Xu Hướng 12/2022 # Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc / 2023 # Top 18 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– HS thuộc lời ca, thể hiện sắc thái rộn ràng, trong sáng của bài Dàn đồng ca mùa hạ.

– HS tập hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. Trình bày bài hát theo hình thức tốp ca.

– HS nghe bài hát Em đi giữa biển vàng, nhạc Bùi Đình Thảo, lời Nguyễn Đăng Khoa – Bùi Đình Thảo.

B. ĐỒ DÙNG DẠY – HỌC :

– Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc .

– Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đệm với hai âm sắc.

– Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp vận động theo nhạc.

– Đàn giai điệu, đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ

Nhạc Tiết 31 : ÔN TẬP BÀI HÁT DÀN ĐỒNG CA MÙA HẠ NGHE NHẠC A. MỤC TIÊU : HS thuộc lời ca, thể hiện sắc thái rộn ràng, trong sáng của bài Dàn đồng ca mùa hạ. HS tập hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. Trình bày bài hát theo hình thức tốp ca. - HS nghe bài hát Em đi giữa biển vàng, nhạc Bùi Đình Thảo, lời Nguyễn Đăng Khoa - Bùi Đình Thảo. B. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC : 1. Giáo viên : Nhạc cụ quen dùng, máy nghe, băng, đĩa nhạc . Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đệm với hai âm sắc. Tập hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp vận động theo nhạc. - Đàn giai điệu, đệm đàn và hát bài Dàn đồng ca mùa hạ 2. Học sinh : SGV Âm nhạc 5. Nhạc cụ gõ (song loan, thanh phách,...). C. HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC : HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ PHƯƠNG PHÁP I. ỒN ĐỊNH : - Hát tập thể. Nội dung 1 : Ôn tập bài hát : Dàn đồng ca mùa hạ - HS ghi bài. - HS hát bài Dàn đồng ca mùa hạ kết hợp gõ đêm theo nhịp. Sửa lại những chỗ hát sai, thể hiện sự rộn ràng, trong sáng của bài hát. + Từng tổ trình bày bài hát. + Cá nhân trình bày bài hát. - HS thực hiện - HS trình bày. - - HS trình bày bài hát bằng cách hát có lĩnh sướng, đối đáp, đồng ca kết hợp gõ đệm: + Đồng ca :Chẳng nhìn thấy lá dày. + Lịnh xướng :Tiếng ve ngân bao niềm tha thiết. + Đồng ca :Lời ve ngân nền mây biếc xanh. + Đồng ca : Dàn đồng ca ve ve ve. -HS thực hiện - Hs hát kết hợp vận động . + 2-3 HS làm mẫu. - HS hát, vận động + Cả lớp tập hát kết hợp vận động. - Trình bày bài hát theo nhóm, hát kết hợp gõ đệm và vận động theo nhạc. - 5-6 HS trình bày. Nội dung 2 : Nghe nhạc : Em đi giữa biển vàng - HS ghi bài - Giới thiệu bài hát : Bài Em đi giữa biển vàng là một trong số 50 ca khúc thiếu nhi hay nhất thế kỉ 20. Bài hát được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ từ bài thơ của tác giả NGuyễn Khoa Đăng. Bài hát có giai điệu mềm mại, uyển chuyển, miêu tả tất sinh đông về hình ảnh thanh bình, tươi đẹp của cánh đồng lúa quê hương. - HS theo dõi - Trực quan. - Nghe lần thứ nhất : GV mở băng đĩa nhạc hoặc trình bày bài hát. + Trao đổi về bài hát. - HS nghe bài hát - HS trả lời + HS nói cảm nhận về bài hát Ơi2 - Luyện tập. + HS nói về những hình ảnh đẹp trong bài hát. + HS diễn tả lại một nét nhạc. - Nghe lần thứ hai : HS có thể nghe nhạc kết hợp với các hoạt động : hát hòa theo, vẽ tranh (đơn giản) diễn tả cảm nhận về bản nhạc, vận động thgeo nhạc như đu đưa, lắc lư, nhún nhảy, múa, gõ nhịp - HS nghe nhạc, hoạt động.

