế đứng cả dân tộc, từ sức mạnh của một người mà thấy được sức mạnh của cả dân tộc, cả quân đội:

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

Từ một thế đứng hiên ngang, câu thơ bỗng vút lên một ý tưởng lãng mạn, hay nói đúng hơn là từ một thế đứng, điệu thơ đã thăng hoa một cách rực rỡ và toả sáng hào quang lên tận trời xanh, át cả ánh sáng của sao Ngưu, sao Đầu, những ngôi sao sáng nhất theo quan niệm của người xưa.

Hai bài Thuật hoài và Bạch Đằng giang phú thể hiện hào khí Đông A của dân tộc Việt Nam ta

Trong thơ ca cổ điển, cái tôi thường ít được nói tới và những tâm trạng ẩn khúc của riêng một con người cũng hầu như không xuất hiện. Thế nhưng Phạm Ngũ Lão đã nói lên tâm sự của chính mình một cách thẳng thắn và cao đẹp:

Nam Nhi vị liễu công danh trái

Tu chính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu).

Đó là nổi thẹn vì chưa trả được nợ công danh, nợ anh hùng nay trả nay vay, chưa báo đền nợ nước, bực vì sức mạnh không được như Gia Cát Lượng giúp nhà Hán ngày xưa, một nỗi thẹn thật đáng quý.

Hào khí Đông A đâu chỉ thể hiện ở lòng yêu nước căm thù giặc, tinh thần quật khởi lòng tự hào dân tộc. Nó còn nằm trong những khía cạnh tâm sự sâu kín của con người, là tâm sự đáng yêu của một chàng trai đất Việt, cũng là tâm trạng của thế hệ thanh niên thời bấy giờ, lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, cũng đặt trách nhiệm gánh vác sự an nguy của đất nước trên đôi vai của chính minh. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng để rồi mai sau, người dân nào đi qua những mảnh đất thiêng liêng của chiến địa cũng thấy dậy lên trong mình một hào khí của dân tộc. Đó cũng là cảm hứng làm nên sự bất hủ của bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu.

Bài Bạch Đằng giang phú được làm cuối đời Trần, lúc mà chế độ phong kiến nhà Trần đang dần dần đi vào con đường suy thoát, nhưng giữa cảm hứng bi tráng của bài phú, vẫn vút lên một khí thế hào hùng của dân tộc, niềm say sưa và tự hào không gì che giấu nổi trước những chiến công. Thế mới biết hào khí Đông A có sức âm vang và lay động lòng người tới mức nào.

Tinh thần thượng võ ở thời trung cổ không phải là không có những nét đẹp và khi nó đi vào thơ phú của Trương Hán Siêu để được hoà quyện với lòng tự hào dân tộc, nó đã làm nên bức tranh tuyệt đẹp, cái đẹp của sự hào hùng:

Trận đánh thư hùng chửa phân

Chiến luỹ Bắc Nam chống đối.

Nhà thơ say sưa với trận đánh lịch sử như chính là đang sống với chiến cuộc, những nét bút tung hoành thể hiện một sự cảm khái cực độ:

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.

Và nếu như ở Thuật hoài, niềm tự hào của Phạm Ngũ Lão bốc đầy hùng khí thì ở Bạch Đằng giang phú, niềm tự hào đã chín một cách đằm thắm và vĩnh hằng, gắn với sự tồn tại của tự nhiên:

Đến nay sông nước tuy chảy hoài

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.

Sông nước chảy hoài, dòng chảy của tự nhiên, của lịch sử, của thời gian, dòng chảy ấy không xoá đi mà mãi mãi lưu lại âm vang của hào khí Đông A, cũng như lưu lại vết nhục của quân thù và niềm tự hào của mỗi người dân chúng ta.

Xuyên suốt qua hai tác phẩm Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão và Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu là một tinh thần quật khởi, một tình yêu đất nước mãnh Hệt, một lòng căm thù giặc sâu sắc và một niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc nức lòng người. Nhưng nói như vậy không có nghĩá dân tộc ta ưu thích chiến tranh, thích đổ máu, mà ngược lại, hơn bao giờ hết, hào khí Đông A được xây dựng trên nền tảng nhân nghĩa của cha ông ta:

Giặc tan muôn thuở thanh bình

Bởi đầu đất hiểm cốt mình đất cao

Hoàng sóc giang sơn cáp kỉ thâu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

Chính cái tư thế Hoành sóc vừa vững chãi vừa uy nghi ấy cũng nói lên thế cắp ngang ngọn giáo đứng hiên ngang đẹp đẽ của dân tộc ta bởi vì chúng ta chiến đấu là để bảo vệ non sông gấm vóc, bảo vệ hoà bình.

Có cắt nghĩa như vậy ta mới lí giải được vi sao hào khí Đông A lại có một sức sống lâu bền như vậy, và mới hiểu tại sao mà Nguyễn Trãi, Lê Lợi sau này lại làm nên những chiến công cũng hiển hách như vậy. Hào khí Đông A sống mãi trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hơn một trăm năm sau sự ra đời của Bạch Đằng giang phú hào khí ấy vẫn vọng lên trong bài thơ Qua cửa Hàm Tử của Trần Lâu:

Trống chiêng rung động, sông dồn sóng

Cờ quạt tung bay, trúc rẽ nhàng

Cổ chinh hùng dũng trào cao thấp

Và dù ở bài thơ nào, Thuật hoài, Bạch Đằng giang phú hay Qua cửa Hàm Tử thì hào khí Đông A vẫn được bày tỏ một cách hết sức tự nhiên, bởi nó đã thấm vào máu thịt của từng người dân đất Việt, nó là tâm huyết, là dòng máu nóng sục sôi trong từng huyết quản những người dân đã khắc hai chữ Sát Thát vào cánh tay mình trong cuộc kháng chiến chông giắc Nguyên Mông thế kỉ XIII.

Và bây giờ, khi đọc lại hai tác phẩm Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão và Bạch Đàng giang phú của Trương Hán Siêu, ta như thấy được cả một rừng cánh tay vung lên, cánh tay nào cũng chích hai chữ Sát Thát đỏ thắm như máu, ta thấy lại được cái hùng khí của cả một thế hệ anh hùng, một thời đại anh hùng. Trong công cuộc dựng xây đất nước hôm nay, dân tộc như được tiếp thêm sức mạnh bởi hào khí Đông A thưở trước.

Từ khóa tìm kiếm

hào khí đông a

hào khí đông a trong bài thơ tỏ lòng

hào khí đông a thời trần trong bài tỏ lòng

hào khí đông a trong văn học thời trần

âm vang của hào khí Đong A qua bà Tỏ Lòng

Cập nhật thông tin chi tiết về Khí Phách Trần Mai Ninh Trong Thơ / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!