Xu Hướng 2/2023 # Kết Nạp Đảng Trên Quê Mẹ” # Top 9 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Kết Nạp Đảng Trên Quê Mẹ” # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Kết Nạp Đảng Trên Quê Mẹ” được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kết nạp Đảng trên quê mẹ

Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phương trời

Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ!

Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?

Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm

Trong buổi đầu, ta theo Đảng đi lên

Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác

Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt

Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?

Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn

Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết!

Tôi cúi đầu nghe, dặt dìu, tha thiết

Cây cỏ trời mây, kẻ mất người còn

Trong mơ hồ, trăm tiếng của quê hương

Tiếng mẹ bảo bên tai: “Con hãy nhớ

Bà con quê ta đói nghèo lam lũ

Cuộc sống xưa như nước chảy mất dòng

Không ai thương như cỏ nội giữa đồng

Con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác

Đất chẳng nuôi người, người không nuôi nổi đất

Chiếc khăn xanh mẹ bịt ở trên đầu

Đã từng che hai thứ tóc buồn đau

Mẹ trông ở đời con… Con hãy gắng

Con đi đi… Từ nay con có Đảng”

Tôi nhìn ra thấy máu thịt quê hương

Như đang dâng thành núi lại thành cồn

Ôi gió Lào ơi! ngươi đừng thổi nữa

Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ

Những đồi sim không đủ quả nuôi người

Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười

Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng

Của đồn giặc mấy năm trời chiếm đóng

Đảng kính yêu! Tôi tìm Đảng giữa nơi này

Như chờ vang tiếng sét xé trời mây…

Tôi đứng trước Đảng kỳ, rưng mắt lệ

Phút mơ ước, sao thiếu hình bóng mẹ?

Giặc bao vây ngăn lối chặn đường

Thiếu cả gia đình ngay giữa đất quê hương!

Mẹ ơi! mẹ không là đồng chí

Nhưng Đảng kỳ đây chính là của mẹ

Đời khổ đau mẹ đứng dưới cờ này

Mẹ đói nghèo, hàng ngũ bên con đây

Mẹ xem, con mặc áo nâu sồng xưa mẹ mặc

Mai con hát khúc bình dân xưa mẹ hát

Đảng mến yêu, có phải mẹ giới thiệu con vào?

Từ buổi dạy con lòng thương ghét ban đầu

Tự quê mẹ nghèo, tự đời mẹ khổ

Tự giọt lệ khóc tù đi biệt xứ

Tự nắm cơm khô đưa cán bộ thoát làng

Từ tiếng thét căm thù vì giặc giã, vua quan

Tưởng như cả quê hương giới thiệu tôi vào Đảng

Rẫy bắp, vườn tiêu, bờ tre, bãi sắn

Những đồi tranh ăn độc gió Lào

Cả trại tù Lao Bảo chốn rừng sâu

Ôi tiếng đầu tiên gọi ta “đồng chí”

Là tiếng quê hương ấm lành Quảng Trị

Những đảng viên đầu tiên đứng sát bên tôi

Là bạn thuở nhi đồng áo vá cơm khoai

Tôi đứng dưới cờ, đưa tay tuyên thệ

Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ

Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu

Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau. 

CHẾ LAN VIÊN 1949

QĐND – Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 -1989), quê Cam Lộ, Quảng Trị, là một trong vài ba nhà thơ xuất sắc nhất của nước ta ở thế kỷ XX. Ông xuất hiện và nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới với tập thơ “Điêu tàn” khi ông mới 17 tuổi. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thơ ông được bạn đọc mến mộ không chỉ vì có giọng điệu riêng, nghệ thuật thi ca điêu luyện chứa đựng tư tưởng và triết lý… mà còn vì ý thức công dân của ông, đem thơ ca phục vụ sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ông là một trong những nhà thơ Việt Nam đầu tiên được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996) là giải thưởng cao quý nhất về Văn học Nghệ thuật do Chủ tịch nước trao tặng.