Dàn Đồng Ca Mùa Hạ / 2023

Lời bài hát:

Dàn Đồng Ca Mùa Hạ chẳng nhìn thấy ve đâu , chỉ râm ran tiếng hát , bè trầm hòa bè cao trong màn xanh lá dày . Tiếng ve ngân trong veo , đung đưa rặng tre ngà , lời dịu dàng thương yêu mang bao niềm tha thiết . Lời ve ngân da diết , se sợi chỉ âm thânh , khâu …

Dàn Đồng Ca Mùa Hạ chẳng nhìn thấy ve đâu , chỉ râm ran tiếng hát , bè trầm hòa bè cao trong màn xanh lá dày . Tiếng ve ngân trong veo , đung đưa rặng tre ngà , lời dịu dàng thương yêu mang bao niềm tha thiết . Lời ve ngân da diết , se sợi chỉ âm thânh , khâu …

Thơ Ca Và Âm Nhạc, Cái Tương Đồng Và Khác Biệt / 2023

Thơ ca và âm nhạc là hai loại hình nghệ thuật phản ánh ý thức của con người, là phương thức chiếm lĩnh và cải tạo bản thân con người và cuộc sống xã hội theo quy luật của cái đẹp. Giữa hai loại hình này, có cái tương đồng và cái khác biệt, chủ yếu là về đề tài, chất liệu, ngôn ngữ, phương thức diễn đạt…

Mấy đặc điểm về thơ ca

Có hàng trăm định nghĩa về thơ ca và những đối sánh giữa thơ ca và khoa học, thơ ca và lịch sử, thơ ca và tôn giáo… Cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều có những luận điểm, những kiến giải hàm súc, chuẩn xác về đặc trưng của thơ. Từ đó, chúng ta nghĩ ngay đến tư duy tổng hợp có phần tiếp cận với những đặc trưng của thơ ca hiện đại. Đọc tác phẩm của Khổng Tử, chúng ta biết nhà triết học thông tuệ rất coi trọng Kinh thi bởi sự ôn nhu đôn hậu của hàng trăm bài thơ, rồi đưa ra một định nghĩa về đặc trưng khái quát về sáng tạo và thưởng thức thơ ca:

Thi khả dĩ hứng (thơ lay động lòng người)

Thi khả dĩ quan (thơ xem xét nhân tình)

Thi khả dĩ quần (thơ có khả năng tập hợp mọi người)

Thi khả dĩ oán (bộc lộ nỗi oán thán….)

Ở một chỗ khác, Khổng Tử phê phán âm nhạc của các nước Trịnh, Tống, Vệ, Tề vì âm nhạc ở đây đều là nịch âm gây ảnh hưởng không tốt đến Chí, làm cho chí tà dâm, say đắm nữ sắc, làm cho chí đắm đuối, dâm dật làm cho chí rối loạn, phóng túng, làm cho chí kiêu căng. Mặc dù ngày nay, giới phê bình có thể chưa vừa ý, thậm chí coi tư tưởng của Khổng Tử về thơ ca và âm nhạc là thuần lý, cực đoan. Nhưng phải thừa nhận rằng, trí tuệ của người xưa đã gần đến với đặc trưng của thơ ca và âm nhạc thời đại chúng ta. Thơ ca và âm nhạc đều lấy con người làm trung tâm, thời đại là mẹ của con người; Thơ hay cốt ở tình và văn; Đề tài của mọi khuynh hướng thơ ca, âm nhạc đều tìm đến sự thật, đức tin, cái đẹp. Tấm lòng tài năng của nhà thơ, nhạc sĩ nếu không đi theo quy luật của cái đẹp, thì thơ ca, nhạc phẩm chỉ là loại hoa giấy. Trong thơ ca, tư tưởng biểu hiện thường xuyên là trực giác và sức tưởng tượng của nhà thơ. Trong thi pháp của Aristote, chúng ta đọc đoạn so sánh nhà thơ và nhà viết sử: Nhà sử học kể về cái đã xảy ra, còn nhà thơ nói về cái cụ thể, có thể xảy ra bằng trực giác và sức tưởng tượng. Cái đẹp của thơ ca bao giờ cũng gắn liền với cái đạo đức, nhưng không phải là những lời giáo huấn khô khan, mà trước tiên xuất phát điểm của cảm xúc tự nhiên của nhà thơ và tiếp theo là sức tưởng tượng của cái phải trở nên, tức là những cảm xúc đau buồn, sung sướng, ngang trái của đời người. Địa chỉ cuối cùng của thơ là cảm xúc, là tiếng lòng của con người. Con người nhận thức thế giới không chỉ bằng duy lý mà còn bằng mọi cung bậc, mọi giác quan: Hỷ, nộ, an, lạc, ái, ố, dục của cuộc đời.

