Xu Hướng 2/2024 # Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lời Mẹ Dặn # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lời Mẹ Dặn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi

Mẹ tôi thương con không lấy chồng

Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ

Ngày ấy tôi mới lên năm

Có lần tôi nói dối mẹ

Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn

Ôm tôi hôn lên mái tóc

Con ơi

trước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật.

Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao doạ giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin

Cho tôi là con vẹt nhỏ

Nhưng không! những lời dặn đó

In vào trí óc của tôi

Như trang giấy trắng tuyệt vời.

In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao doạ giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật

chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Phân tích bài thơ Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán

Bài thơ “Chống tham ô lãng phí” trong Giai phẩm mùa Thu tập II (9-1956) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố”, Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958, những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước.

Đối với người miền Nam xa quê hương, thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè, dễ làm người trẻ tuổi trở nên hoang mang tuyệt vọng, dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết.

Nhưng Phùng Quán thì không! Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi các báo Nhân văn, Giai phẩm bị đình bản, năm 1957 nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ. Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ “Lời mẹ dặn” gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của trí thức văn nghệ sĩ.

“Lời mẹ dặn” là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ, nhưng lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một kiệt tác thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý: “Tôi mồ côi cha năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn / Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn/ Ôm tôi hôn lên mái tóc…”

” Con ơi… trước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật “

Đến đây thì tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì?” – Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời. “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối để tồn tại hoặc để được vinh thân. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán: “Bé ơi, bé yêu ai nhất?/ Bé yêu những người chân thật.” Từ chỗ phải làm người chân thật đến thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội.

” Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc “

Câu giải thích bước đầu của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười – thấy buồn muốn khóc là khóc. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu con người luôn sống ngược lại với ý nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá!

” Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét “

Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu – Ghét ai cứ bảo là ghét…”. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính.

Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “Yêu ai cứ bảo là yêu – Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không! Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:

” Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao doạ giết

Cũng không nói ghét thành yêu “

Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét – nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh liệt nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi, v.v

Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra những thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước.

Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời, đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn”, “gọi: dạ, bảo: vâng”, không có tính độc lập suy nghĩ,

” Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

Người làm xiếc đi trên dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật “

Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều: Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Tập thơ Chân dung của Xuân Sách vẽ rất rõ chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời, vì lý do này lý do khác, đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:

” Tôi muốn làm nhà thơ chân thật

Chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. “

Tác giả bài thơ “Lời mẹ dặn – Thật hay không?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá, nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải yêu ai, nên ghét ai.

Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ “Lời mẹ dặn”, cùng với bài “Chống tham ô lãng phí” là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một cái tên trong bộ “bộ tứ” của Nhân văn-Giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”.

Sinh thời, Phùng Quán kể với tôi rằng khi đọc bài thơ ký tên Trúc Chi kia đăng trên báo Nhân dân, anh vừa buồn cười vừa tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Ở Hải Phòng có nhà văn miền Nam tập kết tên là Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”. Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?”, nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra: “‘Lời mẹ dặn’ là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng.

Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được!”. Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ Một đôi vần của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do NXB Văn hoá Dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “Lời mẹ dặn – Thật hay không?” nói trên. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh, xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc.

Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. “Lời mẹ dặn” là một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết… Cũng không nói ghét thành yêu…

Lời Mẹ Dặn của nhà thơ Phùng Quán mang một ý nghĩa đặc sắc được bạn đọc yêu thích và tìm kiếm. Bài thơ được xem là một thi phẩm mang giá trị to lớn và vẹn nguyên đến ngày hôm nay. Qua bài thơ chúng ta cảm nhận được lòng kiên quyết cùng khí phách của nhà thơ Phùng Quán. Hy vọng các bạn sẽ yêu thích bài viết này của chúng tôi. Cảm ơn các bạn rất nhiều! Theo chúng tôi

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Dặn Con

– Nhà thơ Trần Nhuận Minh sinh ngày 20/8/1944, quê ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

– Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1982, uỷ viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam.

– Hiện ông đang sống và viết tại Hạ Long, Quảng Ninh. Từ năm 1962 đến 1969, ông dạy học cấp II tại khu Hồng Quảng rồi tỉnh Quảng Ninh.

– Từ 1969 đến 2005, ông công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, từng làm Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, Tổng biên tập báo Hạ Long.

