Xu Hướng 2/2024 # Đường Bá Hổ – Đòa Hoa Am Ca # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đường Bá Hổ – Đòa Hoa Am Ca được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đường Dần tự là Tử Uý, Bá Hổ (nên còn được gọi là Đường Bá Hổ), hiệu là Lục Như cư sĩ, Đào Hoa am chủ, Lỗ quốc đường sinh, Thoát thiền tiên lại, tự xưng là Minh triều Giang Nam đệ nhất phong lưu tài tử.

Tương truyền ông sinh vào giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần (Thành hóa thứ 6 đời Hiến Tông nhà Minh) do vậy được đặt tên là Đường Dần.

Đường Dần (chữ Hán: 唐寅; ) là một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh.

Đường Bá Hổ là đệ tử xuất sắc của danh hoạ Chu Thần.

Đường Dần người huyện Ngô thuộc Tô Châu – tỉnh Giang Tô, xuất thân trong một gia đình buôn bán.

Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết về Đường Bá Hổ, đặc biệt là câu chuyện đã được dựng thành phim là: “Đường Bá Hổ Điểm Thu Hương”, nhưng đó hoàn toàn là truyền thuyết và ông chưa hề lấy Thu Hương. Theo nghiên cứu ông có 3 người vợ. Năm 19 tuổi ông cưới vợ là Từ thị là thứ nữ của Từ Đình Thụy, nhưng khi ông khoảng 24 tuổi thì người vợ đầu qua đời. Sau đó có lẽ ông đã cưới người vợ thứ hai, nhưng gặp khi bị liên lụy ở khoa trường, nên bà này đã bỏ đi. Về sau ông lấy người vợ họ Thẩm tên là Cửu Nương, người đời 1 đồn mười, mười đồn trăm, cuối cùng thành ra: Đường Dần cưới 9 người vợ. Còn Thu Hương không phải là nô tì trong phủ họ Hoa mà là một danh kỹ ở Nam Kinh, có cuộc đời đầy trắc trở.

Trong thời gian tuổi trẻ, Đường Dần đã gặp phải một biến cố lớn trong gia đình, đó là cuối năm ông 24 tuổi, cha ông và người vợ đầu đã lần lượt qua đời, và đến đầu năm sau, mẹ cùng người em gái lại lần lượt ra đi. Trong một thời gian ngắn, mất đi 4 người thân, chỉ còn lại ông và người em trai dựa vào nhau mà sống. Từ năm 16 tuổi Đường Dần đã là một “khóa sinh”, nhưng ông có vẻ không ham công danh. Sau 3 năm chịu tang, và có lẽ cũng nhờ sự khuyên nhủ của Chúc Doãn Minh, ông mới chịu khó đọc sách 1 năm rồi tham gia khoa thi hương năm Mậu Ngọ niên hiệu Hoằng Trị (1498) ở phủ Ứng Thiên (Nam Kinh) và đã đỗ Giải Nguyên (đứng đầu khoa). Vì vậy trong rất nhiều ấn chương của Đường Dần còn có ấn: “Nam Kinh Giải Nguyên”. Lúc này, danh tiếng của Đường Dần đã rất cao, quan chủ khảo kỳ thi năm ấy ở Nam Kinh là Lương Trữ sau khi xem văn của ông đã thốt lên: “Kẽ sĩ có kẻ kỳ tài như vậy sao? Giải nguyên thực đáng lắm!” đồng thời giới thiệu ông lên Trình Mẫn Chính là quan chủ khảo kỳ thi hội 2 năm sau. Tuy nhiên từ trước đó, Đường Dần đã quen biết các bậc đại nho ở đất Ngô như: Văn Lâm (cha của Văn Trưng Minh), Vương Ngao, Nghê Nhạc, Ngô Khoan … và rất được coi trọng trên văn đàn.

Nhưng trong kỳ thi hội 2 năm sau, Đường Dần không may gặp liên lụy trong chuyện Hoa Sưởng vu cáo quan chủ khảo Trình Mẫn Chính, rằng Mẫn Chính tiết lộ đề cho một số người trong đó có Đường Dần.

