Xu Hướng 2/2023 # Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng # Top 2 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(Vanchuongphuongnam.vn) – Hàn Mặc Tử (1912-1940) là bút danh chính thức của nhà thơ tên thật Nguyễn Trọng Trí. Nhắc đến thi sĩ, không ai tránh khỏi ngậm ngùi cho số phận nghiệt ngã của một thi tài bạc mệnh mà từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi mất, mãi gặp cảnh nghiệt ngã đau thương…

Sau ngày nước thanh bình, bên cạnh những tác giả hiện thực phê phán và hiện thực cách mạng, tác phẩm của những nhà văn, thi sĩ nổi tiếng thuộc dòng văn học lãng mạn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hàn Mặc Tử,… được chính thức giảng dạy ở nhà trường với phần giới thiệu khách quan. Với Hàn Mặc Tử, nhà thơ mới thuộc dòng văn học lãng mạn tiền phong đã có đến hai bài thơ được chọn giảng dạy ở bậc Trung học: Mùa xuân chín (lớp 9) và Đây thôn Vỹ Giạ (lớp 11). Phần lớn những bài thơ của Hàn Mặc Tử gắn liền với hình tượng trăng, và tạo nên giai điệu đặc biệt ở những bài thơ trăng của thi sĩ.

Những bài thơ nói về trăng dạt dào giai điệucủa Hàn Mặc Tửlà Tiếng hát đau thương của nhà thơ tài hoa bất hạnh này.Xưa nay,thi ca (poetry/poésie) vốn đã có sẵnâm ba lên xuống theo sóng hình sin (sinoide) trong từng chữ câu thơ, tạo nên giai điệu(melody/mélodie) như những “ton” cao thấp trong bản nhạc. Điều này càng dễ thấy ở thi pháp Việt Nam qua niêm luật và sáu thanh từ không dấu đến dấu nặng. Dù cuộc đời có nghiệt ngã khổ đau, Hàn Mặc Tử vẫn có những bài thơ vững vàng thi pháp (prosody), tứ thơ rất thâm thúy, nghệ thuật vững vàng và âm điệu phong phú.

Là một trong “Bàn thành tứ hữu” (Bốn người bạn văn ở thành Đồ Bàn),cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên, cùng với Bích Khê (1916-1946), Hàn Mặc Tử là những tên tuổi nổi bật trong phong trào thơ mới, được nhiều người coi là nhà thơ tiền phong của trào lưu thi ca lãng mạn Việt Nam, tiêu biểu cho Trường Thơ Loạn (hay Thơ Điên) màtuyên ngônlàtuyên ngôn là bài tựa tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên.

Bắt đầu sáng tác sớm (năm 16 tuổi), Hàn Mặc Tử đã có bài “Thức khuya” (trong Lệ Thanh thi tập), cùng với các bài: Chùa hoang, Gái ở chùa,… làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật được danh sĩ yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) đề cao, họa lại và giới thiệu đăng báo. Sau khi bị rút lại suất học bổng đi Pháp vì quá thân thiết với nhà cách mạng Phan Bội Châu, Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn (năm 21 tuổi). Ban đầu làm việc ở sở Đạc Điền, tiếp tục làm thơ và viết báo, Hàn Mặc Tử ký với các bút danh: Minh Duệ Thị, Lệ Thanh, Phong Trần, Hàn Mạc Tử rồi sau cùng, nghe theo ý kiến của nhà thơ Quách Tấn, lấy luôn bút danh Hàn Mặc Tử cho đến cuối đời.

Tác giả “Mùa cổ điển” (1) viện lẽ ý nghĩa không ổn của các bút danh trước: Lệ Thanh nghe có vẻ thục nữ yểu điệu, Phong Trần hàm ý cuộc đời gió bụi truân chuyên, Hàn Mạc Tử là kiếp rèm lạnh cơ hàn. Với Hàn Mặc Tử, chỉ anh chàng bút mực tức là khách văn chương nghe được hơn cả.

Sau khi xuất bản tập “Gái quê” (1936), Hàn Mặc Tử đi Huế, Quảng Ngãi rồi dự định trở lại Sài Gòn, khi bà Bút Trà muốn mời Hàn Mặc Tử làm Chủ bút tờ “Phụ nữ Tân văn”, nhà thơ mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Hàn Mặc Tử muốn trị dứt chứng phong ngứa rồi mới yên tâm vào Sài Gòn làm báo. Không ngờ, nhà thơ đã mắc phải bệnh phong cùi. Khi biết mình mắc bệnh nan y, Hàn Mặc Tử bỏ nhà đi thuê một chòi tranh ở Gò Bồi, cách Quy Nhơn mười lăm cây số và bắt đầu không tiếp xúc với bạn bè. Hai năm sau, Hàn Mặc Tử có biểu hiện bị chứng bệnh quái ác đó làm đau đớn dữ dội do người chung quanh nhận xét. Tuy nhiên, bên ngoài, không ai nghe nhà thơ rên rỉ khóc than vì nỗi đau đớn bệnh tật mà Hàn Mặc Tử vẫn âm thầm tiếp tục sáng tác, gởi thơ đăng báo. Có điều người đọc nhận ra ở thơ Hàn Mặc Tử dù chỉ gián tiếp biểu lộ, người đọc vẫn hiểu được lời thơ mô tả nỗi khổ ghê gớm bởi ác bệnh do trực khuẩn Hansen hành hạ nhà thơ. Cũng may, có người em bà con chú bác là Phạm Hành thương anh, bỏ học theo chăm sóc cho Hàn Mặc Tử.

Bên cạnh đó, trong số nhiều phụ nữ được nhắc đến trong cuộc đời tình ái của Hàn Mặc Tử như: Mai Đình, Mộng Cầm, Hoàng Cúc, Ngọc Sương, Thương Thương… cũng có người đến thăm nhà thơ khi vướng bệnh nan y hay làm thơ biểu lộ tình yêu và sự cảm thông của mình với nhà thơ. Nữ sĩ Mai Đình đã dám xông vào con người phong hũi để an ủi Hàn Mặc Tử (@) viết nên những vần thơ vừa tỏ ra hờn ghen bực bội vừa thể hiện nỗi căm giận trời già gieo bệnh nan y cho nhà thơ: “Ai cấm người thơ yêu quá độ/… Và ai đặt chữ tình dang dở/ Mà để so le nghĩa thiếp chàng/ Em muốn phá tan cả đất trời/Cho lòng nhẹ bớt nỗi bi ai/ Thương anh càng thấy căm trời đất/ Gieo bệnh nan y để hại người”(Căm giận). Theo nhà thơ Chế Lan Viên, Mai Đình có tập thơ “Đôi hồn” (chưa in) gồm những bài thơ tình trao đổi giữa chị và Hàn Mặc Tử, sau này đi kháng chiến, Mai Đình là chiến sĩ thi đua, nhận được huy hiệu 10 năm giải phóng của thành phố Hồ Chí Minh. Mai Đình cũng tận tay cầm tặng tác giả “Điêu tàn” một tập Nắng Xuân trong đó có đăng bài thơ “Sao anh không về chơi thôn Vỹ” của Hàn Mặc Tử tặng cho Hoàng Cúc. Còn “chị Hoàng Cúc, không như trong các sách nói là đã đi lấy chồng. Chị Hoàng Cúc vẫn sống độc thân, về sau đi tu. Tập thơ 50 năm xưa chị vẫn giữ, bút tích chị còn giữ, chị còn nhắn tôi “Tôi già rồi, chỉ còn có tập Nắng Xuân đó, anh giữ cho tôi” (Chế Lan Viên). Khi bệnh trở nặng, da mình khô cứng, bàn tay nhăn, Hàn Mặc Tử được đưa vào nhà thương phong Quy Hòa (20/09/1940) và mất vào ngày 11/11/1940) vì mang thêm bệnh kiết lỵ do uống quá nhiều thuốc tạp nhạp của thầy lang, bị hư hỏng tạng phủ.