+ Các tác phẩm:

– Đấy là tình yêu (1971)

– Âm điệu một vùng đất (1980)

– Thành phố bên này sông (1982)

– Nhà thơ áp tải (1989)

– Hoa cỏ (1992)

– Nhà thơ và hoa cỏ (1993)

– Giọt phù sa vạn dặm (2000)

– Bản Xônat hoang dã (2003)

– Thơ với tuổi thơ (2003)

– Gửi lại dọc đường (2005)

– Tuyển thơ 1960 – 2003 (2005)

– 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007)

– Miền dân gian mây trắng (2008)

– Bốn mùa (song ngữ Việt Anh 2008)

+ Giải thưởng văn chương:

– Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1980) – tập thơ Âm điệu một vùng đất

– Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1990) – tập thơ Nhà thơ áp tải

– Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (1979) – tập Trước mùa mưa bão

II. Bài Thơ Dặn Con Của Nhà Thơ Trần Nhuận Minh

Trần Nhuận Minh được biết đến là một nhà thơ có ngòi bút tinh tế và tài hoa. Thơ ông nhẹ nhàng, mộc mạc đan xen chất trữ tình sâu sắc. Những bài thơ của ông có ý nghĩa vô cùng to lớn nên để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả. Trong đó bài thơ Dặn Con là một tác phẩm tiêu biểu khi ẩn chứa trong đó là một bài học sâu xa

Chẳng ai muốn làm hành khất

Tội trời đày ở nhân gian

Con không được cười giễu họ

Dù họ hôi hám úa tàn

Nhà mình sát đường, họ đến

Có cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏi

Quê hương họ ở nơi nào

Con chó nhà mình rất hư

Cứ thấy ăn mày là cắn

Con phải răn dạy nó đi

Nếu không thì con đem bán

Mình tạm gọi là no ấm

Ai biết cơ trời vần xoay

Lòng tốt gửi vào thiên hạ

Biết đâu nuôi bố sau này…

Với bài thơ Dặn con của nhà thơ Trần Nhuận Minh thì việc dạy con chỉ thông qua lời dặn dò giản đơn nhưng cũng hết sức sâu sắc và có ý nghĩa.

Có lẽ có rất nhiều điều để Trần Nhuận Minh truyền đạt cho con nhưng trước hết ông đã dạy cho con về lòng yêu thương con người, đó là hạt nhân cơ bản, cốt lõi, bài học mà ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ thời đại nào con người ta cũng cần phải có. Đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hiện nay, nhiều người chỉ chú trọng của cải vật chất, coi trọng đồng tiền mà quên đi nhiều thứ. Trong đó có tình yêu thương con người, đồng loại một thứ tình cảm thiêng liêng quý báu nhưng ngày càng phai nhạt.

Cả bài thơ chỉ là lời dặn dò của người cha, lời dặn ấy chính là bài học mà người cha chỉ cho đứa con thấy những việc cần làm, nên làm, những điều cần tránh, không nên làm.

Mở đầu bài thơ, người bố đưa ra một nhận định về cuộc đời, lẽ đời. Từ đó người bố tạo cơ sở đưa đứa con vào những suy ngẫm, để từ những suy ngẫm đó mà con sẽ hành động đúng theo những lời bố dặn.

” Chẳng ai muốn làm hành khất

Tội trời đày ở nhân gian”

Nhà thơ đã khéo léo đưa ra việc có người hành khất đến nhà, lý do cũng đơn giản là vì nhà mình sát đường họ đến. Nhằm mục đích giáo dục con không được có thái độ giễu cợt, xúc phạm họ. Vì trên đời này không ai muốn mình phải làm hành khất, không ai muốn ngửa tay ra xin từng miếng ăn, từng đồng tiền của người khác. Bản thân họ cũng đau xót, tủi hổ và nhục nhã lắm chứ!

Do vậy ăn mày có đến, dù ít dù nhiều con phải cho họ, và con không được hỏi gốc tích, quê hương. Con hỏi kỹ về họ có nghĩa là con đang chọc vào nỗi đau, làm thức dậy những quá khứ buồn, những tổn thất, mất mát lớn lao không thể nào bù đắp được.

Người cha thật tinh tế, quan sát kỹ mọi điều và căn dặn thêm đứa con của mình:

” Con chó nhà mình rất hư

Cứ thấy ăn mày là cắn”

Dặn con về lòng thương người, người bố nói đến con chó, một con vật nuôi thân thuộc trong chính ngôi nhà của mình. Để đứa con thấy rằng: con chó thấy người ăn mày rách rưới, dơ bẩn vào nhà là cắn. Những hành động ấy của con chó là không thể chấp nhận được, nó không được có thái độ hung hăng và khinh người như vậy. Con phải răn dạy nó, nếu nó không bỏ được cái tật đó thì con hãy bán nó đi. Dẫu biết rằng chó là một con vật nuôi nhưng khi nó được nuôi trong gia đình này thì buộc nó cũng phải sống tình nghĩa, biết yêu thương và không được có thái độ không tốt như thế.

