Xu Hướng 2/2024 # Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Đi Học Minh Chính # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Đi Học Minh Chính được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài thơ Đi học với câu mở đầu “Hôm qua em tới trường” đã gợi lại trong lòng mỗi người ký ức đẹp đẽ về những năm tháng đầu tiên đi học. Đó là lần đầu đến trường em còn nhiều bỡ ngỡ nên mẹ phải dắt tay từng bước. Ấy vậy mà hôm nay mẹ lên nương nên em phải một mình tới lớp. Đó cũng chính là hình ảnh của những cô bé, cậu bé chăm ngoan.

Khung cảnh đặc trưng miền núi

Bên cạnh đó điểm ấn tượng của bài thơ cũng bởi nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh vùng trung du bằng chính những câu thơ của mình. Đó là những cảnh vật thân quen được khoác lên một màu sắc mới. Là rừng đồi vắng thơm ngát hương thơm, là nước suối cũng khẽ thầm thì tâm sự, là những tán cọ xòe râm mát để che đường em đi. Để thể hiện điều đó nhà thơ đã dùng các thủ pháp nhân hóa, so sánh cực tinh tế và biểu cảm. Chính điều này đã làm cho bài thơ có tính nhạc, tạo nên âm điệu nhịp nhàng như chính bước đi của bé. Đó là một bức tranh quê hương nghèo nhưng thanh bình và yên ả.

Giá trị của bài thơ Đi học

Toàn bài thơ ta cảm nhận được một không khí thanh khiết. Đó là tình mẹ, tình quê hương, tình thầy cô, bạn bè… Đây cũng chính là hiện thực nhưng nó cũng chính là ước mơ của các đứa trẻ. Đó cũng chính là lý do bài thơ này được đưa vào tuyển tập thơ Thiếu nhi Mặt trời xanh năm 1971 bởi nhà xuất bản Kim Đồng. Đó là mốc thời gian một năm sau khi Minh Chính hy sinh. Sau này bài thơ đã chạm tới được trái tim của nhạc sĩ Bùi Đình Thảo, và ông đã phổ thành bản nhạc cùng tên. Cũng đã rất nhiều năm bài thơ này được đưa vào chương trình giảng dạy của sách giáo khoa.

Bài thơ Đi học cũng đã vận dụng thành công âm hưởng dân ca Tày Nùng. Điều này đã tạo nên những nốt nhạc đầy trong sáng và sinh động. Nó cũng sẽ sống mãi trong lòng mỗi người đọc và góp phần nuôi dưỡng bao thế hệ trẻ thơ. Là hành trang cho chặng đường dài hướng tới tương lai sau này.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Học Rút Ra Từ Bài Thơ Lượm

Lượm ơi, còn không?

1. Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

Bài thơ Lượm được nhà thơ Tố Hữu sáng tác năm 1949, đây là giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Thời điểm đó, quân ta đóng ở đồn Mang Cá một cứ điểm quan trọng của Huế. Trong một trận tấn công vào đồn giặc, Lượm hi sinh. Tác giả biết tin, vô cùng xúc động và đã sáng tác nên bài thơ này (1949).

2. Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ

Bài thơ là sự kết hợp giữa lối kể chuyện kết hợp với miêu tả nhằm khắc họa nên hình ảnh sinh động về chú bé Lượm – chú bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi, hăng hái và dũng cảm.

Bài thơ Lượm, thuộc thể thể thơ bốn chữ, sử dụng nhiều từ láy có giá trị gợi hình và giàu âm điệu đã góp phần tạo nên thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật.

3. Phân tích bài thơ Lượm

Mở đầu bài thơ, tác giả dựng lại khung cảnh buổi gặp gỡ đáng nhớ giữa hai chú cháu:

Cuộc gặp gỡ của hai chú cháu diễn tra trong khoảng thời gian và không gian vô cùng đặc biệt. Thời gian đó là vào ngày Huế đổ máu, đó chính là ngày người dân Huế chiến đấu ác liệt để chống lại giặc Mỹ xâm lược. Địa điểm gặp đó là ở Hàng Bé. Một cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng để lại những kí ức về một chú bé liên lạc vô cùng sâu đậm.