Nhà thơ lớn nước Đức Goethe nói đại ý rằng, nghệ sĩ và người thưởng thức khi đứng trước tác phẩm vừa là lời văn và con chữ trước tiên qua tâm hồn và con tim của mình. Lý tưởng là cái đẹp của con người, lý tưởng của thơ ca và âm nhạc là Chân, Thiện, Mỹ của đời người, chúng giống như thỏi nam châm có sức hút, sức cảm hóa mọi thị hiếu của người đọc và người nghe bằng hai phương tiện khác nhau: Lời thơ và âm thanh qua tri thức, tài năng, tâm hồn, sức bay của trí tưởng tượng mà trước hết là trí tuệ và cảm xúc. Các nhà thần kinh học cho biết, ở con người cảm xúc thường chiếm trên 80% tư duy sáng tạo, nhưng trí tuệ không nên hiểu là phần còn lại của não bộ, nhất là trong thơ và nhạc mà là sức bay của trí tưởng tượng. Khi nói về phẩm chất hàng đầu của thi ca Nga, người ta thường nhắc tới ngọn lửa trí tuệ, ngon lửa bên trong của A. Puskin. Nhiều bạn văn của đại thi hào Nga kể lại rằng, trong khi sáng tác, nhà thơ làm việc thật đáng sợ: Phòng viết biến thành một thư viện; một khối lượng sách, tư liệu, hồ sơ bằng sáu thứ tiếng về các ngành khoa học, triết học, lịch sử…. Nhưng điều đáng tiếc hơn cả là nỗi lòng đau đớn khi bản thảo đưa in bị kiểm duyệt của chính quyền Nga hoàng, ông kêu lên “đó là máu của tôi đã chảy ra!”

Từ những bài thơ lớn đến những nhạc phẩm hào hùng

Âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh về giai điệu, ca từ để diễn tả những tư tưởng và tình cảm của con người, tư duy trừu tượng và thông điệp những sự kiện của lịch sử. Cơ âm nhạc chuyên nghiệp và âm nhạc dân gian, âm nhạc có lời (nhạc hát) và âm nhạc không lời (khí nhạc). Dưới thời đại phong kiến chúng ta biết âm nhạc cung đình, các loại âm nhạc do người dân tự biên, tự diễn như hát ru, hát giao duyên, hát đồng dao, âm nhạc tế lễ. Nghe và hiểu âm nhạc khác hẳn với đọc thơ, ngâm thơ. Cái trước là ngôn ngữ “tiềm ẩn lấy âm thanh, giai điệu, ca từ làm phương tiện để diễn tả cuộc sống xã hội, nội tâm phong phú của con người”. Âm nhạc và cả thơ ca không chỉ là loại hình nghệ thuật để thưởng thức, cảm thụ mà có nhiều trường hợp xảy ra trong lịch sử văn hóa nhân loại. Đó là Thơ Thần, quốc tế ca, quốc ca… những biểu tượng hào hùng phản ánh những sự kiện mang tầm quốc gia và quốc tế.