Cuộc đời nhà thơ chỉ kéo dài hơn thập niên ngắn ngủi, Hàn Mặc Tử vẫn lưu lại trên văn đàn hậu thế một sự nghiệp văn chương quý giá. Từ những bài thơ Đường luật đầu tiên đến thơ mới làm theo nhiều thể loại về sau, Hàn Mặc Tử đã thể hiện một phong cách mượt mà tài hoa với thi tứ sâu sắc, ngôn ngữ trau chuốt và bút pháp không kém phần điêu luyện.

Tĩnh lặng dạo bước vào vườn thơ Hàn Mặc Tử, ta có thể nhận ra đầu tiên là tâm sự cô đơn, nỗi buồn thân thế cùng tấm lòng lo nước thương đời của một hàn sĩ trong cảnh quốc phá gia vong,trước thiên nhiên tạo vật vô tình: “Non sông bốn mặt ngủ mơ màng/ Riêng một mình ta dạ chẳng an/ Bóng nguyệt leo song, sờ sẫm gối/ Gió thu lọt cửa, cọ mài chăn/ Khóc giùm thân thế, hoa rơi lệ/ Buồn giúp công danh, dế dạo đàn/ Trổi dậy nôm na vài điệu cũ/ Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn”. (Thức khuya) (2). Bài thơ Đường này nổi trội ưu điểm ở nội dung thâm thúy và niêm luật vững vàng, kết hợp với ngôn ngữ tượng hình (sờ sẫm, cọ mài), hình ảnh chọn lọc (bóng nguyệt, gió thu, hoa, dế), tu từ nhân hóa (leo song, sờ sẫm…; hoa rơi lệ, dế dạo đàn vừa ví von mà pha hơi sex đọc rất thú vị, không gợn chất tục thường tình. Dù vậy, người đọc vẫn bắt gặp cường độ sex mạnh hơn cả Hồ Xuân Hương ở vài bài thơ khác của thi sĩ: “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi/… Ô kìa bóng nguyệt trần truồng lắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” (Bẽn lẽn).

Khi bệnh phong cùi trở nặng, Hàn Mặc Tử bắt đầu sáng tác những bài thơ tràn ngập màu trăng. Thực thể trăng hiện diện qua vần điệu của Hàn Mặc Tử không giống với ý nghĩa trăng trong thơ kim cổ đông tây. Nó không là màu trăng ủ dột mơ màng của rừng thu vàng úa trong thơ Lưu Trọng Lư: “Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức” (Tiếng thu) hoặc vầng trăng mơ cô lẻ u hoài của những nghệ sĩ lãng tử, sông hồ rày đó mai đây như Nguyễn Bính: “Đêm nay trăng rụng về bên ấy/ Gác trọ còn nguyên gió thất tình” (Một mình) hoặc vầng trăng phân ly xa cách của Nguyễn Du “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều). Cũng hoàn toàn không có điều tương hợp gì với vầng trăng thu thanh bình tươi đẹp của núi rừng Việt Bắc qua hoài niệm thương nhớ ân tình trong thơ Tố Hữu: “Rừng thu trăng rọi hòa bình/ Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” (Việt Bắc). Cũng không là vầng trăng hồn nhiên diễm lệ được nhà văn Pháp Chateaubriand (1768-1848) ca ngợi trong những trang văn đẹp đã coi trăng là bà hoàng của đêm đen (la reine de nuit), chú quạ vàng (le corbeau d’or) hay hành tinh cô độc (l’astre solitaire).

Trăng của Hàn Mặc Tử cũng chẳng phải là màu trăng buồn cổ tích, huyền thoại một thời chinh chiến xa xưa trong thơ Vương Hàn (687-735): Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại hàn san tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Phong Kiều dạ bạc)- Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi/ Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn san (Tản Đà dịch thơ). Lẽ đương nhiên, ta chẳng bao giờ tìm thấy trong thơ Hàn Mặc Tử một bóng trăng nguyên thủy đẹp tươi, rạng rỡ cói ngời ánh sáng lạc quan giống như những vần thơ kháng chiến của Hồ Chủ tịch: “Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này” (Cảnh rừng Việt Bắc) hay “Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Đi thuyền trên sông Đáy – Xuân Thủy dịch thơ).

Ở ngòi bút thơ tài hoa của Hàn Mặc Tử, đọc giả yêu thơ chỉ nhận được nỗi đau thương ghê gớm của nhà thơ thể hiện một cách gián tiếp sâu xa qua sự diễn tả chi tiết môi trường biểu trưng cho ác bệnh cùng tất cả nỗi dằn vặt đau thương dữ dội ở nhà thơ: “Gió rít tầng cao, trăng ngã ngửa/ Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô/ Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra” (Say trăng). Dường như trăng là cơ duyên, là vàng, là ngọc khiến Hàn Mặc Tử say thơ và làm thơ: “Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt/ Như đón từ xa một ý thơ/… Cả trời say nhuộm một màu trăng” (Đà Lạt trăng mờ). Dù thể xác đau thương, nhà thơ vẫn xem trăng là “trăng vàng, trăng ngọc”, khát thơ tác giả muốn uống cả trăng: “Có ai nuốt ảnh trăng vàng” (Uống trăng), trong yêu đương cũng chờ ánh trăng lên cho tình ái thêm nồng nàn “Yêu đương rót nước để chờ trăng lên” (Uống trăng) … Cả vũ trụ bao la quanh nhà thơ nhất thể đều là trăng “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…/ Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…” / “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!…” (Trăng vàng Trăng Ngọc).

Minh Thư

Chưa dừng, trong đau thương, Hàn Mặc Tử coi trăng là nguồn cảm hứng duy nhất để nhà thơ gieo vần; ca ngợi cảnh đẹp Đà Lạt (Đà Lạt trăng mờ, Trăng vàng trăng ngọc.), say trăng, coi trăng như người yêu: “Tôi ưng quá, tôi ưng nàng/ Nàng xa xa lắm, ơi nàng Trăng ơi !” (Ưng trăng). Rồi cả miệng đầy Trăng (Một miệng Trăng), trong đê mê cảm xúc hay đau khổ tột cùng, nhà thơ muốn Rượt Trăng đòi Ngủ với Trăng), đòi sở hữu trăng riêng là của mình: ” Ô hô! Ta đuổi theo trăng! Ta đuổi theo trăng!/Trăng! Trăng! Trăng! Trăng! Trăng! …/ Hãy buông nàng xuống cho ta ẵm bồng” (Rượt Trăng)… Cả tập tùy bút đầy chất thơ “Chơi giữa mùa trăng” kể chuyện hai chị em Hàn Mặc Tử đi chơi thuyền giữa mùa trăng, thế giới du trăng cũng tràn ngập ánh trăng vàng huyền diệu… Là con chiên ngoan đạo, Hàn Mặc Tử có những vần thơ tôn giáo ca ngợi trăng cao: “Lạy Chúa tôi, vầng trăng cao giá lắm/ Xin ban ơn bằng cách sáng thêm lên” (Vầng trăng), / ” Cho lòng tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm” (Ave Maria).