Những câu thơ tiếp đến là sự miêu tả hình ảnh Lượm:

Nhà thơ dành tình cảm đặc biệt của mình để miêu tả nhân vật Lượm, đó là dáng vẻ loắt chắt đã nhỏ lại gầy nhưng vô cùng nhanh nhẹn và tinh nghịch. Đầu nghênh nghênh, lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia. Nhịp thơ nhanh gợi lên hình ảnh chú bé vui tươi, nhí nhảnh, yêu đời.

Sự miêu tả ngoại hình bền ngoài phần nào thể hiện được tính cach bên trong của Lượm. Ca lô không chịu đội thẳng mà đội lệch. Miệng luôn huýt sáo vang. Lượm chẳng khác nào như con chim chích bé nhỏ nhảy trên đường vàng.

Lượm kể chuyện với chú vô cùng hồn nhiên:

Những câu thơ diễn tả niềm vui, sự thích thú của Lượm khi được giao làm nhiệm vụ liên lạc. Cái vui của Lượm bắt đầu từ niềm vui của đất nước, của dân tộc.

Cháu cười híp mí

Má đỏ bồ quân

– “Thôi, chào đồng chí!”

Cháu đi xa dần…

Niềm vui của Lượm là niềm vui của lứa tuổi ấu thơ, vô cùng hiếu động đầy sức sống. Những câu thơ này là sự chia tay đối với người Chú ẩn chứa niềm vui nhưng vô cùng nghiêm túc của một người đồng chí tham gia kháng chiến.

Đoạn thơ dùng thể thơ bốn chữ, nhịp nhanh, cùng nhiều từ láy (loắt choắt, thoăn thoát, nghênh nghênh) góp phần thể hiện hình ảnh Lượm – một em bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi) say mê tham gia công tác kháng chiến thật đáng mến, đáng yêu.

Câu chuyện của Lượm trong chuyến đi liên lạc cuối cùng được kể qua lời của người kể với những cảm xúc đau xót, tiếc thương, tự hào được biểu hiện trực tiếp và qua cả cách nhìn, cách miêu tả.

Khi nghe tin Lượm hi sinh, tác giả đau đớn thốt lên: Ra thế Lượm ơi!…

Kỉ niệm về cuộc gặp gỡ với chú bé liên lạc còn tươi nguyên trong lòng nhà thơ thì bỗng dưng có tin chẳng lành. Câu thơ bình thường bỗng nhiên bị ngắt làm đôi. Ám hiệu ngập ngừng và dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động đến bàng hoàng.

Tác giả hình dung ra tình huống hi sinh của Lượm thật cụ thể. Cũng như bao lần đi làm nhiệm vụ, Lượm dũng cảm, nhanh nhẹn, hăng hái và đầy quyết tâm, không nề nguy hiểm:

Chiến trường đầy khói lửa nhưng Lượm vẫn xông pha làm nhiệm vụ. Bỗng loè chớp đỏ, Thôi rồi Lượm ơi! Kể lại, hình dung lại sự việc mà tưởng chừng như tác giả đang tận mắt chứng kiến cái giây phút đau đớn ấy nên không kiềm chế được, tự đáy lòng bật thốt lên tiếng kêu đau đớn.

Câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào đầy xót thương và cảm phục của tác giả của chúng ta trước cái chết bất ngờ của người chiến sĩ nhỏ. Chú bé đã hi sinh anh dũng giữa tuổi thiếu niên hồn nhiên, tươi trẻ đầy hứa hẹn. Nhà thơ không dừng lâu ở nỗi đau xót mà ông cảm nhận rằng sự hi sinh của Lượm rất đỗi thiêng liêng, cao cả. Chú như một thiên thần bé nhỏ yên nghỉ trên cánh đồng quê hương. Lượm đã hoá thân vào đất mẹ:

Bao quanh Lượm là sự sống mơn mởn đang lên. Hương lúa thơm như mùi sữa mẹ. Sự hi sinh của Lượm vô cùng nhẹ nhàng, thanh thản. Câu thơ: Hồn bay giữa đồng khẳng định tinh thần bất tử của Lượm. Lượm đã chết cho quê hương xứ sở.

Câu thơ Lượm ơi, còn không? là một câu hỏi tu từ được tách ra thành một khổ thơ riêng có tác dụng nhấn mạnh, đặc tả nỗi đau đớn xót xa và niềm bâng khuâng, nhớ tiếc khôn nguôi của tác giả.