Một cách giáo dục con nhẹ nhàng nhưng đầy ý nghĩa. Con nên nhớ rằng: việc cho người hành khất là một việc làm tuỳ tâm, một sự giúp đỡ nhỏ nhoi, không ràng buộc. Nhưng như thế không có nghĩa là khi cho họ rồi con sẽ có thái độ không tốt hoặc buộc họ phải mang ơn. Bởi trong thực tế cuộc đời này, nhiều người có thái độ khinh bỉ, xúc phạm và rất coi thường người hành khất. Có người cho người hành khất như là việc bố thí, có người coi đó là việc cực chẳng đã phải làm chứ họ chẳng rung động thông cảm, có người lấy đó làm một việc làm lớn lao mà người nhận phải mang ân huệ. Làm như thế thì không nên!

Vốn là người từng trải người bố đã nghĩ rất thấu đáo và sâu sắc mọi điều. Hiện tại người bố nhận thấy “Mình tạm gọi là no ấm”. Nghĩa là dù sao gia đình mình vẫn còn quá ấm cúng và hạnh phúc so với nhiều gia đình, nhiều hoàn cảnh, nhiều mảnh đời bất hạnh cần sự cưu mang, sẻ chia giúp đỡ của cộng đồng.

Nhưng biết đâu được cơ trời vần xoay, một ngày nào đó bố cũng trở thành người hành khất! Cho nên việc con làm bây giờ đó là việc tu nhân tích đức, một việc làm hết sức có ý nghĩa. Và rồi một ngày nào đó nhỡ bố có là người hành khất thì người ta sẽ giúp bố, biết đâu!

Cái hay của bài thơ có lẽ nằm ở khổ thơ cuối này. Nó có ý nghĩa như sự giải thích rõ thêm vì sao đứa con phải làm những điều bố dặn. Nếu mở đầu bài thơ “Chẳng ai muốn làm hành khất” thì đến cuối bài Trần Nhuận Minh lại nói “Ai biết cơ trời vần xoay”- Nghĩa là ai cũng có thể trở thành hành khất, kể cả bố đây!

Lời dặn con hết sức giản dị, nhưng cũng hàm chứa những ẩn ý sâu xa. Người bố không chỉ dặn đứa con của mình mà qua đó ông đã đánh thức lòng trắc ẩn, sự yêu thương sẻ chia, khơi dậy lòng tốt, tấm lòng từ thiện của nhiều người. Để rồi họ nhận ra rằng việc giúp đỡ người bất hạnh, người hành khất, những người có hoàn cảnh không may … đó chính là việc nghĩa mà họ cần phải nên làm, dù rằng đây là hành động không ai bắt buộc chỉ là tuỳ tâm, tuỳ thích!

Của cho ấy là của gửi, ta cho người hành khất tức là ta đã gửi lòng tốt vào trong thiên hạ. Rồi biết đâu, cuộc đời thăng trầm, dâu bể, một ngày nào đó mỗi người trong chúng ta ai cũng có thể trở thành hành khất. Khi ấy người ta cũng sẽ đối xử tốt như ta đã đối xử, giúp đỡ những người hành khất năm nào!

Với những từ ngữ, câu chữ mộc mạc, giản dị, cái nhìn tinh tế và những trải nghiệm về đời sống. Trần Nhuận Minh đã đem đến cho công chúng một bài thơ hay, một bài học đạo đức có ý nghĩa. Để con khôn lớn thành người có nhiều điều mà người bố phải dạy cho con. Nhưng cái quan trọng trước tiên nhất đó là dạy con lòng yêu thương con người. Lời dặn con của nhà thơ cũng chính là điều mà các bậc làm cha làm mẹ cần phải dạy cho con mình.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Mẹ Suốt

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Mẹ suốt

Tháng 11 năm 1965, nhà thơ Tố Hữu, lúc đó là Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, đến Đồng Hới, Quảng Bình. Sau khi nói chuyện với mẹ Suốt (4 tháng 11), nhà thơ đã sáng tác bài thơ nổi tiếng mang tên Mẹ Suốt. Ngay sau khi ra đời, bài thơ được đăng trên Báo Nhân dân và đã trở nên quen thuộc với công chúng, đặc biệt với hình ảnh bà mẹ Nguyễn Thị Suốt.