Bá Hổ đi Kinh thành tham gia thi tổng hợp, công danh phú quý sắp thành, thế nhưng tên đại địa chủ ở Âm Giang tên là Tư Kinh cùng đi thi với Bá Hổ đã hối lộ cho quan coi thi Gia Đồng, cho nên hắn ta có được đề thi trước. Sau khi vụ việc bị bại lộ, Đường Bá Hổ cũng bị liên lụy, bị bắt ngồi tù, bị tra đánh lăng nhục. Kể từ đó, vốn có đức tính thanh cao, Đường Bá hổ hết sức có ác cảm đối với việc thi cử quan trường. Bá Hổ kết bạn với Trương Linh, một tay chơi cuồng nhiệt, hằng ngày hai người cứ là uống rượu phè phỡn với nhau, về sau dưới sự khuyên nhủ của người bạn thân tên là Doãn Minh, Bá Hổ mới quyết tâm tu trí học tập, đồng thời quyết tâm lấy viết thơ viết lách hội họa làm kế sinh nhai cho cả đời mình.

Vào những năm cuối đời, Đường Bá Hổ tín ngưỡng Phật Giáo, từng làm thơ tự trách mình rằng, đại trượng phu không mang công danh, cũng nên khảng khái mạnh khỏe, rồi khắc con dấu triện tự phong mình là “Tài tử phong lưu đệ nhất Giang Nam”. Sau khi được Ninh vương Nam Xương tuyển dụng, phát hiện Ninh Vương có ý định làm phản, Bá Hổ liền giả điên, tư tưởng tương đối suy đồi. Trong lịch sử Trung Quốc, có rất nhiều những câu chuyện thú vị phong lưu về Đường Bá Hổ, những bộ phim truyện như “Đường Bá Hổ điểm Thu Hương”, “Tam Tiếu” v v… đều là cải biên theo truyền thuyết của Đường Bá Hổ mà thành.

Thời nhà Minh, Ninh Vương Chu Trấn Hào rất ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Đường Bá Hổ. Ông ta từng cử người mang rất nhiều vàng bạc đến Tô Châu để mời Đường Bá Hổ về nhà mình. Sau khi Đường Bá Hổ đến, Ninh Vương sắp xếp cho ông ta ở trong một nhà trọ sang trọng, đối xử rất nhiệt tình, chu đáo. Đường Bá Hổ ở đó nửa năm, thấy Ninh Vương làm rất nhiều chuyện coi thường luật pháp triều đình, nên ông suy đoán rằng sau này Ninh Vương chắc chắn sẽ làm phản, vì vậy ông giả điên giả dại.

            Ninh Vương sai người đem quà đến tặng cho Đường Bá Hổ. Ông bèn gỡ hết quần áo ra, ngồi giữa nhà, còn chửi bới người của Ninh Vương. Người nhà Ninh Vương mang quà về, bẩm báo mọi chuyện cho ông ta biết. Vương Ninh nói: ”Ai bảo Đường Bá Hổ là một hiền tài? Theo ta, hắn chỉ là một kẻ cuồng sĩ mà thôi!”. Thế là Ninh Vương bèn ra lệnh đưa Đường Bá Hổ về quê. Không lâu sau, quả nhiên Ninh Vương dấy binh làm phản.

Khi Đường Bá Hổ trở lại Tô Châu sau chuyến lãng du đó, gia đình ông rơi vào cảnh cùng túng, vợ con lại bỏ nhà đi, bản thân ông phải mưu sinh bằng cách bán văn bán tranh và giải sầu bằng những nét đan thanh. Năm 36 tuổi, ông dời đến Thung Lũng Hoa Đào (Đào Hoa Ổ) dựng mái lều tranh bằng tiền bán tranh và tiêu dao ở đó cho đến cuối đời.