Hai khổ thơ cuối lặp lại như một điệp khúc khắc sâu hình ảnh đẹp đẽ của Lượm trong tâm hồn mọi người:

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó (Hồ Chí Minh)

Tức cảnh Pác Pó miêu tả về cuộc sống sinh hoạt của Bác ở hang Pác Pó dù thiếu thốn, khó khăn nhưng trong Bác luôn tràn ngập tinh thần vui tươi, sự lạc quan, luôn say mê làm việc để cứu dân, cứu nước.

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 2 năm 1941.

I. Tìm hiểu chung về bài thơ Tức cảnh Pác Pó 1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ Tức cảnh Pác Pó được sáng tác vào tháng 2 năm 1941. Vào thời gian này bác quay trở về và ở tại hang Pác Pó thuộc tỉnh Cao Bằng để chỉ huy cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

2. Bố cục bài thơ

Bài thơ Tức cảnh Pác Pó được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ được chia thành 2 phần:

Phần 1:Gồm 3 câu thơ đầu: Miêu tả cảnh sinh hoạt và làm việc của Bác ở Pác Pó

Phần 2: gồm câu cuối: cảm nhận của Bác về cuộc đời cách mạng

3. Cảm nhận về bài thơ tức cảnh Pác Pó

Tức cảnh Pác Pó là một bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Với lời thơ giản dị, mộc mạc như chính cuộc sống của Người đó là sự miêu tả bức tranh về thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt của người ở hang Pác Pó và cảm nhận của Bác về cuộc đời cách mạng.

Mở đầu bài thơ là phong cảnh núi rừng, là nơi hoạt động của người cộng sản:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang.”

Câu thơ là sự miêu tả nhịp sống của Bác là một vòng tuần hoàn”sáng ra” “tối vào” một cuộc sống sinh hoạt nhịp nhàng, điều độ đây chính là cuộc sống nề nếp Bác tự tạo ra cho mình. Cuộc sống của Bác chẳng cần giàu sang đó chỉ là sống ở “hang” và uống nước suối mà thôi. Cuộc sống giao hào với thiên nhiên tràn ngập niềm vui của Bác.

Sự ung dung của Bác đã thể hiện rõ trong cuộc sống vật chất đạm bạc, thiếu thốn:

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Dù cuộc sống ở núi rừng Pác Pó vô cùng thiếu thốn, chỉ đơn giản là ăn cháu bẹ, rau măng ở rừng nhưng bác vẫn thích nghi một cách tự nhiên, không hề than vãn hay cảm thấy thiếu thốn. Dù mỗi ngày ăn những món ăn đạm bạc, nhưng ngược lại Bác cảm thấy rất vui.

Niềm vui ấy đã làm cho Bác say mê làm việc, say mê trong bước đường hoạt động và lãnh đạo kháng chiến.

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng.

Câu thơ thứ 3 của bìa thơ là sự xuất hiện hình tượng trung tâm của bài thơ. Giữa núi rừng cuộc sống thật gian khổ, vất vả nhưng Bác vẫn lấy làm vui, Bác say mê với công việc, tập trung cao độ vào công việc mà chẳng hề quan tâm đến vật chất quanh mình. Với việc sử dụng từ láy “chông chênh” của chiếc bàn đá làm việc cho ta thấy sự nghèo nàn về vật chất. Nhưng với cái bàn đá ấy vẫn xuất hiện một con người đang làm việc hăng say, đang dịch sử Đảng tìm ra chiến lược cách mạng để đưa quân và dân ta đánh thắng giặc Pháp.

Câu thơ được viết với giọng điệu nhẹ nhàng,xen lẫn chút tự hào, ta thấy toát ra niềm vui lớn lao của Bác khi được sống và làm việc giữa thiên nhiên.

Câu thơ kết:

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Câu thơ cuối thể hiện sự tự hào của một cuộc đời cách mạng vô cùng sang trọng và cao quý. Chữ “sang” ở cuối câu thơ không phải là sang về giá trị vật chất, mà sang ở đây chính là cao sang về tinh thần, về cuộc sống ý nghĩa của người cách mạng. Với Bác – người chiến sĩ cách mạng chân chính cứu dân, cứu nước là niềm vui, là lẽ sống, là lí tưởng của mình.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ 20

Tác giả: Hoàng Thanh Tâm

Tháng mười một nắng vàng quanh lối cũ Tôi về trường lưu luyến kỷ niệm xưa Thầy cô xưa bây chừ đã già nua Còn mấy người đứng giảng bài giáo án.