Cuối năm 1968, trong một lần đi ở bến đò Bảo Ninh, mẹ Suốt mất trong một trận bom bi oanh tạc Mỹ.

Năm 1980 để tưởng nhớ và thể hiện sự cảm kích về một người mẹ anh hùng của quê hương. Ủy ban Nhân dân thị xã Đồng Hới đã cho xây dựng bia đài Mẹ Suốt nằm giữa trung tâm bến đò, và bức tượng mẹ Suốt được đặt gần cầu Nhật Lệ, trên con đường mang tên Mẹ Suốt.

Lặng nghe mẹ kể ngày xưa

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình

Mẹ rằng: Quê mẹ Bảo Ninh

Mênh mông sông biển, lênh đênh mạn thuyền

Sớm chiều, nước xuống triều lên

Cực thân từ thuở mới lên chín mười

Lớn đi ở bốn cửa người

Mười hai năm lẻ, một thời xuân qua

Lấy chồng, cũng khổ con ra

Tám lần đẻ, mấy lần sa, tội tình!

Nghĩ mà thương mẹ cha sinh

Thương chồng con lại thương mình xót xa

Bây chừ sông nước về ta

Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào

Bây giờ biển rộng trời cao

Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân!

Ông nhà theo bạn “xuất quân”

Tui nay cũng được vô chân “sẵn sàng”

Một tay lái chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng gió tàu bay

Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!

Kể chi tuổi tác già nua

Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ…

Gan chi gan rứa, mẹ nờ?

Mẹ rằng: Cứu nước mình chờ chi ai?

Chẳng bằng con gái, con trai

Sáu mươi còn một chút tài đò đưa

Tàu bay hắn bắn sớm trưa

Thì tui cứ việc sớm trưa đưa đò…

Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:

Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu

Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!

Nghe ra, ông cũng vui lòng

Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò:

“Coi chừng sóng lớn, gió to

Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!”

Vui sao, câu chuyện ơn tình

Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say…

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Cha Mẹ Dặn Dò Con Trước Khi Về Làm Dâu, Rể Mới Nhất

Tác giả: Quang Tuấn

Con à phải nhớ nghe không Phải luôn yêu quý nhà chồng đó nha Mẹ chồng cũng giống mẹ taAnh em chồng cũng chính là người thân

Lỡ mai cuộc sống gian truân Vợ chồng càng phải đồng lòng vượt qua Đôi lúc giận hờn con à Cũng đừng cáu gắt nói ra nặng lời

Tam tòng tứ đức con ơi Nữ công gia chánh muôn đời chồng yêu.

BÀI THƠ: MẤY LỜI DẠY CON

Tác giả: Cảnh Phong

Nữ trang điện thoại cầm tayHọc hành lo lắng đủ đầy con ơi Mẹ đang lòng dạ rối bờiCon yêu, có lớn mà người chưa khôn

BÀI THƠ: LỜI CHA DẶN CON TRAI

Tác giả: Sở Lưu Hương

Sinh ra làm kiếp đàn bà Sống trong sung sướng cũng là khổ hơn

Đừng gây ra chuyện dỗi hờn Đi chơi bỏ vợ cô đơn một mình Đàn ông trụ cột gia đình Phải yêu thương lấy vợ mình bít chưa

BÀI THƠ: LỜI MẸ DẶN CON GÁI

Tác giả: Sở Lưu Hương

Sau này con cái kết hôn Con sẽ giống mẹ dạy con bây giờ Cuộc sống chẳng giống như mơ Nên đừng dựa dẫm trông chờ vào ai

THƠ VUI: LỜI MÁ DẶN LÚC VU QUY

Tác giả: Đinh Kim Chung

Bài họa của Thanh Nguyen Hoang

THƠ VUI: HỒI MÔN CHO CON

Thơ: Hai Danh

BÀI THƠ: CON YÊU!

Thơ: MamiVam

Nếu một ngày con lạc lối lầm đường Mẹ là nơi cho con khờ nương tựa Không hoa mĩ, không một lần hẹn hứa Cả cuộc đời là chỗ dựa tin yêu!

Hãy trở về khi trống trải…chơi vơi!

BÀI THƠ: PHẬN LÀM DÂU

Thơ: Trần Văn Nghệ

Khi đến bữa món ngon đừng giấu Ăn một mình góc dậu, bờ ao Mà nên sởi lởi mời chào Ông bà, cô bác ngọt ngào thảo thơm.