Năm 1523, Đào Hoa Am Chủ bệnh rồi mất ở Đào Hoa Am giữa Thung Lũng Hoa Đào, như ước nguyện sinh thời, để lại bài Đào Hoa Am Ca 桃 花 庵 歌muôn đời bất hủ:

Bản Đường Dần viên, Tô Châu:

桃花坞里桃花庵 Đào hoa ổ lý đào hoa am/   Thôn hoa đào có “am” hoa đào  (am: lều tranh)

桃花庵下桃花伕 Đào hoa am há đào hoa tiên/ “Am” hoa đào có tiên hoa đào

桃花伕伔种桃树 Đào hoa tiên nhân chủng đào thụ/ Tiên nhân hoa đào từ loài cây đào

又折花枝当酒钱 Hựu chiết hoa chi đương tửu tiền/ Lại đổi cành hoa lấy tiền rượu.

酒醒只在花前坐 Tửu tỉnh trích tại hoa tiền tọa/ Chỉ tỉnh rượu lúc ngồi trước chốn hoa

酒醉还须花下眠  Tửu túy hoàn tu hoa hạ miên/ Say rượu lại chờ hoa hạ xuống

花前花后日复日 Hoa tiền hoa hậu nhật phục nhât/ Trước hoa, sau hoa, ngày lại ngày

酒醉酒醒年复年 Tửu túy tửu tỉnh niên phục niên/ Say rượu, tỉnh rượu,  năm lại năm.

不愿鞠躬车马前 Bất nguyện cúc cung xa mã tiền/ Chẳng nguyện cúi mình trước xe ngựa

但愿老死花酒间 Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian/ Vẫn nguyện chết già chốn rượu hoa

车尘马足贵者趣 Xa trần mã túc quý giả thú/ Xe ngựa trần, “chân quý” có kẻ đón

酒盏花枝贫者缘 Tửu trần hoa chi tử giả duyên/ Chén rượu, cành hoa, thiếu người có duyên.

若将富贵比贫贱 Nhược tương phú quý bì bần tiện/ Đem phú quý so với bần tiện

一在平地一在天 Nhất tại bình địa nhất tại thiên/ Một chốn đất yên. một chốn tiên

若将贫贱比车马 Ngược tương bần tiện bì xa mã/ Đem bần tiện so với ngựa xe

伒得驱驰我得闲 Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn/ Ngươi được cưỡi ngựa, ta được chuồng

世伔笑我忒疯癫 Thế nhân tiếu ngã thắc phong điên/ Nhân thế cười ta hóa khùng điên (Thế nhân: người đời)

我笑世伔看不穿 Ngã tiếu thế nhân khán bất xuyên/ Ta cười nhân thế nhìn chẳng thấu

记得五陵豪杰墓 Kí đắc Ngũ Lăng hào kiệt mộ/ Nhớ rằng mộ Ngũ Lăng hào kiệt

无酒无花锄作田 Vô tửu vô hoa sừ tác điền/ Ko rượu ko hoa làm cuốc đất.

Link: http://baike.baidu.com/view/109511.htm

Dịch thơ:

Ở thôn đào có am hoa đào

Am hoa đào có tiên hoa đào

Tiên hoa đào lại từ cây đào

Lấy đổi cành hoa lấy đổi rượu.

Tỉnh rượu lại đã ngồi trước hoa

Say rượu lại chờ hoa rụng xuống

Trước hoa, sau hoa, ngày lại ngày

Say rượu, tỉnh rượu, năm lại năm.

Chẳng chịu cúi mình trước ngựa xe

Lại nguyện chết già giữa chốn hoa

Xe ngựa, quyền thế, kẻ đón đưa

Có rượu, có hoa, thiếu bạn cùng.

Đem phú quý so với bần tiện

Một chốn đất yên, một chốn tiên

Đem bần tiện so với ngựa xe

Người thích chạy ngựa, ta thích chuồng.

Nhân thế cười ta bảo khùng điên

Ta cười nhân thế nhìn chẳng “xuyên”

Nhớ mộ Ngũ lăng hào kiệt xưa

Không rượu, không hoa, cuốc đất làm.

Tranh Đường Bá Hổ

Cùng tung bay nào ^o^:

Email

In

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Đường Bá Hổ (Đường Dần) Và Những Áng Thơ Nổi Tiếng Nhất Mới Nhất

Dịch nghĩa

Non xanh tóc trắng, già vẫn ngốc nghếch điên cuồng

Sinh nhai bằng bút nghiên, nỗi khổ kiếm ăn gian nan

Ruộng nước trên hồ người chẳng cần đến

Ai lại đến mua núi vẽ trong tranh của ta!