Khi nói về những bài thơ hay viết về Bác Hồ, thì chúng ta không thể không nhắc đến bài “Người đi tìm hình của nước” của ông. Và tương tự như thế, “Kết nạp Đảng trên quê mẹ” là một trong những bài thơ xuất sắc viết về Đảng, một đề tài rất lớn nhưng không dễ đối với mọi nhà thơ. Ai cũng biết, trong chiều dài lịch sử nước ta, tính từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam, là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, người tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta đánh đổ ách đô hộ và sự xâm lược của các thế lực ngoại xâm và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nói chung, đảng viên là những người con ưu tú của dân tộc, nên những ai được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều thấy vinh dự, tự hào, nhất là ngày được kết nạp  Đảng. Cái cảm giác “ngày vào Đảng đất trời như đổi khác” thật đúng với ý nghĩ, tâm trạng của những ai đã từng được vinh dự đứng tuyên thệ dưới cớ Đảng trong ngày lễ trọng đại này. Thông thường, những người có lập trường tư tưởng vững vàng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời gian thử thách thì được xét và kết nạp Đảng. Bởi thế, phần lớn đảng viên được kết nạp ở cơ quan, đơn vị, có khi ngay giữa mặt trận… chứ rất ít cán bộ thoát ly, đã “giã mẹ đi kháng chiến bốn phương trời” mà lại được kết nạp ngay trên quê hương của mình. Đây là chuyện thật của tác giả, năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn (Quảng Trị), chính nhà thơ Chế Lan Viên đã được kết nạp Đảng. Giờ phút kết nạp vào Đảng, ở bất cứ đâu, người đảng viên mới này không những tự hào, mà còn có nhiều điều suy nghĩ, thì được kết nạp trên quê hương mình, sự suy nghĩ đấy càng được mở rộng và thêm nhiều ý nghĩa. Nhà thơ Chế Lan Viên đã khai thác điều này, khi dùng hình tượng người mẹ, không chỉ là đại diện cho quê hương, mà để người đọc hiểu được cảnh cơ cực, bần hàn của quê hương, đất nước trước khi  có Đảng: “Bà con quê ta đói nghèo, lam lũ / Cuộc sống xưa như nước chảy mất dòng/ Không ai thương như cỏ nội giữa đồng/ Con chim nhỏ bỏ trời quê ta đi xứ khác”. Và “Thiếu gia đình ngay giữa quê hương”… Đọc đến đoạn này, chúng ta nhớ đến trường ca “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của nhà thơ Tố Hữu, cũng có đoạn nói về nỗi cơ cực của người dân trước kia: “Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ / Anh chạy vào đất đỏ làm phu / Bán thân đổi mấy đồng xu / Thịt rơi vùi gốc cao su mấy tầng”… Điều đó giải rằng tại sao cần có Đảng. Có câu thơ đọc lên làm chúng ta suy nghĩ nhiều: “Mẹ ơi! Mẹ không là đồng chí / Nhưng Đảng kỳ đây chính là của mẹ”. Hai từ “đồng chí” xuất phát dùng để chỉ những người cùng chí hướng, nhưng chúng ta quen dùng để chỉ, gọi những người đảng viên với nhau, và mở rộng ra, là để gọi những người cùng đơn vị, cơ quan. Như vậy thì rõ ràng  “mẹ không là đồng chí”. Tác giả dùng ý này không chỉ để nói về người mẹ cụ thể của mình, mà muốn chuyến tải một ý nghĩ: Có nhiều người dù chưa phải làng đảng viên, chưa được gọi nhau bằng “đồng chí”, nhưng “phẩm chất Đảng” đã có sẵn trong họ, và họ hết sức gần gũi với Đảng: “Đảng mến yêu, có phải mẹ giới thiệu con vào/ Từ buổi dạy con lòng thương ghét ban đầu/ Tự quê mẹ nghèo, tự đời mẹ khổ /…/ Từ giọt lệ khóc tù đi biệt xứ / Từ nắm cơm khô đưa cán bộ thoát làng…” Nhà thơ đã diễn đạt một cách giản dị, dễ hiểu rằng, Đảng nói chung và đảng viên nói riêng không phải là ai xa lạ, mà chính là những người dân từng bị đói khổ vì phong kiến, thực dân, tự giác ngộ, liên kết nhau lại thành một tổ chức…

VƯƠNG TRỌNG

Nhà Thơ Tố Hữu &Amp; Quê Mẹ

TTH – Nhân dịp 100 năm ngày sinh nhà thơ Tố Hữu (4/10/1920 – 4/10/2020), Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức ấn hành thi phẩm với tên gọi lấy từ tựa đề bài thơ “Quê mẹ” của ông. Tập thơ bao gồm những bài thơ nhà thơ Tố Hữu viết ở Huế, viết về Huế, hoặc có nhắc đến quê hương Thừa Thiên Huế trong một cõi đất Việt “Nước non ngàn dặm”.