Nó uống rượu chẳng may say sỉn Thật nhẹ nhàng tay vịn dìu thôi Chớ nên mắng nhiếc dạy đời Nổi khùng nó đánh răng rơi cả hàm.

Giờ tạm biệt con nên ghi nhớ Để từ mai làm vợ người ta Xa rồi Lòng Mẹ, Tay Cha Mấy lời mẹ dặn con đà khắc tâm.

Theo chúng tôi

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lời Kỹ Nữ

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;

Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!

Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá!

Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.

Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ.

Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.

Gió theo trăng từ biển thổi qua non;

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.

Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn,

Chớ để riêng em phải gặp lòng em;

Tay ái ân du khách hãy làm rèm,

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng

Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,

Trôi phiêu liêu không vọng bến hay gành;

Vì mình em không được quấn chân anh,

Tóc không phải những dây tình vướng víu,

Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo,

Trời đầy trăng, lạnh lẽo suốt xương da.

Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.

Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.

Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.

Du khách đi. Du khách đã đi rồi.

Phân tích nỗi niềm người kỹ nữ trong bài thơ Lời Kỹ Nữ của Xuân Diệu

Mỗi lần cầm bút viết về chàng trai trẻ “tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây ” người ta thường nghĩ về những cuộc tình hồ hởi, vồ vập, những say mê đắm chìm, hạnh phúc, chia lìa tan vỡ, ngọt ngào và cay đắng, ấy là quy luật của tình yêu muôn thuở.

Lời kỹ nữ là một bài thơ hay. Cái hay của những câu chữ giăng mắc khẽ khàng và cái hay của cả một tâm lòng. Giữa dòng chảy của cuộc sông, ngày ngày có bao nhiêu người kỹ nữ đi qua trước mặt ta, có biết bao nhiêu ánh mắt xoi mói, tật nguyền lướt qua họ, chỉ bằng nửa ánh nhìn, và liệu còn có ai đó cúi xuống vớt những mảnh đời ấy lên – những mảnh đời khôn khổ. Cứu sống một linh hồn là việc làm cao cả, nhân đức.

Xuân Diệu lại bắt gặp người kỹ nữ ở cái khát khao kiếm tìm một tình yêu chân chính, trung thực trong một tâm hồn mà người đời cho là “rách nát”. Cuộc đời của những cô gái “bán hoa”, những cô gái làm “ca kỹ” cũng chỉ là những chuỗi ngày mời gọi, níu giữ, van lơn rồi tuyệt vọng … Xuân Diệu mở lời cho người kỹ nữ bằng một giọng điệu thật nồng nàn tha thiết – Cái nồng nàn tha thiết của một kẻ bị cuộc đời rũ bỏ.

” Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

Vội vàng chi trăng sáng quá khách ơi.”

Một cô gái ở hội làng chơi tưởng như ngôn ngữ sẽ kệch cỡm biết chừng nào, nhưng nàng rất “văn hóa”. Một lời chào mời như thế hẳn là giữ được khách, vậy mà không, bao nhiêu năm học được cái nghề này nhưng giữ chân được một người đàn ông ở lại không phải dễ. Cái kiểu đàn ông đến với nàng chỉ là kiểu “chơi hoa cho rữa nhụy dần mới thôi”. Nàng còn chờ đợi gì? Ây mà họ vẫn chối bỏ nàng.

Cái chìm lấp trong câu thơ, cái gợi tứ cho câu thơ, đấy là sự đối lập giữa cái giục giã tha thiết của cô gái muôn giữ người khách ở lại với cái gấp gáp của vị khách làng chơi, hôi hả ra đi. Làm cái nghề “đưa người cửa trước, rước người cửa sau”, nàng còn dám nghĩ gì hai từ vinh nhục, miễn sao giữ được khách ở lại đó là thành công của nàng

” Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời

Khách không ở lòng em cô độc quá.”

Nàng vẫn sợ cô độc. Một cô gái tưởng chừng như không còn màng đến danh lợi của cuộc đời, khi cuộc đời đã nhấn chìm nàng, nàng vẫn cô thoi thóp, hình như nàng vẫn còn luyến tiếc, nàng đang cố lần tìm một chút tình người còn sót lại giữa nhân gian.

Ở đây, Xuân Diệu không nói đến “trăng” mà là “rằm”, không phải “sao sáng” mà “yến tiệc” sáng, tát cả chỉ làm cho lòng nàng đơn độc, chới với thêm. Nàng cần có một người để sẻ chia chỉ trong đêm nay thôi, liệu khách có ở lại cùng nàng? Câu thơ trĩu nặng một nỗi buồn nhân bản sâu sắc.