Dịch nghĩa

Không luyện kim đan không ngồi thiền

Đói bụng thì ăn mệt đi ngủ

Sống bằng bút vẽ và bút thơ

Tung tích bên hoa và bên liễu

Hình hài trong gương già cùng xuân

Vợ chồng trước đèn tròn cùng trăng

Vạn cuộc vui thú nghìn cuộc say

Người nhàn trên đời tiên trên mặt đất

Dịch nghĩa

Trong thành hoa đào có am hoa đào

Trong am hoa đào có tiên hoa đào

Người tiên hoa đào trồng cây hoa đào

Lại hái hoa đào thay cho tiền mua rượu

Tỉnh rượu, thấy một mình ngồi trước hoa

Say rồi lại nằm ngủ dưới hoa

Nửa say nửa tỉnh ngày lại ngày

Hoa rụng hoa nở năm này qua năm khác

Thà chết già trong rượu và hoa

Chứ không chịu quỵ luỵ trước xe ngựa

Thú vui phú quý của người là bụi xe vó ngựa

Duyên nghèo của ta là chén rượu cành hoa

Nếu đem phú quý so với nghèo hèn

Một ở đất bằng, một lên tới trời cao

Nếu đem bần tiện so với ngựa xe

Người phải tất tả, ta được nhàn nhã

Người ra đi cười ta gió lớn cuồng quay

Ta cười, người nhìn nhưng có hiểu đâu

Chẳng thấy mộ của hào kiệt Ngũ Lăng đó sao

Không hoa, không rượu, bị san bằng làm ruộng cày

Dịch nghĩa

Hoa cúc không có chủ vì ai mà mang nhan sắc?

Trong tiết lạnh rụng xuống rào thưa chỗ đường quanh.

Mang hết tiền vàng mua son phấn,

(Mà) nhan sắc của một đời đem gửi gió tây

Mỹ nhân đối nguyệt

Tà kết kiều nga dạ ngoạ trì,

Lê hoa phong tĩnh điểu thê chi.

Nan tương tâm sự hoà nhân thuyết,

Thuyết dữ thanh thiên minh nguyệt tri.

Dịch nghĩa

Ta vẽ trên sông biếc dòng nước xa xa

Yêu cảnh trên đình lúc buổi chiều, lá phong buồn bã

Trăng thu chan hoà chiếu soi chùa Phật

Khói thơm mờ mịt vấn vương bên lầu kinh

Dịch nghĩa

Không luyện kim đan không toạ thiền

Không buôn bán cũng không cày ruộng

Khi nhàn rỗi vẽ núi xanh đem bán

Không khiến cho người đời tạo ra đồng tiền oan nghiệt

Dịch nghĩa

Đất Ngô Trung vui nhất ở trên đời

Trong đó cửa Xương Môn lại đứng đầu

Ba nghìn tay áo xanh lầu trên lầu dưới

Trăm vạn vàng qua lại đông tây trên sông

Năm canh mua bán không hề dứt

Người bốn phương xa tiếng nói khác nhau

Nếu để cho hoạ sư theo đó mà vẽ

Hoạ sư phải thốt lên: vẽ khó

Đường Bá Hổ là một nhà thơ nổi tiếng và là người Ngô Huyện. Năm 29 tuổi ông thi hương và đỗ giải nguyên. Sau đó ông du ngoạn khắp nơi, sống bằng thư họa, và cũng có thể xem là sinh hoạt phóng túng. Bên cạnh các sáng tác thơ ca ông còn vẽ tranh sơn thủy và cũng chính là một thư họa kiệt xuất đời Minh. Theo chúng tôi

“Anh Dắt Em Vào Cõi Bác Xưa Đường Xoài Hoa Trắng Nắng Đu Đưa”

Từ phía đông, theo con đ­ường ven ao cá để tới nhà sàn của Bác Hồ, chỗ ngã ba, cách nhà sàn vài chục mét, từ đây rẽ phải là con đ­ường chạy về h­ướng đình Hội Đồng (vốn là một ngôi đình cổ; sau khi tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Hội đồng Chính phủ thư­ờng họp ở đây). Đư­ờng rộng 5 m, dài hơn 200 m. Hai ven đ­ường có hai hàng cây xoài ( cây muỗm) cổ thụ, mỗi bên 15 cây, đ­ược trồng gần như­ đối xứng nhau. Cây nào cũng t­ươi tốt, cao, to, có cây to đến nỗi hai ng­ười ôm không xuể. Nhiều năm, xoài đ­ược mùa, quả to treo lúc lỉu, trông rất thích mắt.