Trong lịch sử văn hóa nước ta, những bài thơ, những bài hịch, các loại chiếu, biểu… được coi là những bài thơ “thần” ghi lại chiến công oanh liệt, lòng tự hào dân tộc, lòng tự chủ quốc gia….. Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt) là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam tự chủ khẳng định nước Nam, quyền tự quyết thiêng liêng đều ghi trong Thánh Thư với lời thơ đanh thép: bất cứ kẻ thù xâm lăng nào đến xâm phạm, nhất định sẽ thất bại:

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bài thơ được sáng tác ở ngôi đền cạnh sông Như Nguyệt là lời mách bảo của hai vị đại thần Trương Hống, Trương Hát truyền sức mạnh cho tướng sĩ Việt Nam sức mạnh đánh tan quân xâm lược nhà Tống vào năm 1077. Trong văn học thời trung đại nước ta, các nhà văn, nhà thơ còn dùng các thể loại hịch, chiếu, biểu, dụ… để các vua, thủ lĩnh làm lời sấm kêu gọi lòng yêu nước, cổ vũ quân dân chiến đấu chống quân xâm lược. Tất cả các loại hình trên đều được viết bằng văn biền ngẫu, thơ tứ lục, thơ lục bát. Tiêu biểu và có giá trị nhất là Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo. Trong lời dụ đọc trước lễ xuất quân của vua Quang Trung trên đường kéo quân ra Bắc với khí thế hào hùng, quyết tâm cao như núi để tiêu diệt quân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc

Đánh cho để tóc dài

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chính luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử thi Nam quốc

Anh hùng chi hữu chủ.

Trong thời đại chúng ta, ai ai cũng nhớ bài thơ kiệt tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó chính là bài hịch hiện đại, cảm thức sâu đậm, trí tuệ chói sáng dự báo cảnh đại thắng của quân và dân ta khắp cả nước để đi đến thắng lợi cuối cùng, kẻ thù thua trận, non sông thống nhất:

Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

Tiến lên chiến sĩ, đồng bào

Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn

(Bài ca mùa Xuân 1968)

Tất cả những bài thơ trên sở dĩ được lịch sử khắc ghi, được người đời qua các thế hệ từ trẻ đến già thuận lòng là nhờ tính nhạc.

Beu Delaire có lần nói: Thơ ca gắn liền với âm nhạc bằng các giai điệu (prosodie), vốn là gốc rễ ăn sâu vào tâm hồn ta, đến nỗi chẳng có lý thuyết kinh điển nào biết được”. Mỗi câu thơ hay gắn liền với nghệ thuật âm nhạc nhờ trí tuệ và sức tưởng tượng. Chính vì vậy mà trong lịch sử thế giới, nước nào cũng có quốc ca, quốc thiều, nhiều Đảng Cộng sản có Quốc tế ca… Quốc thiều nước ta (1976- đến nay) mở đầu là nhạc của bài Quốc ca Tiến quân ca do nhạc sĩ tài hoa Văn Cao sáng tác. Quốc thiều Việt Nam hiện đại mang tính lịch sử, truyền thống văn hiến, tính thơ của một giai đoạn khởi nguyên đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc, bền vững.