Có cái lả lơi của một lời mời gọi tình tứ tắm đẫm màu sắc lãng mạn, có cả cái xót xa chua chát đến trụi trần của một tâm hồn khao khát được hiến dâng cho đời mà chỉ được đời trả lại toàn cay đắng.

” Tay em đây mời khách ngả đầu say

Đây rượu nồng và hồn của em đây

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.”

Chẳng còn gì để cho thêm, một vòng tay, li rượu nồng và cả tâm hồn của nàng đó là những gì nàng có, đó là gia tài của nàng, nàng dám đánh đổi tất cả chỉ cầu mong cuộc đời đừng bạc bẽo với nàng.

” Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.”

Trước mắt nàng giờ đây là bóng dáng của một chàng hoàng tử hào hoa, lịch thiệp, câu thơ đắm mình trong dâng hiến, một sự hiến dâng không vụ lợi toan tính. Nàng đem trao tặng cả khôi tình của mình, chỉ cầu xin một chút tình đáp lại cũng thỏa lòng. Nàng mạnh dạn, táo bao rồi lại run rẩy tưởng chừng như khẩn thiết van lơn, có nghĩa nàng đã ý thức rất rõ việc nàng làm. Có gì đau đớn hơn khi chính mình biết được đấy là điều không nên mà cứ dấn thân vào, bởi thế mà cuộc sông trỏ nên chát chúa với nàng.

” Chớ đạp hồn em trăng từ viễn xứ

Đi khoan thai lèn ngự đỉnh trời tròn

Gió theo trăng từ biển thổi qua non

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn

Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn

Chớ để riêng em phải gặp lòng em.”

Nàng phát hoảng khi phải đối diện với lòng mình, đó là lúc nàng thấy khó khăn nhất. Chớ – gặp, cặp từ ấy sóng đôi đi bên nhau trong một câu thơ nhưng lại loại trừ nhau. Nàng sợ lắm khi phải đôi diện với sự thật. Không! Nàng không dám gặp riêng chính mình, nàng khấn nguyện hãy để cho nàng được yên, được sông, cuộc sông quên di bao tháng ngày, quên đi cảnh tượng trớ trêu mà nàng đang chịu đựng, nàng sẽ tha hồ, mặc sức mà chiều chuộng những người khách qua đường.

Nàng đã làm gì – điều đó nàng không cần biết, chỉ biết rằng đừng bao giờ để nàng phải bắt gặp lòng mình. Đừng bao giờ để nàng đơn độc với phòng không bóng lẻ. Trước đây trong Cung oán ngâm khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã làm nổi bật được cái cô độc đến rợn ngợp của người cung nữ. Người cung nữ và người kỹ nữ có chỗ giông nhau và khác nhau: nàng cung nữ có lúc còn được ngẩng cao đầu để mà kiêu hãnh còn nàng kỹ nữ của Xuân Diệu không mảy may có được một lần đăng quang trong cuộc đời, dẩu đó chỉ là một vài phút giây thoáng qua để làm ấm lòng nàng.

Nàng bị chối bỏ và khước từ tất cả, dù nàng đã sống hết mình cho cuộc sông. Chính vì vậy mà nàng kinh hãi khi phải phán xét chính mình, nàng lầm lũi đi trong bóng đêm ghẻ lạnh, cuộc đời vẫn cắn xé thân phận nàng. Những lần đón đưa mời mọc môi cười mà nước mắt vẫn rơi đấy thôi, những giọt nước mắt lặn sâu tận đáy lòng, đắng cay, tủi hận. Xót xa thay trần thế tàn nhẫn với nàng, mà nàng vẫn khao khát với đời.

Tay ái ân du khách hãy làm rèm Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng Trôi phiêu du không đợi bến hay ghềnh Vì mình em không được quấn chân anh Tóc không phải sợi dây tình vướng víu Ngày tháng bập bềnh trôi, nàng ngụp lặn giữa những cuộc truy hoan.

Nàng không cầu mong gì tìm kiếm lại cuộc sông giản dị giữa đời thường, giờ này nàng chỉ ao ước được sông hết những ngày còn lại bằng những gì nàng đã sông. Nàng đâm liều và không còn biết đến ngày mai, thân phận nàng làm gì có bến đỗ. Nàng bỗng nhận ra một điều: tất cả những gì nàng có không thể nào níu giữ được nữa rồi, nàng chỉ giữ khách lại trong chôh lát, không giữ được cả cuộc đời.