Bìa tập thơ Quê mẹ

Nhà thơ Tố Hữu sinh ra nơi miền quê ven sông Bồ, làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Từ nhỏ ông được tắm gội trong lời ru của mẹ, thừa hưởng vốn ca dao, dân ca xứ Huế với bao làn điệu mái nhì, mái đẩy, câu Nam ai, Nam bình… Từ Huế, ông làm thơ cho mọi nhà, mọi người, mang âm hưởng hồn cốt văn hóa Huế, nhịp điệu Huế, ngôn ngữ Huế… Từ thế giới âm điệu bay bổng của thơ mới và bình dị dìu dặt của ca dao dân ca, niềm hưng phấn lên đường đầy lý tưởng đã vang vọng, hòa quyện tạo nên tiếng thơ Tố Hữu khởi sáng lúc bấy giờ.

Quê hương Thừa Thiên Huế chính là nơi khởi nguồn bồi đắp lý tưởng, bầu nhiệt huyết cách mạng, bầu khí quyển thi ca của nhà thơ Tố Hữu. Những đồng chí lãnh đạo của Đảng hoạt động ở Huế thời đó đã dẫn dắt Tố Hữu đi theo con đường cách mạng (Con lớn lên con làm cách mạng/anh Lưu anh Diểu dạy con đi (Quê mẹ)). Đồng chí Phan Đăng Lưu là người thầy đầu tiên hướng Tố Hữu vào con đường thơ ca cách mạng. Những bài thơ ban đầu: Mồ côi, Hai đứa bé, Đi đi em, Tiếng hát sông Hương… ra đời trong những năm tháng đó, khiến cho Tố Hữu tạo dựng một tiếng thơ riêng, được bạn đọc yêu mến vì lời thơ mượt mà song vô cùng gần gũi, được các nhà phê bình thán phục vì sự bất khuất yêu ghét rõ ràng, và kêu gọi đấu tranh. Trong khi hầu hết các nhà thơ mới “đều say sưa bơi lội trong dòng sông tâm tư tình cảm cá nhân”, né tránh thân phận nô lệ, nỗi đau mất nước; thì Tố Hữu đã gióng lên lời thơ kêu gọi đấu tranh cho mọi tâm hồn đau khổ.

Vì quê hương đất nước ông đi làm cách mạng để giải phóng Nhân dân, giải phóng dân tộc. Tình cảm của nhà thơ đối với quê hương thật đậm đà da diết. Từ những ngày đầu đến với cách mạng rồi sớm xuất hiện trên văn đàn, những bài thơ ban đầu của Tố Hữu đều được bắt đầu từ Huế. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/Mặt trời chân lý chói qua tim” là những vần thơ có sức mạnh như một nguồn năng lượng tinh thần vô giá với hàng triệu con tim. Thơ Tố Hữu có sức lan tỏa rất lớn và cũng mang đậm hồn thơ xứ Huế.

Quê hương Thừa Thiên Huế là ý chí, là quyết tâm góp phần làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất:

“Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao

Mở mắt trông: Trời đất bốn phương chào

Một dân tộc đã ào ào đứng dậy!

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy

Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

(Huế tháng Tám)

Quê hương Thừa Thiên Huế, là Huế trong miền Nam, nằm trong khối Việt Nam thống nhất :

– “Nếu tâm sự cùng ta, bạn hỏi

Tiếng nào trong muôn ngàn tiếng nói

Như nỗi niềm nhức nhói tim gan ?

– Trong lòng ta hai tiếng: Miền Nam!”