Từ nhà sàn Bác Hồ th­ường đi bộ theo con đ­ường xoài ra tiếp khách ở giàn hoa hình bán nguyệt ở khoảng giữa đường và Phủ Chủ tịch. Giữ nếp đều dặn, hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều Bác thường đi dọc đường xoài vừa để thư giãn tinh thần và tăng cường vận động, giữ gìn sức khoẻ.  Đ­ường xoài từng ghi nhiều kỷ niệm đẹp và cảm động về Bác Hồ với đồng bào, chiến sĩ miền Nam. Một trong những kỉ niệm sâu sắc nhất, là cuộc gặp gỡ giữa Bác Hồ với đoàn đại biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc năm 1965. Buổi sáng ngày 15 tháng 11 năm 1965, các thành viên của đoàn đại biểu ngồi xung quanh chiếc bàn rộng đặt giữa giàn hoa phía sau Phủ Chủ tịch để chờ đón Bác Hồ. Chỉ còn ít phút nữa là đến giờ Bác hẹn gặp. Mọi ngư­ời hồi hộp, chăm chú nhìn lên Phủ Chủ tịch. Ai cũng mong mình sẽ là ng­ười nhìn thấy Bác đầu tiên ngay khi Bác xuất hiện. Nh­ưng Bác không ở Phủ Chủ tịch đi xuống mà đi từ nhà sàn theo đư­ờng Xoài. Bất ngờ, cảm động và sung sư­ớng, cả đoàn đại biểu đều chạy ùa đến đón Bác, nhiều ng­ười đã khóc. Bác âu yếm nhìn các anh hùng dũng sỹ miền Nam, xúc động nói : “Bác mong các cháu lắm, Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm! Sao các cháu lại khóc? Bác cháu ta gặp nhau thì phải vui lên chứ ? ”. Bác ân cần hỏi thăm từng ngư­ời trong đoàn: chị Tạ Thị Kiều dịu dàng trong bộ quần áo bà ba của phụ nữ miền Nam, anh A Vai đại biểu của núi rừng Tây Nguyên bất khuất đi sát bên Bác, đ­ược Bác khoác vai. Những tình cảm Bác dành cho các đại biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực l­ượng vũ trang giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc như tình cảm của ngư­ời Cha đón những đứa con thân yêu lâu ngày trở về. Hình ảnh Bác Hồ đi giữa đoàn đại biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực l­ượng vũ trang giải phóng miền Nam trên đư­ờng Xoài sáng hôm đó đã trở thành một bức ảnh đẹp, làm xúc động hàng triệu trái tim đồng bào miền Nam. Đồng chí Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của Bác Hồ kể lại: Vào hồi 10h sáng ngày 10 tháng 5 năm 1969, sau khi xem lại Tài liệu tuyệt đối bí mật (bản Di chúc) lần cuối cùng, Bác rời nhà sàn đi dạo trên đường xoài. Người bảo đồng chí Vũ Kỳ thử đoán xem hai hàng cây xoài này khoảng bao nhiêu tuổi? Đồng chí Vũ Kỳ suy nghĩ một lát rồi thưa với Bác là hai hàng xoài này khoảng trên sáu mươi tuổi. Bác Hồ liền hỏi: “Chú dựa vào đâu mà nói là trên sáu mươi tuổi?”. Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác rằng chắc hai hàng xoài này được trồng cùng thời gian xây dựng toà nhà Phủ Toàn quyền cũ. Bác cười và nói:” Chú đoán chưa đúng! Hai hàng cây này được trồng cùng thời gian xây ngôi đình Hội Đồng thì mới phải”, rồi trước khi quay về kịp giờ đón khách, Người còn dặn:” Chú chịu khó tìm giống xoài miền Nam trồng xen giữa muỗm, để nó kịp lớn lên, thay thế”.  Ý tưởng cần trồng thêm những cây nhỏ để chúng có thời gian phát triển, trưởng thành rồi sau này đủ sức thay thế những cây già cỗi không chỉ giản đơn là chuyện làm vườn. Đó chính là suy nghĩ sâu xa về sự nghiệp trồng người mà Bác đã viết trong bản Di chúc lịch sử: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Đọc Trường Ca “Mặt Đường Khát Vọng” Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm

Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương; sinh 15/4/1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam.

Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Ông là cựu sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Nguyễn Khoa Điềm sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng). Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân. Sau đó, ông vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ,… cho đến năm 1975.

Nguyễn Khoa Điềm từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, ông được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động. Vào thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ.

Nguyễn Khoa Điềm trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975. Sau 1975, ông tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế.

Ông có mặt trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Năm 1994 Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin. Năm 1995, ông được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V.

Năm 1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nguyễn Khoa Điềm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X và từ tháng 11 năm 1996 là Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin.

Năm 2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, Nguyễn Khoa Điềm trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001-2006).

Đã xuất bản

Cửa thép (ký, 1972)

Đất ngoại ô (tập thơ, 1973)

Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974) 9 chương

Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (tập thơ, 1986)

Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990)

Cõi lặng (tập thơ, 2007)

Giải thưởng

Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (giải B) với tập thơ “Cõi lặng” năm 2010

Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật./.

Nhại Thơ Thế Lữ “Hổ Nhớ Rừng “

Thư giản :  HỔ NHỚ RỪNG (2)

Khuyết danh

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2014/07/buon-ngoclan_fqm5.mp3

Đọc bài thơ của tác giả cũng một thời “Hổ Nhớ Rừng” như Thế Lữ, tôi không khỏi xúc động cảm thương; nhưng nghĩ lại tâm trạng của tác giả cũng là của chính tôi, nên một chút gì đó ngậm ngùi thân phận chiến sĩ thua trận nên hết thời. Văng vẳng tiếng gọi the thé từ trong bếp: nhà không quét, không hút bụi, chén không rữa, suốt ngày ôm điện thoại rù rì với mấy thằng cha YAMAHA hoặc ôm ti vi xem mấy chục thằng giành nhau một trái banh.(!) Dù cọp già bảy bó gập, nhưng chưa bị lột da, bẻ móng, hay gom xương làm cao hổ cốt, thì ta vẫn hy vọng một ngày về, “chưa biết ai thắng ai”? T10T

Ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !!!

Ngậm một khối u hoài bên cạnh vợ , Ta lờ khờ và lớ ngớ ngu ngơ Giận vợ già quá ngạo mạn khó ưa . Giương mắt ….lão nhìn ta như con trẻ

Nay già rồi chịu gông cùm lép vế Để mụ già nổi hứng mụ hành chơi ! Chịu ngang bầy cùng lũ chó dở hơi , Thường đẩy xe sau mỗi lần đi chợ

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ , Thưở tung hoành hống hách những ngày xưa . Đất Saigon nhớ biết mấy cho vừa , Phố xá rộn ràng gái trai dìu dặt .

Ngoài chiến trận ta vẫy vùng ngang dọc , Thật kiêu hùng quyết bảo vệ quê hương . Có toàn dân và em gái hậu phương , Nàng ngưỡng mộ tôn ta làm thần tượng

Đi bên ta nàng nhẹ như cánh phượng , Nép vào ta nhờ che chở chở che Ta hiên ngang dìu em dưới hàng me Hoặc trốn nắng vào ci nê hú hí

Chiều công viên cùng nàng mừng cho có ! Hoặc đêm về ngồi ngắm ánh trăng trong . Nàng hiền khô yếu đuối gọn trong lòng . Để từ đó yêu nàng vô bờ bến …

Đâu những yêu kiều dịu dàng thương mến Tiếng thu ca ru giấc ngủ êm đềm , Đâu những chiều có chỗ đứng bên thềm . Ta chết cứng trong tóc mềm môi ướt .