BÀI THƠ: MỘT THƯỞ SÂN TRƯỜNG

Tác giả: Hoa Cúc Vàng Anh

Phượng già đứng gác bên sân trường, Đông về có mấy nhánh yêu thương. Đong đưa mời gọi người xa cách, Hãy trở về đây..gợi vấn vương!

BÀI THƠ: NGÀY HIẾN CHƯƠNG

Tác giả: Ho Nhu

Cũng là một kiếp nhân sinh Yêu thầy nhớ giữ cho mình thanh tao.

BÀI THƠ: ƠN THẦY

Tác giả: Diệp Thúy

Dạy dỗ đầu xanh chí phải bền Ơn thầy chẳng một phút nào quên Công dày mãi dặn lòng ghi khắc Nghĩa cả hoài nuôi dạ đáp đền Dẫu mệt chưa từng ngơi chấm điểm Tuy buồn đã cố vội dò tên Mơ về kỷ niệm nhiều năm trước Hỏi trống trường xưa vẫn giục rền?

BÀI THƠ: NHỚ THẦY

Tác giả: Phi Bằng

Đò đưa nước cạn phải gan bền Một thuở ơn thầy há dễ quên? Dẫu khổ vun trồng không hậu đáp Dù nan dạy bảo chớ tiên đền. Ân tình rộng lớn lòng ghi sổ Nghĩa cử cao dày dạ khắc tên … Đến cổng trường xưa giờ tĩnh lặng Còn đâu nữa trống điểm vang rền?

THƠ TẶNG THẦY CÔ

Tác giả: Cẩm Chi Châu

Viết tặng thày cô một bài thơ dang dở Viết nửa câu rồi vẫn trăn trở vào ra Định tặng thày cô dù chỉ một nhành hoa Cũng cảm thấy vui vì làm tròn chữ hiếu

BÀI THƠ TẶNG CÔ NHÂN NGÀY 20-11

Tác giả: Thu An

BÀI THƠ: NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

Tác giả: Thu An

Ở nhà bao việc nhỏ to Cùng mẹ gánh vác cha lo từng ngày Dạy con học hành hăng sayChăm chỉ, ngoan ngoãn lời này khắc ghi.

THƠ TÔN VINH NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11

Tác giả: Ngô Đăng Hội

Người đi xa khắp muôn phương Nhớ ngày nhà giáo tìm đường về đây Thầy trò tay nắm bàn tay Bao nhiêu kỉ niệm đong đây cuộn dâng

Nay ngày xã hội tôn vinh Từng đoàn,từng tốp cựu sinh kéo về Bờ mi giọt lệ cận kề Bao nhiêu kí ước theo về hôm nay

Công việc đâu có khó khăn Hay là dấu ấn lộn lăn thương trường Dù rằng Nam- Bắc muôn phương Chúng em luôn nhớ mái trường, thầy cô.

THƠ TẶNG CÔ GIÁO VÙNG CAO

Tác giả: Bằng Giang

BÀI THƠ: MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM

Tác giả: Lê Hoàng Công

Mười tám năm trưởng thành từ đó Ai cũng lớn khôn có vợ con Nhưng trong tâm trí vẫn còn Thầy cô cha mẹ của con muôn đời.

THƠ THĂM LẠI TRƯỜNG XƯA

Tác giả: Hoàng Lan

Sân buồn quạnh vắng nắng lưa thưa Kỷ niệm thân thương ngỡ mới vừa Ký ức êm đềm như vẫy gọi Bên thềm ngắm lại mái trường xưa.

Theo chúng tôi

Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Em Là Gái Quê. Nguyễn Chính

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ EM LÀ GÁI QUÊ. NGUYỄN CHÍNH

Thứ 5, ngày 6 tháng 12 năm 2024 – 13:28

Bài thơ “Em là gái quê” trong tập thơ “Nơi gửi tình yêu” của nhà thơ Trần Thị Quỳnh Nga, Hội viên Hội VHNT tỉnh Tuyên Quang là bài thơ hay cả về tứ và nghĩa. Từng cung bậc cảm xúc của bốn khổ thơ trong bài đều có hình tượng, có nhạc điệu khắc họa được một chân dung thiếu nữ nông thôn dung dị, thanh cao, đẹp người, đẹp nết. Chính vì vậy nhạc sỹ Đinh Tiến Bình đã cảm nhận được ngôn từ trong sáng đó để phổ nhạc bài thơ với một âm hưởng sâu lắng, ngọt ngào, truyền cảm.