Cuộc tình của nàng đã vỡ. Cái sợ hãi này đến sợ hãi khác cứ bủa vây lấy nàng. Cái mà nàng không thế chiến thắng nổi đó là sự cô độc. Nàng run lên và thảng thốt giật mình khi phải nghĩ đến điều đó.

” Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo

Trời đầy sương lạnh lẽo thấu xương da

Người giai nhân bến đợi dưới cây già

Tình du khách thuyền qua không buộc chặt

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi

Người viễn du lòng bỗng nhớ xa khơi

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.”

Hiếm khi ta thây Xuân Diệu nhắc đến chuyện nhân tình thế thái, thế nhưng “lời kỹ nữ” đã nói với chúng ta bao điều nghĩa lí ở đời. Nhà thơ nghẹn ngào khóc một tiếng khóc cao cả cho cuộc đời người kỹ nữ – khóc cho con người mà người đời xua đuổi, chối bỏ.

” Xao xác tiếng gà trăng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi

Du khách đi du khách đã đi rồi.”

Cái mờ nhòa nhập nhòe trước mặt người kỹ nữ là một dòng sông đời đang cuộn trôi, tôi có cảm giác người kỹ nữ ngồi dấy bất động như không còn tha thiết điều gì nữa. Hai chữ “run mờ” không làm cho câu thơ lạc điệu mà chỉ nhấn thêm một nô”t nhấn thê thảm trong chuỗi đời buồn bã của nàng. Câu thơ gợi cảm giác ớn lạnh, rưng rức một nỗi niềm khó diễn đạt thành lời.

Đấy không phải là đôi mắt nhòe nhoẹt nước, cũng chẳng phải là đôi mắt ráo hoảnh của một kẻ không biết đau là gì, mà là đôi mắt của một cô gái đã mệt mỏi vì bụi bặm của cuộc đời. Nàng cảm nhận được rất rõ số phận của nàng cũng chẳng khác gì một khúc sông nước chảy thì bèo trôi và thuyền ai cứ lỡ làng.

Nàng không muốn buông xuôi cũng đành buông xuôi vậy, bởi sei phận đã an bài nàng ra thế. Câu thơ cuối làm chùng cả bài thơ, lời thơ êm vì số vần bằng nhiều mà vẫn trĩu nặng một nỗi buồn đau đáu. Cách ngắt nhịp ba / hai / một / hai, làm bẻ yụn cả câu thơ, giai điệu vừa dứt khoát khẳng định lại vừa nhùng nhằng luyến tiếc. Khẳng định cái vội vã của người đi và cái luyến lưu của người ở lại, đã tạo thành một khoảng lặng có thần cho bài thơ.

Câu thơ khép cả một đời người mà lại mở ra rất nhiều điều trong suy tưởng của người đọc. Điệp từ “du khách” được nhấn lại hai lần càng làm bật rõ tính chất của bước chân ra đi ấy là tất yếu. Bởi lẽ chính đó là những kẻ qua đường, tạm ghé chân trong giây lát, sáng ra họ lại phải “gỡ dây vướng để theo lời gió nước”. Cuộc đời người kỹ nữ là vậy, đón khách trong bóng đêm và nhiều lúc là không rõ cả mặt người. Xuân Diệu đã khơi được nỗi buồn sâu xa nhất, thầm kín nhất và cũng chân thật nhất của những sô” phận lỡ làng.

Ngày trước ỏ đời Đường, Bạch Cư Dị cũng đã khóc thương cho thân phận của người kỹ nữ, cảm thông những nỗi khổ đau mà nàng gánh chịu. Khóc thương và cứu vớt họ đã có nhiều nhà thơ làm được điều đó, thế nhưng không ở đâu ta thấy đứợc cái khát khao sông mãnh liệt muôn được cho và nhận như ở người kỹ nữ của Xuân Diệu. Chính cái ước vọng đó đã làm cho cuộc đời nàng trở nên bi kịch.

Bài thơ được viết trong cảm hứng lãng mạn mà lại giàu chất hiện thực đến nghẹn lòng. Giữa bước chân hôi hả đời thường đang xô đẩy nhau trên đường phố còn có bao nhiêu cô gái bán hoa, bao nhiêu tiếng nấc của người kỹ nữ?

Tôi đi giữa thành phố – phố phường sáng rực lên vì hoa và điện, nhốn nháo những cô gái “bán hoa”, trong số đó những ai đã buông thả bản thân mình, những ai đă từng một lần lầm lỡ và những ai đã bị cuộc đời đẩy xô? Tôi rùng mình nghĩ tới lời thơ Xuân Diệu và biết đâu họ cũng đang đau nỗi đau của nàng kỹ nữ, dẫu sao họ là những người đáng thương hơn là đáng giận, vẫn những ánh mắt đời thường kiêu bạc ném về phía họ. Tôi muôn hét to giữa thành phố’ đông người “xin đừng thờ ơ với nỗi đau của người khác.”