Điệp khúc Trăng thật triền miên vô tận, hiển thị từng nhịp theo giai điệu biến hoá đặc thù trong tư duy, cảm nhận của nhà thơ như chẳng bao giờ dứt, Hàn Mặc Tử rõ là đã qua mặt ông Hoàng thơ tình Xuân Diệu về phép chơi tu từ điệp ngữ về trăng: “Trăng rất trăng là trăng của tình duyên” (Ca tụng- Xuân Diệu).

Đốt lò hương cũ để tưởng nhớ đến người xưa, các nhà văn học có lý khi xếp Nguyễn Trọng Trí vào làng “thơ loạn” hoặc “thơ điên” bằng cách dựa vào thân thế và sự nghiệp của người thơ tài hoa bạc phận này. Chính Hàn Mặc Tử cũng tự nhận như vậy qua bức thư gửi cho một bạn văn: “Trí đã phát hiện tinh lực của hồn, của máu bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc, đồng một quan điểm với Baudelaire (4). Trí đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội”. Do vậy, cuộc đời và thi ca Hàn Mặc Tử quả là đã không thiếu những yếu tố tiêu biểu trên, trong đó trăng là hình tượng nghệ thuật trung tâm, hiện hữu với nhiều tính cách đặc thù. Trong những bài thơ xuất sắc của Hàn Mặc Tử mô tả nỗi đau cùng cực của nhà thơ, hình ảnh Trăng đã xuất hiện theo giai điệu đa âm đa dạng do hoàn cảnh bệnh tật nghiệt ngã của nhà thơ. Dường như, sự đau đớn vì bệnh ác càng dâng lên đỉnh điểm thì nguồn thơ càng sung mãn, chín muồi thêm để thi sĩ nhả ra những sợi tơ vàng, như một nhà thơ Pháp từng nói: “Những tiếng ca tuyệt vọng là tiếng ca hay nhất” (Les plus désespérés sont les chants les plus beaux – Alfred De Musset).Hiểu rõ hoàn cảnh và nhận xét xác đáng về Hàn Mặc Tử, người bạn thơ cùng nhóm của mình,Chế Lan Viên đã viết: “Cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ không bi qua mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng”.

*(1) Quách Tấn, nhà thơ Đường nổi tiếng

(2) Bài thơ họa lại của Phan Bội Châu, theo thiển ý không nên xếp ngang hàng được với bài xướng.

Trong bài thơ “La mort du Pélican” (Cái chết của con chim bồ nông) – A. de Musset

(4) Baudelaire (1821-1867): nhà thơ tượng trưng Pháp (Poète symboliste), tác giả “Fleur du Mal” (Ác hoa )

(@) Chế Lan Viên: “Bài thơ thôn Vỹ – Thơ viết về Huế trước 1945” – Sông Hương,)

Biểu Tượng “Trăng” Trong Thơ Hàn Mặc Tử

BIỂU TƯỢNG “TRĂNG” TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Trải qua một thời kỳ khá dài trong lịch sử văn học trung đại, thơ ca không thể thoát ra khỏi những quy phạm chặt chẽ của thể loại. Và phải đợi đến những năm 1932 – 1945 của nền văn học Việt hiện đại, thơ ca mới có bước bứt phá làm chuyển động, rạn nứt cả hệ thống nền tảng kiên cố về thi pháp thể loại. Phải nói rằng, Việt tự hào về một thời đại thơ ca có một không hai trong lịch sử nước nhà. Một thời đại mà Vũ Ngọc Phan đã hãnh diện khi đưa ra nhận định: mười năm của ta bằng mấy mươi năm của người. Vì thế, trong rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đều đi đến một kết luận: Phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ ca, mang một quan niệm hoàn toàn mới mẻ, quan niệm về cá nhân, cái tôi biểu hiện với một tinh thần duy lý phương Tây. Thơ mới ra đời đã xóa đi luật lệ xưa cũ cứng nhắc, trên tinh thần đổi mới toàn diện. Thơ mới đã sáng tạo ra những thể thơ mới và cải tạo, nâng cấp các thể thơ truyền thống. Nói đến sự thành công rực rỡ của thơ mới là phải nói đến sự nhiệt thành, tâm huyết, say mê lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ, với mong muốn mang lại diện mạo mới cho nền văn học nước nhà.

Trong khoảng thời gian ra đời, phát triển và suy thoái của mình, phong trào thơ mới đã tồn tại nhiều trường phái sáng tác: Lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, … Với những đại biểu xuất sắc như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, LeiBa, … . Trong số đó nhà thơ mới Hàn Mặc Tử được xem là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt nhất trong phong trào thơ mới. Từ Gái quê, Lệ thanh thi tập, Đau thương đến Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội (kịch thơ), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuô i) chỉ trong vòng từ 1935 – 1940 ông đã làm một cuộc hành trình văn học bằng một thế kỷ, mở đầu là thơ bát cú đường luật và cuối cùng là những bài thơ chứa đựng nhiều yếu tố tượng trưng, siêu thực. Một điều đặc biệt hơn nữa là mỗi tập thơ của ông để lại gắn liền với từng giai đoạn, biến cố của cuộc đời. Với Gái quê mọi thứ đều dịu dàng, mơ mộng, chấ t phác, trẻ trung thì Đau thương mọi cảm quan trong Gái quê hoàn toàn tan biến bù lại đó là những hồn, máu, trăng, một tâm hồn bị ám ảnh bởi bệnh tật. Đau thương không còn chứa đựng những yếu tố lãng mạn, hồn nhiên như trong Gái quê mà chứa đầy những yếu tố siêu thực, tượng trưng. Đến Xuân như ý, Thượng thanh khí thì hồn thơ của thi sĩ càng ngày càng xa khỏi thế gian và mọi thứ tình tứ của đời thường với một lối thơ bí hiểm khó mà suy nghiệm cho ra nghĩa. Thơ ông bám chặt với cuộc sống trần thế đầy đau khổ, bệnh tật nhưng lại có một sức hút kỳ diệu. Qua các tập thơ, người đọc nhận ra thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới khác thường, đau đớn, quằn quại, khát khao sống với những Hồn – Máu – Trăng. Vì thế, Hồn – Máu – Trăng cứ trở đi trở lại trong thơ ông với một cường độ dày đặc, nó như là biểu tượng cho sự sống còn của sự nghiệp sáng tác của chính thi sĩ. “Hàn Mặc Tử là nhà thơ viết rất nhiều, rất hay và rất say về trăng. Trăng trong thơ ông kỳ ảo, biến hóa vô cùng và có khi như là ý nguyện tha thiết muốn vươn tới cái đẹp, cái hoàn mỹ mà không đạt được” [3, Tr 10]. Đọc thơ ông ta mới thấy được hàng loạt những ý niệm qua hình tượng trăng.