Từ nhạc có lời đến ca từ của nhạc

Đọc lịch sử thơ ca nước ta và nhiều nước khác, dù là phương Đông hay phương Tây đều có chung quan niệm về lý thuyết: Các nhạc sĩ trong khi sáng tác thường “vay mượn” lời thơ, nhất là những bài thơ hay, câu thơ giầu nhạc tính. Thơ và nhạc thường xe duyên nhau, trong thơ có nhạc, nhạc tôn vinh, phổ cập hóa bài thơ (gọi nôm na là phổ thơ). Các nhạc sĩ khi sáng tác ca khúc thường phổ nhạc một bài thơ, ngắn nhưng ý nhạc sâu (có thể gọi là nhạc lý) hoặc phỏng theo một đoạn thơ hay, ca từ đẹp để phổ nhạc. Có bốn trường hợp thường xảy ra là nhờ chỗ dựa đáng tin cậy, tiếng Việt có 6 thanh âm, âm nhạc có 7 nốt cơ bản: Nhạc và lời của cùng một tác giả như Bài ca Hà Nội của Nguyễn Đình Thi; trường hợp thứ hai thường phổ biến, có sự kết hợp giữa thơ và giai điệu: Thơ Lời ru buồn của Hoàng Cầm chuyển sang ca khúc: Lá diêu bông của Trần Tiến. Trường hợp thứ ba được xuất hiện thường xuyên nhờ lời thơ và giai điệu “có duyên” đậm đà với nhau: Hoàng hiệp với Câu hò trên bờ Hiền Lương (thơ của Đằng Giao); Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (thơ Phạm Tiến Duật); Thuyền và biển (thơ Xuân Quỳnh)… tất cả nhạc của Phan Huỳnh Điểu; Huy Du với nhiều ca khúc hay nhờ biết “dựa lưng” vào lời thơ tha thiết: Tình em, Nổi lửa lên em… Trường hợp thứ tư, các nhạc sĩ thường mượn những môtíp âm nhạc dân gian: Ca từ như một khổ thơ hay: Phó Đức Phương cách tân ca khúc của mình với giai điệu và lời mở: Trên quê hương quan họ/ Một làn nắng cũng mang điệu dân ca/ Giữa mùa lúa thơm…./ Cánh cò đẹp như trong mộng/ Những cô Tấm ngày xưa vẫn còn đây trong mùa trẩy hội… Nguyễn Trọng Tạo mượn dân ca quan họ Bắc Ninh để dạo đầu cho ca khúc Làng quan họ quê tôi (thơ của Nguyễn Phan Hách); Đỗ Nhuận với tình cảm chân thật, khi mượn những giai điệu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh để có ca khúc ẩn dụ: Trông cây tôi lại nhớ đến Người. Cũng tương tự như vậy, với chất liệu dân gian Nghệ Tĩnh đã được An Thuyên với giai điệu dịu ngọt trong ca khúc hay: Neo đậu bến quê….

Nói chuyện quan hệ thẩm mỹ giữa thơ và nhạc là nhờ có tính ưu việt của tiếng Việt có sáu thanh âm, và trong câu nhạc có 7 nốt cơ bản, nên bài hát dễ đến với số đông người nghe.

Tôi rất tâm đắc với những ý tưởng trong bài Xe duyên thơ và nhạc của Tiến sĩ Phạm Việt Long (Văn nghệ số ra ngày 10/12/2016), khi ông khảo chứng trường hợp “Nhạc nâng cánh cho thơ, nhất là những bài thơ mới ra đời, nhưng chưa được số đông độc giả, thính giả biết đến, nếu được nhạc sĩ phổ nhạc thành ca khúc hay, thì tác phẩm có cơ hội đến với số đông công chúng yêu mến đón nhận…”. Những trường hợp “hữu duyên” giữa thơ và nhạc như nói ở trên còn nhiều, chỉ cần chờ tài năng, trí tưởng tượng, giai điệu, âm thanh, âm sắc của nhạc sĩ. Thậm chí với trường ca, nếu nhạc sĩ biết chọn lựa, dừng lại ở khổ thơ giầu nhạc tính, cũng sẽ cho ta bài hát hay. Ví dụ: Bài thơ người đi tìm hình của nước của Chế Lan Viên. Ở đó có những khổ thơ vừa trữ tình, vừa triết lý ca ngợi vị lãnh tụ anh minh.

Đất nước đẹp vô cùng/ Nhưng Bác phải ra đi/ Cho tôi làm con sóng dưới tầu đưa tiễn Bác/ Khi bờ bãi dần lùi, làng xóm khuất/ Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre…..

Nói chuyện sánh duyên giữa thơ ca và âm nhạc là câu chuyện rất dài, rất sâu, không chỉ là một hiện tượng mỹ học mà còn là một phẩm chất vĩnh cửu của sự sáng tạo như sức tưởng tượng, tính trí tuệ, tài năng của người sáng tạo lẫn người tiếp nhận cả trong khoa học và nghệ thuật. Đó là nền tảng, là vật báu tinh thần, là minh triết của một dân tộc văn hiến và tự do sáng tạo.