Bài thơ Lời kỹ nữ lại vang dội trong tôi, có ai hiểu được nỗi niềm của họ – nỗi niềm người kỹ nữ.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Mẹ Suốt (Tố Hữu)

Lặng nghe mẹ kể ngày xưa

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình

Mẹ rằng: Quê mẹ Bảo Ninh

Mênh mông sóng biển lênh đênh mạn thuyền

Sớm chiều nước xuống triều lên

Cực thân từ thuở mới lên chín mười

Lớn đi ở bốn kẻ người

Mười hai năm lẻ, một thời xuân qua

Lấy chồng cũng khổ con ra

Tám lần đẻ, mấy lần sa, tội tình!

Nghĩ mà thương mẹ cha sinh

Thương chồng con lại thương mình xót xa…

Bây chừ sông nước về ta

Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào

Bây chừ biển rộng trời cao

Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân!

Ông nhà theo bạn “xuất quân”

Tui may cũng được vô chân “sẵn sàng”

Một tay lái chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng nước tàu bay

Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!

Kể chi tuổi tác già nua

Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung trắng bờ…

Gan chi, gan rứa, mẹ nờ?

Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?

Chẳng bằng con gái, con trai

Sáu mươi còn một chút tài đò đưa

Tàu bay hắn bắn sớm trưa

Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò…

Ghé tai mẹ, tôi tò mò:

Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu

Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!

Nghe ra, ông cũng vui lòng

Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò:

“Coi chừng sóng lớn, gió to

Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!”

Vui sao câu chuyện ơn tình

Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say…

Câu chuyện về người mẹ anh hùng

Mẹ Suốt tên đầy đủ là Nguyễn Thị Suốt (1908 – 1968) là một nữ anh hùng lao động trong Chiến tranh Việt Nam. Và đây cũng chính là người đã lái đò chở bộ đội, thương binh qua sông Nhật Lệ trong thời gian từ 1964 – 1967. Bà sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo và từ nhỏ đã phải đi ở đợ. Đến sau cách mạng tháng 8 mới lấy chồng và làm nghề chèo đò kiếm sống qua ngày.

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào năm 1964 Mỹ đã bắt đầu đem quân đánh phá miền Bắc. Khi đó Quảng Bình là một trong những căn cứ trọng điểm và khi đó bà đã 58 tuổi nhưng vẫn nhận nhiệm vụ chở cán bộ, vũ khí qua sông. Kể từ đó trong những năm tiếp theo bà vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình. Và được những người cán bộ và bà con gọi với tên gọi là Mẹ Suốt. Mỗi năm mẹ đã chở khoảng 1400 chuyến đò.

Trong đai hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1966 Mẹ đã được mời tham dự và đến năm 1967 đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng giao thông vận tải trong chống Mỹ cứu nước.

Đến năm 1968 khi chiến tranh khốc liệt hơn mẹ phải dừng hoạt động chèo đò và di chuyển lên vùng cao hơn. Vào một ngày của tháng 8 năm 1968 khi đang đi sơ tán mẹ đã hy sinh dưới một trậ bom bi của Mỹ. Và sau đó đã được nhà nước công nhận là liệt sĩ. Năm 1980 nhân đân Đồng Hới đã dựng cho mẹ bia tượng đài Mẹ Suốt nằm giữa trung tâm của bến đò. Đến năm 2003, vào dịp cả nước mừng lễ Quốc khánh tượng đài Mẹ Suốt và quần thể khu tưởng niệm đã được khánh thành. Đây cũng chính là nơi tưởng nhớ, bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người phụ nữ bình thường nhưng lại rất đỗi anh hùng.

Còn về bài thơ Mẹ suốt được tác giả Tố Hữu sáng tác vào tháng 1 1 năm 1965. Khi đó nhà thơ Tố Hữu tức là phó trưởng ban tuyên giáo trung ương Đảng và có cuộc nói chuyện với mẹ. Và nhà thơ đã sáng tác bài thơ nổi tiếng này. Sau khi được sáng tác bài thơ đã được đăng tải trên báo Nhân dân và hình ảnh của Mẹ Suốt đã trở nên vô cùng quen thuộc với công chúng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Lời Mẹ Dặn trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!