1.2. Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi nó là một khái niệm chứa đựng nhiều bí ẩn và mang trong bản thân nó cả trường ý nghĩa. Trên thực tế, khái niệm này là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau.

Như vậy, hiểu một cách đơn giản và ngắn gọn thì Biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng, có ý nghĩa rộng lớn hơn chính bản thân nó. Mỗi biểu tượng phải khái quát được một phạm vi bao quát rộng lớn những hiện tượng, sự vật trong cuộc sống. Nếu biểu tượng không mang lại cho ta một ý nghĩa rộng hơn “cái biểu đạt” thì nó được coi là những hình ảnh thuần túy mà thôi chứ không được coi là biểu tượng. Hơn nữa, ý nghĩa của biểu tượng phụ thuộc vào biên độ và khả năng sáng tạo của nhà thơ.

Bàn về biểu tượng thơ Hegel cho rằng : “Biểu tượng nên thơ là một biểu tượng có hình tượng, bởi vì biểu tượng nên thơ không phải phơi bày trước mắt ta bản chất trừu tượng của cái hiện thực cụ thể”. Vì lẽ đó mà trong thơ ca biểu tượng đóng một vai trò hết sức to lớn. Biểu tượng giúp người nghệ sĩ thể hiện một cái gì đó ngoài bản thân nó, lớn hơn ý nghĩa thông thường của nó. Đồng thời, nó mang phong cách độc đáo và dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ.

Với quan niệm: Sáng tạo thơ là hành động nhà thơ đi vào trong cõi mơ ước, trong “huyền diệu”, trong “sáng láng” và vượt hẳn ra ngoài cõi “hư linh”. Đó là một thế giới “siêu thần”, một cõi “tiềm thức”, những bờ bến xa lạ của “cảm giác”. Đồng thời, đó còn là “một cõi vô hình cao tột bậc được xây dựng bởi trăng sao”. Và để đến được với cõi thế giới bí ẩn và xa lạ ấy thì không chỉ được cảm nhận bởi giác quan thông thường mà phải thông qua các biểu tượng và sự tương ứng với các giác quan. Vì thế, khi tiếp cận với thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta bắt gặp những hình tượng nổi bật như Hồn – Trăng – Máu. Những biểu tượng này xuất hiện với một cường độ dày đặc và thường xuyên trong suốt hành trình sáng tác của thi sĩ họ Hàn. Trong số đó, Trăng là biểu tượng độc đáo và kỳ dị nhất. Nó được phóng chiếu từ nhiều góc độ và mang một “phong cách” trăng rất riêng, rất khác lạ. Vì thế có người đã từng viết: Trăng, Hồn, Máu không còn là những ý niệm trừu tượng, chúng là những hình hài đầy nhục cảm, những linh hồn đầy đau thương. Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa là một cách giãi bày “chân thành” như cách nghĩ thông thường về thơ trữ tình, những hình tượng này là sự “thoát xác”, vượt ra ngoài cái thân thể hạn hẹp, cố định để sống tột cùng trong những cuộc đời khác, những cảm giác khác. Bản thân hồn cũng là một sinh thể, tách biệt với thể xác, là một “kẻ lạ” với thể xác và trong hồn không ngừng chia tách những linh hồn mới. Nếu hồn ứng với tinh thần, thì máu ứng với thể xác con người, với sức nóng và sự sống vượt trội.

Chúng ta biết rằng, hình ảnh trăng là đối tượng được nhiều thi nhân ở mọi thế hệ, mọi thời đại lĩnh hứng, miêu tả dưới nhiều bình diện khác nhau. Ở mỗi nhà thơ trăng mang một vẻ đẹp, một nỗi niềm riêng. Trăng trong thơ Nguyễn Du gợi tình, gợi cảnh. Trăng trong thơ Xuân Diệu đem lại cảm giác bâng khuâng nhẹ nhàng cho người đọc. Còn với trăng trong thơ Hàn Mặc Tử là cả một thế giới đầy bí ẩn, dị thường. Trăng có lúc được ẩn dụ, lúc được nhân hóa làm cho nó mang một phong cách độc đáo và khác lạ, kiểu như:

Trăng nằm sòng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi

Bản thân hình ảnh trăng cũng là một biểu tượng đa nghĩa. Xuất phát từ những đặc tính tự nhiên, là thiên thể ban đêm, trăng thường gợi nên hình ảnh của cái đẹp, của ánh sáng trong khoảng không mênh mông tăm tối. Và nó cũng chính là biểu tượng của cái gì đó siêu thoát bên ngoài mà con người không thể vươn tới.

Bên cạnh đó, Hồn cũng là một hình ảnh đầy ấn tượng và kỳ lạ. Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện với một tần số khá cao (62 lần) và có sức ám ảnh mạnh mẽ. Trong suốt hành trình thơ Hàn Mặc Tử chúng ta thấy biều tượng Hồn xuất hiện như một nỗi ám ảnh đến rợn người, khó nắm bắt. Chính nó cũng đã làm cho thi nhân phải thốt lên:

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng

Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay

Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc”

Theo quan điểm của tôn giáo, hồn là một thực thể tinh thần thiêng liêng và là phần quý giá nhất của con người. Khi con người chết đi thì linh hồn sẽ kìa khỏi thân xác và không bao giờ bị phân hủy như thể xác. Điều này được thể hiện rất rõ trong bài Hồn lìa khỏi xác:

…Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã

Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa

Hồn mất xác hồn sẽ cười nghiêng ngã

Và kêu rên thảm thiết khắp bao la

Ôi! Hồn thiêng không hề chết đặng

Làm sao hồn chẳng hiểu nghĩa vô biên

Ngày tận thế là ngày thôi tán loạn

Xác của hồn, hồn của xác y nguyên

Hồn là biểu tượng của sự sống, nó hội tụ đầy đủ đặc điểm của một con người và là phần không thể thiếu để làm nên con người. Vì thế, nó có mối liên hệ ràng buộc với sinh mệnh. Trong nỗi đau đớn đến tột cùng khi nhà thơ đang cận kề với cái chết, đang phải đối diện với giờ hấp hối sắp chia phôi thi sĩ Hàn đang đón đợi, cầu xin một sự tưởng nhớ rất chân thành:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây

Còn em sao chẳng hay gì cả?

Xin để tang anh đến vạn ngày

Xa lìa thể xác, hồn vượt ra ngoài vũ trụ để đi tìm Hương cho thơm ứ đầy hơi khoái lạc, để được Tắm gội ở trong nguồn ánh sáng và ca những điệu ngọc vàng sang sảng:

Hồn hỡi hồn, lên nữa quá thinh gian

Tìm tới chốn chiêm bao ngoài sự thực

Hồn hỡi hồn, bay ra ngoài kia mức

Nơi thiên sầu địa thảm giới Lâm Bô

Say máu ngà, say nữa tới chừng mô

Cả vũ trụ tan theo ngày phán xét

Là khủng khiếp cả đất trời tiêu diệt…

Nỗi đau khổ vì bệnh tậ dày vò đã hành hạ thân xác thi sĩ nhưng chính nó

lại cung cấp cho nhà thơ một năng lực sáng tạo vô biên.

Với Hàn Mặc Tử, Tôi làm thơ?

Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật …

Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Có ai ngăn cản được lòng tôi?