Nguồn Văn nghệ số 6/2020

Giáo Án Ngữ Văn 12: Ôn Tập Sóng / 2023

+ Thấy được vai trò vị trí của Xuân Quỳnh trong phong trào thơ văn kháng chiến chống Mĩ

+ Hiểu được đặc trưng phong cách thơ Xuân Quỳnh

+ Có những kiến thức cơ bản về bài thơ ” sóng” như : Hoàn cảnh sáng tác, kết cấu và âm hưởng đặc biệt

+ Tìm hiểu và lập dàn ý cho một số đề bài cụ thể

2- Kĩ năng : Rèn luyện kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một vấn đề văn học

Rèn kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật trong thơ trữ tình

3- Giáo dục : Có thái độ tình cảm chân thành, trong sáng trong tình yêu lứa đôi

Ngày soạn: Kí duyệt của Tổ trưởng Người soạn : Trần nam Chung .. Ngày dạy: Lớp dạy: 12 C2 + 12 C9 Ôn Tập Sóng Xuân Quỳnh I- MụC TIÊU BàI DạY: Giúp Hs + Thấy được vai trò vị trí của Xuân Quỳnh trong phong trào thơ văn kháng chiến chống Mĩ + Hiểu được đặc trưng phong cách thơ Xuân Quỳnh + Có những kiến thức cơ bản về bài thơ " sóng" như : Hoàn cảnh sáng tác, kết cấu và âm hưởng đặc biệt + Tìm hiểu và lập dàn ý cho một số đề bài cụ thể 2- Kĩ năng : Rèn luyện kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một vấn đề văn học Rèn kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật trong thơ trữ tình 3- Giáo dục : Có thái độ tình cảm chân thành, trong sáng trong tình yêu lứa đôi II- CHUẩN Bị : Thầy giáo: SGK, SGV ngữ văn 12, thiết kế bài giảng, tham khảo tư liệu, xây dựng đề bài và dàn ý đại cương III- PHƯƠNG PHáP TIếN HàNH: GV kết hợp các phương pháp trao đổi, phát vấn, trả lời câu hỏi IV- TIếN TRìNH LÊN LớP: ổn định tổ chức Kiểm tra bài cũ : Đọc thuộc bài thơ " sóng" của Xuân Quỳnh? ôn tập : Hoạt động của GV & HS Nội dung cần đạt Hoạt động 1 Hướng dẫn Hs ôn tập những kiến thức chung - GV phát vấn : (?) Anh chị hãy nhắc lại những kiến thức cơ bản về nhà thơ nữ Xuân Quỳnh ? - HS trả lời cá nhân - GV gợi ý + Xuất thân? + Sự nghiệp ? + Phong cách ? - GV tổng hợp kiến thức - GV yêu cầu Hs nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ? - HS trả lới cá nhân (?) Nhận xét của anh chị về âm điệu của bài thơ ? âm điệu đó bắt nguồn từ đâu? (?) Kết cấu của bài thơ có gì đặc sắc? - HS lần lượt trình bày - GV nhận xét, tổng hợp Hoạt động 2 Tổ chức HS luyện tập thông qua một số đề bài cụ thể - GV ghi đề bài - HS đọc , suy ngẫm, xác định các yêu cầu của đề bài - GV định hướng : (?) Vấn đề cần nghị luận ở đây là gì? (?) Yêu cầu nội dung của bài viết ? (?) Yêu cầu về phương pháp, pháp vi dẫn chứng ? - HS lần lượt trình bày - GV tổng hợp - GV định hướng Hs xây dựng dàn ý cho bài viết - GV yêu cầu Hs đặt vấn đề cho bài viết (?) Phần thân bài cần triển khai những luận điểm nào ? Cần sắp xếp các luận điểm đó như thế nào ? - HS suy nghĩ làm việc theo nhóm - GV chia lớp thành 4 nhóm, định