Trần Thị Quỳnh Nga sinh ra ở nông thôn, tuổi thơ vất vả lớn lên nhờ hạt lúa, củ khoai, con tôm, con cá. Và cũng thật ngẫu nhiên, khi tốt nghiệp đại học với tấm bằng kỹ sư nông nghiệp Quỳnh Nga trở thành cán bộ khuyến nông. Cả đời gắn bó với người nông dân, với đồng ruộng và trải nghiệm công việc nhà nông nên hình ảnh làng quê nông thôn Việt Nam, người phụ nữ nông thôn luôn in đậm trong thơ của Quỳnh Nga.

Mở đầu bài thơ tràn đầy niềm tin, tự hào:

Em là con gái nhà nông

Lưng thon tóc búi thơm nồng hương chanh

Tươi như cánh lá trên cành

Thắm như hoa hẹ hoa hành chân quê 

Quỳnh Nga có cách nhìn riêng phát hiện ra cái đẹp, cái duyên của một cô gái nhà quê chân chất, còn nguyên khôi những vẻ đẹp đáng ngợi ca. “Lưng thon” chắc chắn người con gái ấy phải thắt đáy lưng ong, một mẫu người không chỉ đẹp, còn đảm đang vừa khéo nuôi con lại khéo chiều chồng. Cỏ cây hoa lá, những sản vật của chân quê như “hương chanh” “hoa hẹ, hoa hành” được nhà thơ hòa quện khéo léo trong từng câu miêu tả rõ nét một thôn nữ đằm thắm yêu thương, hồn nhiên, tươi rói.

Cái nết đánh chết cái đẹp, vì cái đẹp không mài ra ăn được. Muốn hoàn thiện nhân cách vừa hồng vừa chuyên chỉ có hăng say trong học tập, lao động mới trưởng thành, nên tác giả viết tiếp:

Bốn mùa vất vả sớm khuya

Chân bùn tay lấm gió mưa nắng tràn

Em như cô tấm trong làng

Đẹp xinh hiếu thảo dịu dàng thiết tha

“Cô Tấm trong làng” và hình tượng con gái nhà quê là một. Lớn lên vừa đẹp, vừa xinh phải nhờ dòng sữa mẹ – đó là sự biết ơn người đã sinh thành dưỡng dục. Còn tuổi thơ có khoảng lặng trong không gian yên tĩnh với hương đồng gió nội, nhưng vất vả nhọc nhằn trong sương gió, lớn lên nhờ rau cháo, vại cà, chĩnh tương.

Từ dòng sữa mẹ nuôi ta

Từ rau cháo với vại cà chĩnh tương

Hương đồng cỏ nội thân thương

Tuổi thơ ướt đẫm gió sương nhọc nhằn

Tuổi thơ vất vả, tuổi trưởng thành vất vả hơn để thực hiện trách nhiệm bổn phận thiên chức của người phụ nữ tần tảo nuôi con và báo hiếu cha mẹ nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp người con gái thôn quê trong trắng ngọc ngà. Đoạn kết bài thơ đã nói lên điều đó với một cách viết rất khéo tự hỏi, tự trả lời và câu kết của bài thơ nghĩa giống với câu mở đầu là sự khẳng định của niềm tự hào.

Hết đồng xa lại đồng gần

Bờ xôi ruộng mật tảo tần mẹ cha

Giờ em trong trắng ngọc ngà

Phải chăng cũng bởi em là gái quê

Đọc hết bài thơ và lại được nghe bài hát “Em là gái quê” làm cho chúng ta càng thấy niềm tin yêu, tin tưởng vào lớp người phụ nữ ở vùng nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa họ luôn gìn giữ được phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ trung hậu, đảm đang góp phần xây dựng nông thôn mới – một xã hội văn minh.