Chính quan niệm đó đã khơi nguồn cho một biểu tượng khác vốn được xem là khá thành công và độc đáo trong thơ ông – đó chính là biểu tượng máu, động lực thúc đẩy sự sáng tạo.

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt

Như mê man chết điếng cả làn da

Máu – biểu tượng của sự ám ảnh triền miên, dâng trào tràn ngập cả hồn thơ. Nó cuộn chảy tuôn trào trong thân xác nhà thơ, trong sự đau đớn đến tột cùng đã ngưng tụ lại, đọng thành vũng rồi tan chảy trong sự sáng tạo:

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh

Lời thơ ngậm cứng không rền rỉ

Mà máu tim anh vọt lai láng

Chính sự đau đớn, hoảng loạn, tuyệt vọng này đã khiến cho nhà thơ phải thốt lên:

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Máu cũng chính là thứ tinh lực được vắt kiệt để dâng tặng cho thơ, cho đời.

Xinh dâng này máu đang tươi

Này đây nước mắt giọng cười theo nhau

Thơ Hàn Mặc Tử chính là những bông hoa nở trong màu huyết:

Lá trên cành héo hắt, gió ngừng ru Một khối tình nức nở giữa âm u Một hồn đau rã lần theo hương khói Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi Một lời run hoi hóp giữa không trung Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn (Trường Tương Tư)

Những biểu tượng Trăng, Hồn, Máu là sự tượng hình hoá tình trạng “cả thể xác lẫn linh hồn tan rã” của Hàn Mặc Tử . Hay nói cách khác, đó chính là sự phân rã của bản thể người trong một cảnh ngộ bi đát. Bị “cầm tù” trong những dày vò cùng cực cả về thể xác lẫn tinh thần, sự phân rã này là một tất yếu mang tính bi kịch, nó tô đậm hơn nỗi đau thương của thi sĩ Hàn Mặc Tử, nhưng đồng thời, đó cũng chính là một hành động giải phóng và tự giải phóng. Từ đây, Hàn Mặc Tử có thêm bạn đồng hành, cũng là những phương tiện để soi ngắm thế giới trong một cảm quan và một chiều kích mới.

1.4 Biểu tượng “Trăng” trong thơ Hàn mặc Tử

1.4.1 Trăng – biểu thị nỗi khổ đau cùng tận

Có thể nói Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một “linh vật” rất huyền nhiệm, kỳ lạ. Dưới mắt ông, Trăng là một thực thể có linh hồn. Chừng như ông nghe được hơi thở, bước đi, sự chuyển dịch của bóng trăng. Đồng thời, Trăng như là “người” thấu hiểu tất cả nỗi đau đớn trong lòng thi nhân và cả những tâm tư tình cảm. Trăng như là hình tượng không thể thiếu trong văn học từ xưa tới nay: Trăng như là nhân vật chứng kiến mọi biến động của xã hội, đồng thời còn là nơi để cho con người thổ lộ mọi tâm trạng, mọi nỗi niềm.

Vầng Trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song

Rồi trăng trong thơ Trung đại:

Nữa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

(Truyện kiều – Nguyễn Du)

Đến thời hiện đại, trăng cũng là một nhân vật không thể thiếu của các nhà văn, nhà thơ. Trăng như là trung tâm điểm để cho các thi sĩ khai thác, đào bới dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Với Xuân Diệu, trăng như một vật chứng chứng kiến tình yêu của hai người:

“Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

Tôi đi với người yêu qua nhè nhẹ…

Im lìm, không dám nói năng chi”

Còn với Đoàn Thị Lam Luyến, Trăng được hình tượng hóa như là người tình luôn đồng hành cùng thi nhân.

Đầy vơi con nước vì Trăng đấy

Biển đã duềnh lên, biển bạc đầu

Ai biết mối tình thiên niên kỷ

Ta là Trăng – Biển tự trong nhau

Nhưng với Hàn Mặc Tử thì khác, Trăng trong thơ ông chính là Hồn và Máu của ông. Hàn Mặc Tử đã phải sống trong những cơn đau triền miên khủng khiếp, một nỗi đau rùng rợn đến vô biên. Vì thế nhà thơ muốn:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm

Cho trăng ngập dần lên tới ngực

Thơ ông là những dòng đầy máu lệ, đầy tiếng gào thét. Chính “Trăng, ánh trăng đã để lại những cảm giác vật chất lên thân xác Hàn Mặc Tử” [1; Tr 229]. Điều đó cho chúng ta thây, trăng trong thơ ông có tính chất hai mặt: vừa vật chất vừa tinh thần, vừa trần tục lại vừa thiêng liêng. “Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người…” [1; Tr 206]. Nhà thơ đã không thể thoát ra khỏi sự ám ảnh ghê gớm của nó, lúc nó tối tăm, lúc nó chói lòa như hai mặt đối lập của Thiêng đàng và Địa ngục. Trong một Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng. Rồi Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ/ Đầy mình lốm đốm những hào quang.

Chính cái sự đau đớn về thể xác, bệnh tật đã khiến cơ thể ông hao gầy, suy nhược nhưng đó lại là dòng suối khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạo vô biên. Ở Hàn Mặc Tử, đau thương đồng nghĩa với sáng tạo, nó như là phương tiện để đưa nhà thơ lên đến cung bậc cao nhất của nghệ thuật.

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Trăng như một cái gì đó hữu hình song hành cùng nhà thơ để cho nhà thơ được nuốt, được uống, được ngậm rồi giao hoan cùng nó, hóa thân vào nó:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mữa máu ra

Sự đau đớn, dày vò về thể xác bởi căn bệnh quái ác đã có lúc khiến cho nhà thơ không còn nhận thức được sự sáng tạo nghệ thuật của chính mình: Tôi điên tôi viết như người dại/ Vang lạnh không gian xóa những ngày. Ông quan niệm nhà thơ như một vị “trích tiên” bị đày đọa xuống cõi bơ vơ lạc lõng và phải chịu một thứ “Định mệnh tàn khốc theo riết bên mình”. Và thơ “là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ”. Đã có lúc nhà thơ như một người hoảng loạn, vô ý thức:

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên

Nhảy ùm xuống giếng vớt trăng lên

Chắp tay tôi lạy cả miền không gian

Tuy nhiên chúng ta cần phải biết rằng “điên” ở đây không phải là một trạng thái bệnh lý mà là sự thăng hoa cao độ của sự sáng tạo nghệ thuật. Ở trạng thái đó, con người rơi vào trạng thái xuất thần, vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý trí. Đã có lúc nhà thơ lại đoạn tuyệt với trăng, lạnh lùng rao bán như một vật phẩm có trong tay:

Trăng! Trăng! Trăng! Là trăng, Trăng, Trăng!

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Hình ảnh trăng đã được nhà thơ làm mới đi, mang một phong cách độc đáo và lạ lùng, trăng như một thứ định mệnh gắn kết với nhà thơ. Trăng nhiều lúc lẫn trong máu huyết, lai láng gợi cảm giác ớn lạnh. Trăng thực sự trở thành biểu tượng của một sự thác loạn tâm hồn. Nó chính là biểu tượng của sự đau khổ khi con người uất ức đến tuyệt đỉnh, nó như là vực thẳm đày đọa tâm hồn thi sĩ. Và Máu – Hồn – Trăng chính là hiện thể của đau thương, của nỗi đau khổ trần gian và kiếp người mà thi sĩ phải chịu nhận.