(Miền Nam)

– “Ai vô đó, với đồng bào, đồng chí

Nói với nửa – Việt Nam yêu quý

Rằng: Nước ta là của chúng ta

Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

Chúng ta, con một cha, nhà một nóc

Thịt với xương, tim óc dính liền”

(Ta đi tới)

“Ôi Huế ngàn năm, Huế của ta

Đường vào sẽ nối lại đường ra”

Như con của mẹ về quê mẹ

Huế lại về vui giữa cộng hòa”

(Vui bất tuyệt)…

Nhiều người cho rằng thơ Tố Hữu như là tiếng nói trái tim nhân hậu của người mẹ, thật gần gũi thân quen đến độ khi đọc lên, cứ ngỡ đó là người mẹ ở quê nhà.

Từ bài thơ “Dửng dưng” viết về Huế trong thời thuộc Pháp, đến “Bài ca quê hương”, nhà thơ đã phải trải qua “Hai mươi chín năm dằng dặc xa quê/ nay mới về thăm mừng tái tê”; đó cũng là chặng đường dài của cách mạng đất nước. Đêm Hà Nội dịp tết năm 1955, nhà thơ Tố Hữu bước trên Phố Huế lòng mang nỗi nhớ quê hương, và bài thơ “Quê mẹ” tiếng lòng rưng rức nước mắt thương nhớ vang lên trong đêm: “Huế ơi quê mẹ của ta ơi”.

Quê hương Thừa Thiên Huế hiện lên trong thơ ông là lời ăn tiếng nói miền quê:

– “Ôi, cơ chi anh được về với Huế”

(Bài ca quê hương);

– “Có lẽ con anh lớn lắm rồi

Chúng đương đùa nghịch hét vang cươi”

(Người về);

– “Răng không cô gái trên sông?

Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài

Thơm như hương nhụy hoa nhài…”

(Cô gái sông Hương)

Là “Con cá chột nưa”.

Là các địa danh thân thiết:

– “Làng ta giặc đốt mấy lần qua

Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà

Mà quít Hương Cần ta vẫn ngọt

Nhớ anh du kích trấn Dương Hòa”

(Quê mẹ)

Bao nhiêu lần ông về thăm quê, đó là những chuyến đi của máu trở về tim. Về lần đầu tiên, ông viết: “Đường về xứ Huế quê ta/Mấy sông cũng lội mấy xa cũng gần” (Đường vào), và sau đó bao giờ cũng da diết: “Hương Giang ơi, dòng sông êm/ Quả tim ta, vẫn ngày đêm tự tình ” (Bài ca quê hương)…

Tố Hữu là một người con quê hương Thừa Thiên Huế tiêu biểu, một trong những ngọn đuốc trên đỉnh Ngự soi sáng dòng Hương. Quê hương Thừa Thiên Huế tự hào đã sinh ra ông, bên cạnh những tên tuổi chói ngời khác của Thừa Thiên Huế. Trường Quốc Học còn lưu giữ hình ảnh của ông cùng bao học trò là những tên tuổi lớn của đất nước: Nguyễn Tất Thành, Trần Phú, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh… Tên nhà thơ Tố Hữu được đặt tên đường, tên trường ở thành phố Huế, các huyện Quảng Điền, các thị xã Hương Trà, Hương Thủy… Một không gian thi ca Tố Hữu được xây dựng ở Quảng Điền, ngay bên dòng sông Bồ xanh trong mà nhà thơ Tố Hữu thường nhắc đến trong thơ ông.

Tập thơ “Quê mẹ” như là tấm lòng của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế hôm nay dành tri ân, tôn vinh nhà thơ Tố Hữu nhân 100 năm ngày sinh của ông. Đây hy vọng cũng sẽ là món quà dành cho những người đồng điệu yêu thơ Tố Hữu, yêu Huế – xứ sở thi ca giờ đây đang xây dựng và phát triển thành vùng đất “di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường”, là đô thị di sản trực thuộc Trung ương đặc sắc của Việt Nam.

Bài, ảnh: THANH NGỌC

Chín Mươi Năm Đời Ta Có Đảng!