Để ta chiếm lấy phần riêng bí mật . Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu !! Để giờ đây ta ngậm một mối sầu , Ghét thế sự con người nhiều thay đổi .

Những cảnh đời nhiều tầm thường giả dối . Bao bon chen bao gian dối lọc lừa . Nàng của ta cũng thay đổi bao mùa , Hay đanh đá hay chanh chua quát tháo !

Mắt nai tơ giờ trợn trừng thao láo ! Đôi môi mềm cong cớn hết tươi cười , Mỗi cuối tuần lãnh check bảo “Đưa tôi” Ta ngửa mặt “Thế thời thời phải thế” !!!!!

Nơi xứ Mỹ thôi ta đành lép vế Đành ngu ngơ đành nhẫn nhục chờ thời , Nhưng càng lâu ta càng thấy ..hết thời , Cho đến lúc tự nhiên đâm ra nhát

Để giờ đây những đêm trường ngao ngán Ta lâu ngày… phở tái vẫn thèm ăn, Vẫn đợi chờ gió đến để ..bẻ măng , Nằm phục kích ..chờ nai vàng nộp mạng ????

Ta nhớ lại những ngày xưa ngang dọc Mà giờ đây ôm hận suốt đêm thâu Hãy vùng lên có chỗ đứng ngẩng đầu Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt.

Hãy vươn lên dù chỉ còn chút sức, Hãy la to cho chằng lửa giật mình… …………………………………………………. Nói cho đã rồi sao lại nín thinh Vì vợ mới kêu ta ….đi rửa chén Thì rửa thôi (Dzậy thâu)!!!

Tác gỉả:  không Biết

PHỤ LỤC

Nhớ Rừng

Tác giả:

Thế Lữ

Tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi, Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi. Ta biết ta chúa tể muôn của loài Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị, Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ! Có biết chăng trong những ngày ngao ngán Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn Để hồn ta phảng phất được gần ngươi Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

1936 THẾ LỮ

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Chuyện Voi Hổ Thỏ Và Khỉ

– Bác với tôi đều là bậc anh hùng ở chốn sơn lâm, mỗi lần đi đến đâu, mọi thú vật đêu khiếp sợ. Nay tôi muốn thi tài với bác một chuyến chơi, nếu bác vui lòng thì hai chúng ta cùng nhảy qua một cái ngòi trước mặt đây, hễ bên nào không nhảy được thì sáng mai đến đây đưa thân cho kẻ được cuộc tha hồ mà chén thịt hay chà đạp thế nào tùy ý. Nào bác xem chừng có đủ sức đọ tài với tôi chăng?

Nghe hổ nói khích, voi khẳng khái đáp ngay: “Được, tôi sợ gì mà không thi”. Nói rồi cả hai cùng nhảy qua ngòi. Hổ làm một vọt sang bờ bên kia như bỡn. Nhưng voi vốn nặng nề cất mình không nổi, bị sa xuống dòng nước. Chân voi tụt xuống bùn lầy làm cho hổ phải xuống kéo mãi đến tối ngày mới đưa lên được. Rồi đó cả hai ai về nhà nấy.

Giữ đúng lời hẹn, sáng hôm sau voi phải đi nộp xác cho hổ ăn thịt. Biết hổ chẳng tha cho nào, voi thấy chân rã rời, bước không nổi. Bỗng thỏ từ sau một gốc cây lớn tiến đến trước mặt voi. Thỏ chào hỏi, voi không buồn đáp lại. Thấy voi buồn thỉu buồn thiu, thỏ hỏi:

– Bác voi! Sao bác buồn thế? Có việc gì đáng lo xảy ra hay sao? Bác cứ kể cho tôi biết đi. Chưa biết chừng tôi sẽ giúp ích cho bác nhiều…

Voi dừng lại, kể cho người bạn nhỏ nghe câu chuyện nhảy thi với hổ ngày hôm qua và nói:

– Đêm về tôi nghĩ lại biết mình thi nhảy với hắn là khờ. Nhưng bây giờ đã lỡ thì biết làm thế nào?