1.4.2 Trăng – biểu thị nỗi cô đơn tuyệt đối

Hẳn ai cũng biết rằng, thi sĩ trẻ Hàn Mặc Tử đã phải sống một cuộc sống cuối đời đầy đau khổ, cô đơn. Với cái tuổi ngoài đôi mươi mà thi sĩ phải sống cách ly với gia đình, xã hội và ngậm đắng đón chịu những trận dày vò về thể xác của bệnh tật. Đặc biệt là sự tha thiết yêu đương mà phải cách ly với cả người yêu nhưng vẫn một lòng yêu người chung thủy. Đau khổ hơn nữa là đang ở độ tuổi xuân xanh, tràn đầy sức sống mà phải mà phải chịu cảnh không biết sống chết ngày nào, thậm chí giờ phút nào, trong thân hình “tan rữa” vì bệnh tật . Hàn Mặc Tử cảm thấy ghê sợ nỗi cô đơn của một con người bị tách khỏi đồng loại: Chao ơi! Ghê quá trong tư tưởng Một vũng cô liêu cũ vạn đời! Trong cảnh cô đơn tuyệt vọng ấy, nhà thơ khao khát đón nhận những tín hiệu yêu thương cứu giúp của mọi người:Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả Hay: Với sao sương, anh nằm chết như trăng Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rửa vết thương lòng.Một mai kia ở bên khe nước ngọc (Duyên kỳ ngộ)

Cái xa cách, nỗi cô đơn, tuyệt vọng đó đã khiến cho nhà thơ phải thốt lên:

Và cũng chính hính sự khao khát đó lại càng tạo nên cảm giác bơ vơ, vắng bặt, càng làm cho nhà thơ có cảm giác như đang sống trên một ốc đảo giữa biển vắng đại dương mênh mông:

Rồi chính trong nỗi lòng tê lạnh thiếu vắng tình đời đó nhà thơ phải tự đối thoại với chính tâm hồn mình, xem đó như là một lẻ sống ở đời của bản thân:

Sự cô đơn mà thi sĩ Hàn phải gánh chịu chính là những chuỗi ngày dài đau khổ và thương khó. Trăng không còn nguyên vẹn tròn trịa, không còn thơ mộng như trong thơ lãng mạn mà trăng đã bị khuyết, bị cắn vỡ:

Thi sĩ Hàn đã cố gắng đến cùng để diễn tả chân thực những biểu hiện tinh vi trong thế giới tâm linh của mình nhưng càng đi sâu vào vực thẳm không cùng đó, thi sĩ càng đi xa và tạo nên một sự khác biệt đối với mọi người. Và chính cái sự khác biệt này lại làm nên một phong cách thơ độc đáo, một “hồn thơ dị biệt” Hàn Mặc Tử. Vì thế mà Chế lan Viên đã từng nói: “Tôi có thể cam đoan với các người rằng, tất cả những cái gì tầm thường hiện thời rồi sẽ tan biến hết, và sau này trong tương lai còn lại một cái gì của thế hệ chúng ta đang sống, đó là thơ Hàn Mạc Tử”

1.4.3 Trăng – người bạn tâm giao và nguồn sáng tạo vô biên

Có thể nói Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một người bạn đồng hành với mọi biến cố trong cuộc đời ông. Và chưa bao giờ người ta thấy trong một tập thơ tràn ngập cả ánh trăng như trong thơ Hàn Mặc Tử: Trăng đẹp, Trăng lung linh huyền ảo đi cùng với “Trăng điên”, “Trăng hủi”. Với Hàn Mặc Tử Trăng tồn tại và xuất hiện ở khắp mọi nơi.

“Không gian tràn ngập toàn trăng cả

Tôi cũng Trăng mà nàng cũng Trăng”

Hàn Mặc Tử có 5 tập thơ chính thì đã có đến 3 tập nói về Trăng, viết về Trăng. Riêng tập “Thơ điên” có đến 16 bài viết về Trăng, ngạc nhiên hơn nữa là chỉ có một bài thơ Trăng vàng Trăng ngọc có tất cả 15 câu mà có đến 28 lần nhắc đến Trăng. Hay như bài Rượt Trăng có đến 17 từ Trăng thay phiên nhau tỏa rọi trong thơ.

“Trăng bay lả tả ngã lên cành vàng

Tới đây là nơi tôi được gặp nàng

Rủ rê, rủ rê hai đứa tôi vào rừng hoang

Tôi lượm lá trăng lâm chiếu trải”

Trăng như một người bạn tri kỷ theo suốt thi sĩ trong mọi quá trình, mọi biến cố. Đặc biệt Trăng như một người bạn tâm giao, người bạn tình về đêm của nhà thơ. Trăng là một thứ ánh sáng vừa của nội tâm, vừa của ngoại giới. Trăng chính là nơi để nhà thơ trút bầu tâm sự, để được “điên” cùng Trăng, để được “hạnh phúc” cùng trăng

“Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy

Cho nên muôn dặm ở ngoài kia

Em đang mong mỏi, em đang nhớ

Bứt rứt lòng em muốn trở về”

Bên cạnh Trăng là người bạn tâm giao với những vẽ đẹp lung linh thì Trăng còn có những “hành động” lạ:

“Ánh trăng mỏng quá không che nỗi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ”

Trăng đang nằm trên sóng cỏ

Trăng lại đẫm mình xuống nước

Trăng nước đều lặng nhìn nhau

Bên cạnh đó, Trăng còn được miêu tả như là người bạn tri kỷ, tâm giao, có cảm xúc, biết tâm tình, chia sẻ, biết “lã lơi”, biết gào thét:

“Ta gặp nàng Trăng ở suối Trăng

Nỗi lòng ta mở lẹ như Trăng

Sáng trưng sáng cả vùng tiên động

Ta ngắm hồn ta sang trẻ măng”

Trăng còn có sự “Lã lơi”, một hành động gợi tình “rất người”

“Trăng nằm sòng soãi trên cành liễu

Đội gió đông về để lã lơi”

Rồi Trăng uốn mình như thiếu nữ, quỳ sấp mặt theo dáng liễu như đang gợi tình:

“Bỗng đêm nay trước cửa bóng Trăng quỳ

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”

Bên cạnh đó, trăng còn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô biên, là nguồn cội của tuổi thơ. Đối với Hàn Mặc Tử, ngay từ thủa nhỏ, trăng đã thoát khỏi tất cả những ý nghĩa thông thường mà chúng ta thường gán cho vầng trăng, ánh nguyệt. Trăng trở thành thơ, trăng trở thành nhạc. Trăng là thơ và là nhạc ở thi sĩ Hàn đã có ngay từ những suy nghĩ đầu tiên của tuổi thơ. Và khi lớn lên, trăng sẽ là chia ly, đau khổ, là cõi siêu hình, là sự rung động tận cùng trong mọi tạo tác.