N.C

Lượt xem:1965

Bản in

Bài Học Đi Tìm Hạnh Phúc: Niềm Vui Từ Chính Bản Thân

Câu chuyện về chàng thanh niên và vị thiền sư bàn về vấn đề làm sao để đi tìm niềm vui, hạnh phúc chứa đựng những bài học về sự làm người, hãy đặt mình vào người khác, hãy đặt mình vào chính mình để tự thấy mình hạnh phúc.

Một người thanh niên mang vẻ mặt u sầu và thất vọng tới bái lạy một vị thiền sư tuổi đã khá cao. Anh ta muốn hỏi vị thiền sư chỉ cho anh ta cách để trở thành một người vui vẻ hạnh phúc và nỗi trăn trở về việc làm thế nào mới có thể đem lại niềm vui cho mọi người.

Vị thiền sư khá hài lòng với yêu cầu của người thanh niên đó vì đối với con người, có được nguyện vọng như vậy là rất đáng quý, nhất là với người trẻ tuổi như cậu. Tuy nhiên, trẻ tuổi quá thì cũng rất khó đạt, rất nhiều người nhiều tuổi hơn cậu cũng có chung câu hỏi này, thế nhưng có giải thích thế nào chăng nữa thì họ cũng vẫn không hiểu được đạo lý.

Có chút buồn bã, thế nhưng người thanh niên trẻ tuổi vẫn chăm chú lắng nghe từng lời nói của vị thiền sư.

Vị thiền sư già nói: “Ta tặng cậu 4 câu. Câu thứ nhất: Hãy đặt bản thân mình trở thành người khác. Cậu có hiểu được ý nghĩa của câu này không?”

Người thanh niên trả lời: ” Thưa ngài, có phải là khi mình khổ sở, nếu như coi bản thân mình là người khác thì nỗi khổ sẽ tự nhiên giảm bớt đi. Còn khi mình vui mừng quá mức mà coi mình là người khác thì mình sẽ bình tĩnh trở lại và thản nhiên hơn không ạ?”

Vị thiền sư gật đầu rồi nói tiếp: “Câu thứ hai là đặt người khác trở thành bản thân mình.”

Người thanh niên suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Khi đặt người khác trở thành bản thân mình, mình có thể hiểu được nỗi khổ cũng như những mong muốn nguyện vọng của họ để thông cảm và giúp đỡ họ khi cần thiết, phải không ạ?’

Vị thiền sư vui vẻ biểu lộ ra sự hài lòng rồi nói tiếp câu thứ ba: “Xem người khác là chính bản thân họ.”

Người thanh niên nhanh nhảu trả lời: “Thưa ngài, câu này có phải có ý là: Tôn trọng sự riêng tư của mỗi người, không xâm phạm vào điều của riêng người khác.”

Vị thiền sư bật cười ha ha rồi nói: “Tốt lắm, tốt lắm, đứa trẻ này cũng rất dễ dạy bảo! Câu thứ tư chính là xem bản thân mình là chính bản thân mình!”

Câu nói này có vẻ khó với người thanh niên trẻ, cậu ta suy nghĩ mãi một hồi lâu rồi mới chậm rãi nói: “Thưa ngài, câu nói này con nhất thời chưa thể hiểu được. Nhưng trong bốn câu nói này con thấy có sự bất đồng, con phải làm thế nào để thống nhất chúng lại ạ?”

Vị thiền sư trả lời: “Rất đơn giản cậu bé ạ! Con hãy dùng thời gian và kinh nghiệm của bản thân mình rồi con sẽ làm được!”

Người thanh niên rất cảm kích trước sự chỉ giáo của vị thiền sư, anh ta không hỏi thêm rồi quỳ gối xin cáo biệt. Rất nhiều năm sau, khi đã già, người thanh niên ấy- đã trở thành một ông lão hạnh phúc và bài học từ vị thiền sư cũng được ông chia sẽ với những người xung quanh, nhất là những người thanh niên trẻ tuổi, giống như ông trước kia. Qua thời gian, ông đã hiểu được ý nghĩa đích thực của 4 câu nói trong lời dạy của vị thiền sư kia là:

1. Khi đặt bản thân mình là người khác để đối đãi thì chính là vô ngã.

2. Khi đặt người khác là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là từ bi.

3. Khi đặt người khác chính là bản thân họ để đối đãi thì đó chính là trí tuệ.

4. Khi đặt bản thân mình là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là tự tại.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Đi Học Minh Chính trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!