Thỏ bảo:

– Thế sao bác không trốn đi, đừng ra đấy có hơn không?

– Không được – voi trả lời – Tôi thà chết chứ không muốn sai lời đã hẹn.

Thỏ nghĩ một lát, nói: “Tôi có một kế cứu bác nếu bác bằng lòng làm theo đúng lời tôi dặn” – “Kế ấy thế nào?” – “Kế này cốt yếu nhất là tôi bảo sao bác phải làm đúng như thế mới được”. Nói rồi, thỏ đi kiếm lá cây trùm lên đầu mình, cải trang thành một con vật khác hẳn. Đoạn cả hai con cùng đến chỗ hẹn với hổ. Thỏ bắt voi nằm ngửa giơ bốn chân lên trời không cụ cựa.

Lại nói chuyện hổ từ hôm qua được cuộc, trong bụng vô cùng mừng rỡ. Sáng mai ngủ dậy, hổ hí hửng chờ đến lúc được chén thịt voi. Nhưng khi sắp sửa đến chỗ hẹn, hổ nhìn thấy một cảnh lạ mắt mà hắn không bao giờ ngờ tới. Trước mặt hổ, voi đã nằm chết chỏng cẳng và trên mình voi có một con vật nào là lạ đang hùng hục chén thịt. Mà con vật ấy chỉ bé bằng đầu vòi voi mà thôi.

– Lạ thật! Không biết con vật nào kia chỉ có một tý tẹo thế mà dám cả gan vật voi ăn thịt. Voi còn thế, huống chi là mình, không khéo nó nhìn thấy thì bỏ xác.

Nghĩ vậy hổ rụt rè không dám tiến nữa, rồi rón rén quay trở lại, lùi một mạch về nhà. Dọc đường bỗng có khỉ ở trên cây hỏi vọng xuống:

– Bác hổ, sao bác vội thế? Có việc gì đấy?

Nghe khỉ hỏi, hổ hoàn hồn dừng lại, kể chuyện vừa rồi cho nghe. Kể xong, hổ chưa hết sợ hãi toan bỏ đi. Nhưng khỉ vội giữ hổ lại mà nói:

– Bác đừng sợ! Đây chắc là có mưu mẹo gì đấy thôi! Bác cứ trở lại chỉ cho tôi thấy đi.

Thấy hổ còn ngần ngại, khỉ lại nói:

– Nếu bác sợ tôi đánh lừa thì bác cứ buộc người tôi vào chân của bác, hễ bác ở đâu có tôi đó, bác đừng ngại!

Nói xong, khỉ đi lấy dây nâu buộc thân mình nối liền với chân sau hổ rồi cả hai cùng trở lại. Khi thỏ thấy hổ và khỉ dẫn nhau tới, biết ngay có khỉ làm quân sư liền không để cho chúng kịp giở mưu mô, vội cất tiếng the thé mắng phủ đầu rằng:

– Này khỉ kia, sao mày chậm thế? Cha mày xưa nợ của tao tính ra đến mười con hổ, vậy mà mãi đến bây giờ mày mới đưa đến được một con. Tại sao mày chây lười đến thế. Muốn tốt phải trả cho đủ số, nếu không tao sẽ xé nhỏ xác mày ra.

Nghe nói, hổ tưởng khỉ đánh lừa đem mình đi gán nợ cho con vật dữ tợn kia, bèn hốt hoảng cong đuôi chạy một mạch không dám ngoảnh cổ lại. Hổ chạy mãi, chạy mãi, cho đến lúc thấy mồ hôi toát ra đầy người, mệt hết sức, mới dừng lại, nhìn lại khỉ thì khỉ đã chết nhăn răng từ bao giờ rồi. Thế mà hổ tưởng là khỉ còn sống liền mắng cho một trận, và nói:

– Đã thế mà mày còn nhăn răng ra mà cười à?

Có câu tục ngữ ” To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn“. Lại có câu “Nợ mười hùm chưa đủ, mưu một khỉ thấm chi” đều do truyện trên này mà ra.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đường Bá Hổ – Đòa Hoa Am Ca trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!