hướng thông qua những câu hỏi gợi mở (?) Vỡ sao nhà thơ chọn hỡnh tượng súng để bộc lộ tõm trạng của người phụ nữ đang yờu? (?) Cung bậc tỡnh cảm được thể hiện như thế nào qua hỡnh tượng súng? (?) Cỏi "tụi" trữ tỡnh của nhà thơ cú những suy nghĩ gỡ? - GV yêu cầu HS nhận xét về nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng? - GV định hướng: + Thể thơ ? + Cỏch gieo vần (vần chõn)? + Tiết tấu ? + Sự liờn hoàn về từ ngữ, hỡnh ảnh? (?) Qua hình tượng " sóng", anh chị cảm nhận được điều gì về tâm trạng của người phụ nữ khi yêu? - HS lần lượt trình bày - Cá nhân nhận xét - GV tổng hợp, chuẩn kiến thức Hoạt động 3 Củng cố, hướng dẫn, dặn dò 4. Củng cố, hướng dẫn, dặn dò - GV khái quát nội dung của bài dạy - GV định hướng HS về nhà luyện tập một số đề bài mở rộng ( Nỗi nhớ trong bài thơ sóng; phân tích khổ thơ 8-9 của bài thơ ) - Hs chuẩn bị tiết sau ôn tập bài " Đàn ghi ta của Lorca"- Thanh Thảo 5- Gv rút kinh nghiệm bài dạy i- kiến thức chung 1- NHỮNG LƯU í VỀ TÁC GIẢ XUÂN QUỲNH - Nhà thơ tiờu biểu của lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. - Tuổi thơ nhiều thiệt thũi.- Niềm khao khỏt tỡnh thương, tỡnh yờu, mỏi ấm gia đỡnh, sự nhạy cảm với tỡnh mẫu tử - Xuõn Quỳnh sớm được chỳ ý, nhưng lại phải vượt qua nhiều khú khăn để cú thể gắn bú với thơ. - Bản sắc thơ Xuõn Quỳnh tươi tắn, hồn hậu và nồng nhiệt. Thơ Xuõn Quỳnh là tiếng lũng của một tõm hồn gắn bú thiết tha với cuộc đời, con người, khao khỏt tỡnh yờu, trõn trọng, chăm chỳt cho hạnh phỳc bỡnh dị đời thường. - Thơ tỡnh yờu là một mảng đặc sắc ở Xuõn Quỳnh. Đú là tiếng thơ bày tỏ trực tiếp những khỏt khao sụi nổi, mónh liệt mà chõn thành, tự nhiờn của một trỏi tim phụ nữ trong tỡnh yờu. 2 . CẢM NHẬN CHUNG VỀ BÀI THƠ - Bài thơ được viết trong chuyến đi của Xuõn Quỳnh về vựng ven biển Diờm Điền, tỉnh Thỏi Bỡnh, ngày 29.12.1967. - Bài thơ cú một õm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, gợi ra cỏc nhịp con sống liờn tiếp gối nhau, lỳc tràn lờn sụi nổi, lỳc ờm dịu lắng lại. Thể thơ 5 chữ với những dũng thơ thường là khụng ngắt nhịp, cựng với sự trở đi trở lại, bồi hoàn của hỡnh tượng súng đó tạo ra nhịp điệu và õm hưởng ấy. - Kết cấu hỡnh tượng của bài thơ, nổi lờn bao trựm là hỡnh tượng "súng", nhưng bài thơ cũn cú hỡnh tượng "em". Súng là ẩn dụ của tõm trạng người con gỏi đang yờu, là sự hoỏ thõn của em III. Luyện Tập Đề bài : Phõn tớch hỡnh tượng "súng" trong bài thơ cựng tờn của Xuõn Quỳnh. Anh chi cảm nhận được gỡ về tõm hồn người phụ nữ trong tỡnh yờu qua bài thơ này? A- Tìm hiểu đề * Vấn đề cần nghị luận : Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên ( phân tích một hình tượng trong thơ trữ tình) * Yêu cầu nội dung của bài viết - Làm rõ nghệ thuật ẩn dụ của hình tượng sóng ( tâm