Tùy bút

Mùa xuân năm 1960, nghĩa là cách nay tròn 60 năm, Đảng ta kỷ niệm 30 năm ra đời, nhà thơ lớn Tố Hữu có bài thơ dâng Đảng nổi tiếng: Ba mươi năm đời ta có Đảng. Bài thơ, gọi chuẩn hơn phải là trường ca dài 256 câu đã khái quát một cách sinh động bối cảnh đất nước khi chưa có Đảng, sự ra đời của Đảng ta vào ngày 3-2-1930 và thành quả 30 năm mà Đảng đã lãnh đạo dân ta đã giành được… Bài thơ là tình cảm, niềm sung sướng đến tột độ khi tác giả đứng trong hàng ngũcủa Đảng, ca ngợi và khẳng định thành quả mà Đảng, Bác Hồ đã đem lại. Xuân này, Đảng ta kỷ niệm 90 năm ra đời, nghĩ về Đảng, Bác Hồ muôn vàn kính yêu, lần tìm tư liệu, tôi chọn ngay đầu đề bài thơ làm tít cho tùy bút đầu Xuân. Cũng là lẽ thường bởi cứ mỗi độ Tết đến, Xuân về, mọi người Việt Nam lại nhớ đến Đảng, Bác bởi chính Bác, Đảng cho chúng ta một mùa Xuân bất tận.

Nơi nơi tưng bừng mừng Đảng, mừng xuân.

Mùa Xuân đó con chim én mới!

Vâng, tôi nghĩ trong những ngày Xuân, trong nhịp sống mừng Đảng có thêm nhiều thành tích của năm Kỷ Hợi, cần một lần nữa ôn lại và nhắc nhớ bài thơ “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, để thấy ý nghĩa lớn lao của hạnh phúc mà Đảng đã đem lại.

“Mùa xuân đó con chim én mới

Rộn đồng chiêm chấp chới trời xanh

Đời ta gương vỡ lại lành

Cây khô cây lại đâm cành nở hoa”

Từ trong đêm trường nô lệ đau thương dưới ách thống trị tàn khốc của đế quốc, thực dân, phong kiến;từ việc lần tìm con đường đi cho giải phóng dân tộc của bao người yêu nước, thương nòi không kết quả.Việc cho ra đời một chính đảng vô sản đại diện cho công nông,lao động vào ngày 3-2-1930 và chỉ sau ra đời 15 năm đã lãnh đạo toàn dân làm cuộc cách mạng tháng Tám, giành độc lập dân tộc và 15 năm sau đánh thắng thực dân Pháp, nửa nước xây dựng Chủ nghĩa Xã hội…

“Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, Xương sắt da đồng

Đảng ta muôn vạn công nông

Đảng ta muôn vạn tấm long niềm tin

Đảng ta đó Mác-Lê nin vĩ đại

Lại hồi sinh trả lại cho ta

Trời cao đất rộng bao la

Bát cơm, manh áo, hương hoa, hồn người”

Khẳng định tầm vóc, vai trò và công lao của Đảng, Bác Hồ đối với Tổ quốc, dân tộc: Ôn lại lịch sử hình thành, thắng lợi và đi tới. Bài thơ đưa người đọc vào hành trình đi tiếp của Đảng và đất nước với mục tiêu xuyên suốt là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội.

“Đường giải phóng mới đi một nửa

Nửa mình còn trong nửa nước sôi

Một thân không thể chia đôi

Lửa gươm không thể tách rời núi sông

……………………

Miền Nam đi trước về sau

Bước đường cách mạng dài lâu đã từng

Đước đã mọc thành rừng gỗ cứng

Gió càng lay càng dựng thành đồng

Trăm sông về một biển Đông

Bắc Nam sẽ lại về trong một nhà”

Bác Hồ và Đảng là một, là sự kết hợp không thể tách rời. Nói về Đảng là nói về Bác, Người sinh thành Đảng và dẫn đường chỉ lối cho cả dân tộc theo đi. Chúng ta cùng hành động theo lời Bác, Đảng đã dạy để Nước Việt Nam cường thịnh mãi mãi.

“Ngọn cờ đỏ trên đầu phấp phới

Bác Hồ đưa ta tới trời xa

Ba mươi năm bước đường qua

Đời ta có Bác xông pha dẫn đường…”

Để đất nước mãi mãi những mù xuân thịnh vượng!