Trong bài thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng có thể coi là bản tuyên ngôn thơ của Hàn Mạc Tử, thi sĩ coi trăng như một thực thể sáng tạo thơm thơm và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều tiếng nhạc say say gió xé rách lả tả… Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một ai thấy rõ sức rung động. Nghiã là trăng rằm trung thu : :”Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, một đêm siêu hình vô lượng, tượng trưng của một mùa ao ước xây bằng châu lệ, làm bằng chia ly, và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chán chê”

Như vậy chúng ta thấy, Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một nhân vật không thể thiếu để tạo ra câu chuyện, để thổ lộ tâm tình. Trăng hóa người rồi đến người hóa Trăng, tất cả không ngoài mục đích tạo nền tảng cho thi sĩ trút bỏ nỗi lòng mình. Trăng có đủ ngoại hình, có đủ đặc điểm, tính cách như một nhân vật. Đồng thời “Trăng cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và náo nức dục tình” (1; tr 206). Và trăng còn là người bạn khơi nguồn sáng tạo những vần thơ vô biên cho chính nhà thơ.

Với một thời gian ngắn hoạt động trên văn đàn, Hàn Mặc Tử đã chuyển từ cổ điển, lãng mạn sang tượng trưng, siêu thực, góp một phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa thi ca nước nhà. Thơ Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng đậm nét của ông tổ trường phái tượng trưng Bauderlaire. Vì thế khi đọc thơ ông người đọc như bị hòa lẫn vào những trạng thái cảm xúc tột cùng, như bị lạc vào một thế giới mơ hồ, huyền ảo, nửa hư nửa thực không phân định cùng với một lối thơ Không rên siết là thơ vô nghĩa lý. Trong thế giới thơ ấy cái tôi thi nhân rã rời thành muôn mảnh Trăng – Hồn – Máu và chính nó đã trở thành biểu tượng nghệ thuật thường trực, bất biến trong thơ thi sĩ Hàn.

1.Hoài Thanh, Hoài Chân (2008), Thi nhân Việt Nam,Nhà Xuất bản Văn hóa.

2.Phan Ngọc (2003), Hồn thơ thế kỷ, Nhà Xuất bản Văn hóa.

3.Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam, Nhà Xuất bản Giáo dục.

4. Hàn Mặc Tử tác phẩm và lời bình (2007), Nhà Xuất bản Văn học

5. Tuyển tập mười năm tạp chí và tuổi trẻ (2004), Nhà Xuất bản Giáo dục.

Lời Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ (Hàn Mặc Tử)

duyên kỳ ngộ

Tiếng Suối Reo

Đâu gió lên tầng mây che mắt lạTa muôn năm len lỏi ở Đào NguyênNước trong sáng lòng ta thơm vô giáSao không ai đi lạc tới non tiên?

Để ta dâng, ta mời ai giải khátNếm cho bưa mùi vị nước trường sinhỒ tiếng tiêu đâu bay ra man mácKhiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.

Lời Chim Phụ Họa

Tiếng tiêu nao từ phương xa bay vẳngTiếng thanh thanh mà rất mực tương tưXuân đây rồi lan tràn như bóng nắngTa nên bay cho khỏi vướng sầu u.

Vàng bay theovàng đuổi theo vàng bayTIếng vàng này vừa mê vừa sayDồn qua phương đông mặt trời chưa nóngDồn qua phương tây màu sắc hây hây

Ta là khúc Phượng Cầu Hoàng năm trướcĐem ân tình rải khắp cả trời duyênCho Quân Thụy lấy nàng Thôi thuyền quyênXuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước.

Song le Nàng vẫn luôn luôn cách biệtBến Ô Giang lành lạnh khúc thầm thươngTa vẫn còn ngân bao lời tha thiếtTrong nắng mai dìu dịu mối sầu vương.

Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướmAi đưa ta lạc đến nước non nàyMùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớmCùng tiếng tiêu đồng hợp chất nồng say

Đến đây rồi ta mơ niềm hận cũĐã bao năm nào thấy bóng giai nhânHoa lá bỗng xôn xao tìm lấy thúTrong khi này lừng lẫy nhạc tường vân.

Lời Suối Reo

Ồ sự lạ muôn đời thế kỷĐất Linh Sơn in dấu vết phàm nhânTa reo lên với đàn thông thủ thỉCho lay bay tình ý ở xa xămXin mời chàng tài hoa thi sĩ đóNgồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châuHai tay chàng thử vốc vào nước nọMát tê đi như da thịt nàng dâu.

Lời Chim Hót

Ôi chàng kia, thực ra chiều phong vậnHãy nghe ta cao hót khúc bình anNày mặt nhựt tròn vo đương sáng lángGió đương lên vươn quyện tấm lòng ngâyTa đã nghe danh chàng cao vời vợiNhư thơ ra đồng vọng cả thinh gian

Nắng càng cao, lòng ta càng hừng hựcThơ lên rồi bay quá dải nhàn vânMùi hương đâu trong lời ca sực nứcE hư vô rung động cả phong trầnÔi chao, mê toàn thân như khoái cảmNhư đêm xuân uống phải rượu quỳnh tươngKhông đâu mà, có điều chi vừa chạmĐến tâm linh – để báo hiệu phi thường.Ta hãy giấu tiếng tiêu trong cụm láĐừng cho ra nghe lờ lặng trời mâyTa hãy ẩn mình ta trong kẹt láĐể chờ xem sự lạ đến gần đây

Mây bay theo với mây bayMình sao ra nước non này mà chơiSáo ơi, dìu dặt khơi vơiBuông mau âm điệu để mời nhân gianNắng cao ý muốn lan trànỞ đây vắng vẻ cây ngàn suối reoChim ơi hót khúc tương giaoCó người thục nữ lần vào Thiên ThaiKhông gặp ai, chửa gặp aiDuyên còn ngậm kín, tình hoài miên manTiêu tao đến nỗi bẽ bàngĐi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

Lời Suối Reo

Ở đây có suối đoàn viênCó cây Phối hợp, có duyên Ngọc vàngNước ta trong trắng ơ NàngĐọ xem trinh tuyết có phần thanh caoCởi xiêm cởi áo ra nàoXuống đây nàng tắm cho rạt rào thơ …

Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắngLộng vào trong xiêm áo mỏng mành sao!Tiếng ai cười vang trong im lặngKhiến lòng ta hồi hộp biết dường bao!

Chàng (ở lùm cây ra)

Tiếng tiêu vương vấn vào nhau mãiTa cho Nàng đây, gẫm lạ kỳKhông duyên hồ dễ mong theo nắngXin dâng nàng nụ cười với đôi mi.

Nàng (kinh ngạc)

Ở đâu chàng ở đâu raXem trong cốt cách mới ra tính tìnhE khi mình chửa iết mìnhNói câu kỳ ngộ in hình hổ ngươiChàng ôi, thốt chẳng nên lờiKhông quen sao lại lả lơi chuyện trò?

Phải quên Nàng ở Đào NguyênBởi chưng sắc đẹp lại thêm đa tìnhXuống đây tìm nợ ba sinhKhông hay trời khiến ta mình gặp nhau.

Em là Trần Thương ThươngNgụ ở bến Tầm DươngĐi tìm chàng thi sĩTrong pho sách Kim CươngĐi tới Tương tư xứTìm không ra người thương

Em là Trần Thương ThươngAnh là Hàn Mặc TửKhông phải cách âm dươngCòn có khi hội ngộEm là hoa mười phươngAnh là mây tứ xứGặp nhau ở cạnh đườngNói sao cho bằng khóc.