hồn người phụ nữ đang yêu) - Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng + Thể thơ + Cỏch gieo vần (vần chõn) + Tiết tấu + Sự liờn hoàn về từ ngữ, hỡnh ảnh - Cảm nhận về tâm hồn người phụ nữ khi yêu + Luụn tự ý thức + Niềm khỏt khao mónh liệt + Chõn thành và tỏo bạo + Yờu hết mỡnh, quờn mỡnh + Hướng tới vĩnh cửu * Yêu cầu về phương pháp, pháp vi dẫn chứng: Tư liêu chủ yếu là bài thơ " Sóng" của Xuân Quỳnh B- Xây dựng dàn ý : 1- Mở bài : - Giới thiệu khái quát về bài thơ " Sóng" - Nhấn mạnh hình tượng độc đáo của bài thơ - hình tượng sóng 2- Thân bài : * Nghệ thuật ẩn dụ của hình tượng sóng - Súng hỡnh tượng nghệ thuật xuyờn suốt, tạo nờn hỡnh hài của tỏc phẩm - Súng cũng chớnh là trỏi tim Dữ dội và dịu ờm của Xuõn Quỳnh à Cựng với súng, hỡnh tượng em tạo thành cặp súng đụi, gắn bú, quấn quýt suốt bài thơ. Trờn cơ sở đú, nhà thơ bộc lộ mọi cung bậc tỡnh cảm của mỡnh về tỡnh yờu. + Súng hiện lờn trước hết là đối tượng cần nhận thức à Từ súng gợi lờn bao nhiờu điều suy tư về cuộc đời, về con người + Sóng là đối tượng để nhân vật " em" giãi bày bộc lộ quy luật muôn đời về tình yêu: tình yêu là khát vọng muôn đời của con người + Sóng là đối tượng cho " em" bộc lộ nhu cầu " phân tích, lí giải" những băn khoăn về sự khởi nguồn của tình yêu + Sóng là đối tượng soi chiếu, sóng đôi để " em" giãi bày, bộc bạch những tình cảm chân thành trong tình yêu, trong đó có " nỗi nhớ" + Mượn sóng để nhân vật trữ tình bộc bạch khát vọng mãnh liệt " Vĩnh viễn hoá tình yêu" * Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng - Thể thơ 5 chữ với những dũng thơ thường là khụng ngắt nhịp, cựng với sự trở đi trở lại, bồi hoàn của hỡnh tượng súng à õm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, gợi ra cỏc nhịp con song liờn tiếp gối nhau, lỳc tràn lờn sụi nổi, lỳc ờm dịu lắng lại ànhịp điệu bờn ngoài (súng) là để diễn tả nhịp bờn trong của tõm hồn: những đợt súng của tỡnh yờu khao khỏt, dào dạt, sụi nổi và da diết sõu lắng - Nghệ thuật gieo vần chân tạo nên âm hưởng dư ba lan toả, miên man của những con sóng - Sự liên hoàn vê từ ngữ, hình ảnh diễn tả những nột tõm trạng trở lại một điệp khỳc, như những vũng súng nối nhau, dội lại, cộng hưởng và lan toả. * Tâm hồn người phụ nữ khi yêu + Luụn tự ý thức + Niềm khỏt khao mónh liệt + Chõn thành và tỏo bạo + Yờu hết mỡnh, quờn mỡnh + Hướng tới vĩnh cửu 3- Kết bài : - Đánh giá chung về hình tượng "sóng" + Với một vẻ đẹp rất riờng, bài thơ Súng của Xuõn Quỳnh đó chiếm đượccảm tỡnh của đụng đảo người đọc. + Nhà thơ dự đó mất, tỡnh yờu của chị vẫn cũn dạt dào "vỗ súng"trong thơ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Âm Nhạc Tiết 31: Ôn Tập Bài Hát Dàn Đồng Ca Mùa Hạ, Nghe Nhạc / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!