45 năm đấu tranh, chịu đựng muôn vàn hy sinh, xương máu, Đảng ta đã mang lại độc lập, tự do cho đất nước. Cũng đã từng ấy năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, dân tộc thực hiện công cuộc đổi mới, bước đầu gặt hái thành công… Nhưng cũng chính từ mặt trái của các hoạt động trong quá trình đổi mới đó lại xuất hiện những tiêu cực mà những vi phạm của cán bộ, đảng viên là không nhỏ. Những tệ quan liêu,tham nhũng, ức hiếp người dân, hay lợi ích nhóm, tham lam quyền lực, vô hiệu hóa hoạt động của các tổ chức quần chúng của không ít tổ chức Đảng, đảng viên có chức quyền không phải là mới nhưng khó dẹp bỏ do ẩn nấp trong cơ chế, chính sách… ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và tồn vong của Đảng… Năm 2020, công việc của Đảng bộn bề và đòi hỏi một quyết tâm chỉnh đốn rất cao, cũng là trách nhiêm toàn dân.

Tôi giành mấy ngày Tết Canh Tý để tìm lại một địa chỉ đỏ, đó là ngọn đồi Khau Tý, thuộc xã Điềm Mặc,huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nơi này, ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở và làm việc. Năm 1947, chỉ mới chưa đầy 2 năm giành độc lập, công việc kháng chiến cam go, bộn bề, Bác Hồ với bút danh X.Y.Z đã hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách Sửa đổi lối làm việc chỉ vỏn vẹn 100 trang khổ nhỏ, đã chỉ ra những căn bệnh của một Đảng cầm quyền mà không ngăn chặn sẽ gây tổn hại khôn lường cho Đảng. Cuốn sách có 6 nội dung lớn, là những vấn đề hệ trọng, cho đến hôm nay, hơn 70 năm vẫn còn nguyên giá trị, và mỗi cán bộ ,đảng viên không thể không nằm long.

Thứ nhất: Bác dạy phải nhận thức và thực hiện có hiệu quả một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng là phê bình và tự phê bình. Phải khắc phục cho được tình trạng hữu khuynh, né tránh cũng như thiếu xây dựng trong phê bình, thiếu trung thực trong tự phê bình. Ngay trong phê bình, Bác cũng chỉ ra phương thức tổ chức, hình thức tổ chức làm sao để hiệu quả nhất. Ngay trong phê bình thì cách tiến hành phê bình phải xác định rõ mục đích của phê bình, phê bình rồi thì phải thực hiện việc phê bình đó, trong phê bình chống thói trù dập, bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, phê bình là động lực cho sự phát triển, chứ tuyệt nhiên phê bình không phải để hạ thấp lẫn nhau. Phê bình phải đi liền với tự phê bình. Tự phê bình phải ráo riết và lấy lòng nhân ái, lấy lòng thành thật để tự phê bình.

Thứ hai: Bác chỉ rõ, đảng viên cán bộ phải nhận thức đúng đắn vai trò của lý luận và đổi mới việc giáo dục lý luận cho cán bộ, đảng viên; phải khắc phục cho được bệnh coi thường lý luận, lý luận suông, sách vở, giáo điều, phải học tập lý luận chính trị một cách thiết thực, tránh hình thức, qua lọa, đại khái…

Thứ ba: Người đề cao vai trò của đạo đức cách mạng và việc tu dưỡng đạo đức của cán bộ, đảng viên, khắc phục cho được các bệnh tham ô, lãng phí. Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính theo Bác không có gì khó. Tóm tắt lại có 5 điều răn: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Nhân – là người, đã là người thì phải hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào, chịu khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, không tham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền; Nghĩa – ở đây là sự ngay thẳng, không làm việc gì giấu Đảng, giấu dân. Trí – ở đây là đầu óc trong sạch, sáng suốt, biết xem người, biết xem việc, biết tránh những điều có hại cho Đảng, biết cất nhắc người tốt, đề phòng người gian. Dũng – là người có trí dũng, có gan làm việc, có gan sửa chữa khuyết điểm, nếu cần có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ Quốc. Liêm – là người không tham tiền tài, không tham sung sướng, không tham người tâng bốc mình, quang minh, chính đại. Người đảng viên cộng sản chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Thứ tư: Bác chỉ ra những vấn đề thuộc về vai trò quyết định của đội ngũ cán bộ và phải đổi mới cách đánh giá bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Sử dụng cán bộ là sử dụng người có tài, có đức, có các phẩm chấn cần, kiệm, liêm, chính. Những người như vậy phải được bồi dưỡng và sử dụng.