Lời Chim Hót

Hỡi ôi người tục khách tìnhĐến đây nhìn sững cho mình thêm ghenMá ơi, má núm đồng tiềnMôi sao ướt đỏ ta thèm biết bao!Nắng ơi, nắng có lên caoLàm sao da thịt hồng hào thế kia?

Người mộng hỡi từ nay ta mới biếtSao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt?Kêu không thôi, và nức nở cả ban đêmNhạc thanh bai hòa trong cung cầm nguyệtVới bao màu sang sáng ửng duyên thơmEm mê quá thi nhân Hàn Mặc Tử.Người trai tơ thùy mị như tình duyên.

Thương Thương em, trời cho ta kỳ ngộNói cho ta thần điệu của vàng bayĐôi nhụy thắm in trên màu rực rỡĐây đôi chim gù gật với niềm say Anh van em cho anh quỳ san sátCho mùa xuân ngầm ngấm tận hồn anhThơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạtTỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh.

Tất cả em là trân châu vô giáDành cho anh rîêng hưởng hạnh phúc nàyEm kết tinh ở bao thanh sắc lạTòa thiên nhiên đúc sẵn để mê saySao trời hỡi không cho em nguyền ướcEm theo anh mà hứng lấy sao rơiVẻ đài các còn nguyên trong khăn, lượcĐể làm chi, tình hỡi, khi xa xôi.

Chỉ có em làm thơ anh mãnh liệtTình anh vang như luồng gió van lơnChỉ có em, lòng anh yêu tha thiếtYêu điên cuồng không một phút nào hơnBây giờ đây khóc than niềm ly hậnHỡi Thương Thương người ngọc của lòng anhTa nhìn em với bao lời ta thánKhiến hoa chim nghe được cũng không đành.

Tình quân hỡi, muôn năm em chỉ muốnSống bên anh cho thắm được tình yêuMùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướmBởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều.

Than ơi đời biệt ly chan chứaAnh sắp đi với hai dòng lệ ứaCả đau thương dồn dập xót tâm bàoKhi xa em đã bao lần vọng tưởngMơ trong mơ làm hoảng hốt đêm trăngKhi gần em tâm thần anh sửng sốtMùi yêu đương vương vít cả tâm hồnEm ở đó sao anh không thề thốtBao dòng châu đem hiến tối tân hôn.

Nói làm chi những câu mê sướng quáNói những câu khờ dại cả người emPhải chăng anh tài hoa cao trọng lắmĐã bao lần khét tiếng ở đền vuaBao người ngọc đắm say lời ngọc thắmBao giai nhân hâm mộ tấm tình thơ!

Anh chỉ ngó say em trong chốc látĐể hồn thơ rời rạc với mây bayGần em luôn để hưởng bao khoái lạcThưa em không, anh đâu dám mê say!Một mai kia ở bên khe nước ngọcVới sao sương, anh nằm chết như trăngKhông tìm thấy Nàng Tiên mô đến khócĐến hôn anh và rửa vết thương tâm.

Em quyết níu với bao tơ nắng dịuNíu thơ anh và níu cả hồn anhHoa cỏ sẽ làm ơn theo chứng kiếnBiệt ly nào dứt được mối thâm tình?

Thôi chào em giờ không trở lạiAnh đi rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (chàng biến mất)

Tiếng Suối Reo

Xin đừng vầy bàn chân trong suối ngọcHỡi giai nhân người lụa bến Tầm DươngXin Nàng đợi để đêm khuya sẽ vọcBao nhiêu trăng sáng dịu giữa hơi sương.

Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Hàn Mặc Tử

Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình – Chế Lan Viên

1. Mùa xuân chín – Thơ Hàn Mặc Tử

Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý – Bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng: – “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”

Xúc cảm về một mùa xuân đẹp đẽ, tràn ngập sức sống, chan hòa niềm vui của con người. Song trong từng câu thơ vẫn vấn vương những băn khoăn, khi ngay trong thời khắc xuân xanh đẹp đẽ, nhà thơ đã kịp tiếc nuối cho một mùa xuân buộc phải đi qua. Nhưng nhìn chung, bài thơ vẫn rất đẹp và trong sáng trong dáng xuân đẹp đẽ, khác hoàn toàn với phong cách thơ thường thấy của Hàn Mặc Tử.

2. Đây thôn Vĩ Dạ – Thơ Hàn Mặc Tử

Bài thơ trước hết là tình yêu của nhà thơ dành cho xứ Huế tươi đẹp, mộng mơ, sau là tình cảm đơn phương của ông gửi đến người con gái phương xa. Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế hiện lên qua hồi ức của tác giả đồng thời cũng là bức tâm cảnh của một tâm hồn cô đơn, khao khát được yêu, được sống

3. Trút linh hồn – Thơ Hàn Mặc Tử

Bài thơ viết về tình yêu một cách điên cuồng và đầy mạnh mẽ. Liên tục sử dụng những hình ảnh rất kinh dị và đầy ám ảnh. Từng câu thơ như đều vắt kiệt lấy tâm hồn của nhà thơ. Ta như nghe thấy tiếng hét, tiếng trách thương đầy ai oán của một tình yêu đã chết mà không thể nào vực dậy.

4. Trăng vàng trăng ngọc – Thơ Hàn Mặc Tử

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng Trăng! Ai mua trăng tôi bán trăng cho Không bán đoàn viên, ước hẹn hò… Bao giờ đậu trạng vinh quy đã Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng! Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

Trăng là hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong những bài thơ của Hàn Mặc Tử, thể hiện rõ tính “điên” của nhà thơ. Trăng đối với nhà thơ như một vật sở hữu riêng, không xuất hiện theo cách lãng mạn thường thấy và rất ám ảnh, mang chiều hướng tiêu cực. Trăng tượng trưng cho thi nhân, đẹp nhưng buồn.

5. Rướm máu – Thơ Hàn Mặc Tử

Không sai khi cho rằng Hàn Mặc Tử là một nhà thơ điên. Tràn khắp đoạn thơ chỉ là máu. Hình ảnh máu ám ảnh rất mạnh đối với nhà thơ. Đối với ông viết thơ là phải viết bằng máu, bằng tất cả tâm hồn và sức lực. Bởi chỉ ở trong những tác phẩm của mình, nhà thơ mới không cảm thấy cô đơn.

6. Hồn là ai – Thơ Hàn Mặc Tử

Hồn là ai là ai? Tôi không biết Hồn theo tôi như muốn cợt chơi tôi Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng Tôi chết giả và no nê vô vạn Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến Thịt da tôi sương sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng em Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức Rồi bay lên cho tới một hành tinh Cùng ngả nghiên lăn lộn giữa muôn hình Để gào thét một hơi cho rởn ốc Cả thiên đường trần gian và địa ngục

Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay Hồn mê mệt lả mà tôi thì chết giấc.

Một lần nữa, qua bài thơ ta lại thấy được một hồn thơ kì lạ của nhà thơ. Sử dụng hình ảnh linh hồn khiến bài thơ mang màu sắc rất khác so với những nhà thơ cùng thơi. Song, tất cả những hình ảnh đó cũng để chứng minh rằng, nhà thơ đang mất phương hướng, khao khát tìm một tri kỉ mà không thấy, chỉ biết làm bạn với trăng, gió, hồn.

Thảo Nguyên

Cập nhật thông tin chi tiết về Hàn Mặc Tử Và Giai Điệu Thơ Trăng trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!