Thứ năm: Vấn đề cách lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng ra quyết định đúng và kịp thời, tổ chức thực hiện đúng, khéo, giám sát, kiểm tra chặt chẽ, đúng đắn.

Thứ sáu: Tầm quan trọng của công tác tuyên truyền giáo dục. Tầm quan trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục mang tính thuyết phục, nhất là phải đổi mới cách nói và viết của cán bộ, đảng viên, phải khắc phục thói ba hoa, sáo rỗng, nói không đi đôi với làm.

Ăn Tết Nguyên Đán Canh Tý xong, toàn Đảng, toàn dân ta bước vào đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa cực kỳ quan trọng. Đó là tìm cho được những người có đức,có tài ra gánh vác công việc Đảng, việc Nước, việc Dân. Có câu: Dân là dân Nước,Nước là Nước dân. Để nói Đảng phải tiến hành dân chủ toàn diện, Dân sẽ chọn cho Đảng, cho chính quyền những cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, gách vác cơ đồ mà 90 năm qua Đảng và dân ta vun đắp./.

Hữu Minh

Tình Yêu Qua Bài Những Em Bé Lớn Lên Trên Lưng Mẹ

Tình yêu qua bài Những em bé lớn lên trên lưng mẹ

Cảm nghĩ về đoạn thơ trong bài Ánh Trăng Bài Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện tình yêu thương con gắn với lòng yêu nước, với tinh thần chiến đấu của người mẹ miền tây Thừa Thiên. Qua khúc hát ru ở phần cuối bài thơ hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.

“ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ

Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng

Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối

Anh trai cầm súng, chị gái cầm chuông

Mẹ địu em đi đề giành trận cuối

Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường

Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn

– Ngủ ngoan a- kay ơi , ngủ ngoan a- kay ơi hỡi

Mẹ thương a- kay, mẹ thương đất nước

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ

Mai sau con lớn làm người Tự do …”

a) Mở bài:

– Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong môi trường quân đội, thời kì chống Mĩ cứu nước.

– Bài thơ có ba khúc ca, mỗi khúc có 2 khổ, được sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của đồng bào Tà- ôi trên miền núi Trị Thiên. Đây là khúc ca thứ 3 thể hiện tình thương con gắn với tinh thần chiến đấu, với lòng yêu nước của người mẹ Tà- ôi.

b) Thân bài:

Người mẹ tảo tần, lam lũ:

– Hình ảnh người mẹ gắn bó với hoàn cảnh, công việc chiến đấu. Đó là lúc ” Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối” muốn đẩy đồng bào Tà – ôi vào chỗ chết, nên mẹ phải địu con không phải để giã gạo, tỉa bắp mà là ” chuyển lán”,”đạp rừng”. Mẹ cùng “anh trai , cầm súng” , “chị gái cầm chông” ra trận , đi tiếp tế, đi tải đạn, di chuyển lương thực……với tinh thần quyết tâm tin tưởng vào thắng lợi.

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối Anh trai cầm súng, chị gái cầm chuông Mẹ địu em đi đề giành trận cuối Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn”

Mong ước của mẹ:

– Mong ước của mẹ là mơ ước” Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần ” hay con mau chống lớn khôn, có sức khỏe cường tráng , ” vung chày lún sâu” , “con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ” làm người Tự do. Đó chính là ngày miền Nam được giải phóng , đất nước được thống nhất , con được làm người dân của đất nước độc lập tự do.

“Ngủ ngoan a- kay ơi , ngủ ngoan a- kay ơi hỡi Mẹ thương a- kay, mẹ thương đất nước Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người Tự do…”

– Người đọc xúc động trước tấm lòng vị tha ,nhân hậu của bà mẹ Tà- ôi , của những người mẹ miền Tây Thừa Thiên và cũng là phụ nữ Việt Nam nói chung, và tấm lòng của tác giả đối với các Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

– Liên hệ với hình ảnh người Bà trong bài thơ : bếp lửa” của Bằng Việt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kết Nạp Đảng Trên Quê Mẹ” trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!