Xu Hướng 6/2023 # Đề Xuất 10/2021 # Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu # Top Like # Top 12 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Đề Xuất 10/2021 # Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu # Top Like # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Đề Xuất 10/2021 # Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu # Top Like được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xem 99

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu mới nhất ngày 02/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 99 lượt xem.

Ngày xửa ngày xưa, có một anh tiều phu nghèo khổ, cha mẹ anh bệnh nặng chẳng may mất sớm, chỉ để lại cho anh duy nhất một chiếc rìu sắt. Hằng ngày, anh tiều phu phải lên núi đốn củi rồi đem củi bán lấy tiền kiếm sống qua ngày.

Một hôm, như thường ngày anh tiều phu lại vác rìu lên núi để đốn củi. Trong lúc đang chặt củi ở cạnh bờ suối, thì chẳng may chiếc rìu của anh bị gãy cán, lưỡi rìu bị văng xuống dưới dòng suối. Dòng suối nước chảy cuồn cuộn, nếu ai lỡ trượt chân rơi xuống suối thì có thể bị nước cuốn trôi khó lòng bơi được vào bờ, do đó anh tiều phu chỉ biết ngồi nhìn lưỡi rìu chìm sâu xuống đáy nước rồi than khóc tỉ tê, đến cỏ cây cũng mũi lòng:

Bỗng có một ông lão râu tóc bạc phơ, đôi mắt hiền từ xuất hiện trước mặt anh chàng tiều phu, ông lão bước đến nhìn chàng tiều phu và hỏi:

– Tại sao con lại ngồi khóc ở đây?

Chàng tiều phu gạt nước mắt, nhìn ông lão đáp:

– Thưa ông, bố mẹ con chẳng may mất sớm, con phải sống mồ côi từ nhỏ. Gia cảnh nhà con rất nghèo, gia tài duy nhất của con là chiếc rìu sắt, đó cũng là kỉ vật mà bố mẹ con trước lúc qua đời để lại. Hàng ngày con nhờ có chiếc rìu lên núi đốn củi, kiếm sống qua ngày. Nhưng vừa nãy trong lúc đốn củi, chẳng may con làm lưỡi rìu rơi xuống suối mất rồi… từ nay con không biết lấy gì để kiếm sống qua ngày nữa. Con đau buồn quá thưa ông!

Ông lão nghe xong liền cười và nói:

– Ta tưởng chuyện gì lớn, con đừng khóc nữa, ta sẽ giúp con lấy lưỡi rìu lên.

Vừa dứt lời, ông lão liền lao mình xuống dòng suối. Được một lúc, ông lão ngoi lên khỏi mặt nước, tay cầm một lưỡi rìu bằng bạc chói loáng và hỏi anh tiều phu nghèo:

– Đây có phải là lưỡi rìu của con hay không?

Chàng tiều phu liền đáp:

– Dạ không thưa ông! Đây không phải lưỡi rìu của con.

Ông lão cười rồi lại lặn xuống dòng suối đang chảy xiết. Một lát sau, ông lão ngoi lên khỏi mặt nước, lần này trên tay ông cầm một chiếc rìu bằng vàng sáng chói lấp lánh. Ông lão hỏi chàng tiều phu:

– Lưỡi rìu vàng này có phải của con không?

Anh chàng tiều phu nhìn ông lão, anh lại lắc đầu thật thà trả lời:

– Dạ lưỡi rìu này cũng không phải là của con. Lưỡi rìu của con bằng sắt ông ạ.

Nghe vậy, ông lão lại tiếp tục lặn sâu xuống dòng suối đang cuồn cuộn. Lần này, khi ngoi lên khỏi mặt nước ông đưa lên một lưỡi rìu bằng sắt, ông lão lại hỏi:

– Vậy đây có phải lưỡi rìu mà con đánh rơi hay không?

Thấy đúng là lưỡi rìu của mình, anh chàng tiều phu liền reo lên mừng rỡ:

– Ôi, đây đúng là lưỡi rìu của con rồi. Lưỡi rìu này là cả sinh mạng của con, con vô cùng đội ơn ông đã tìm lại nó cho con, con thật không biết lấy gì để đền ơn ông.

Ông lão bỗng chốc hiện nguyên hình là một ông Bụt. Ông Bụt tươi cười, giọng rềnh vang nói:

– Con đúng là một người thật thà trung thực, không hề tham lam vàng bạc và lợi lộc trước mắt. Để khen thưởng cho con. Nay ta tặng thêm cho con hai lưỡi rìu bằng vàng và bạc này, con hãy nhận lấy.

Anh chàng tiều phu vui mừng cúi đầu cảm tạ, hai tay đỡ lấy hai lưỡi rìu.

Ông Bụt cười vui, vuốt bộ râu trắng muốt, rồi hoá phép biến mất.

Tổng hợp và biên soạn: Thiên Hương

Đọc Truyện Cổ Tích: Câu Chuyện Ba Lưỡi Rìu

Câu chuyện ba lưỡi rìu là câu chuyện cổ tích thế tục Việt Nam vô cùng ý nghĩa kể về một chàng tiều phu mặc dù rất nghèo nhưng có lòng trung thực trong mọi hoàn cảnh và cuối cùng chính sự trung thực trong cuộc sống đó, chàng tiều phu nhận được những đền đáp xứng đáng.

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ, có một anh chàng tiều phu nghèo, cha mẹ anh bệnh nặng nên qua đời sớm, anh phải sống mồ côi cha mẹ từ nhỏ và tài sản của anh chỉ có một chiếc rìu. Hàng ngày anh phải xách rìu vào rừng để đốn củi bán để lấy tiền kiếm sống qua ngày. Ngay ở cạnh bìa rừng có một con sông nước chảy rất xiết, ai đó lỡ trượt chân rơi xuống sông thì rất khó bơi vào bờ.

Vào một hôm nọ, như thường ngày chàng tiều phu vác rìu vào rừng để đốn củi, trong lúc đang chặt củi cạnh bờ sông thì chẳng may chiếc rìu của chàng bị gãy cán và lưỡi rìu văng xuống sông. Vì dòng sông nước chảy quá xiết nên mặc dù biết bơi nhưng anh chàng vẫn không thể xuống sông để tìm lưỡi rìu. Thất vọng anh chàng tiều phu ngồi khóc, vừa khóc anh chàng vừa than thở cho số phận hẩm hiu của mình.

Bỗng từ đâu đó có một ông cụ tóc trắng bạc phơ, râu dài, đôi mắt rất hiền từ xuất hiện trước mặt chàng, ông cụ nhìn chàng tiêu phu và hỏi:

– Chào con, con đang có chuyện gì mà ta thấy con khóc và buồn bã như vậy?

Anh chàng tiều phu trả lời ông cụ râu tóc bạc phơ đó:

– Thưa cụ, bố mẹ con mất sớm, con phải sống mồ côi từ nhỏ, gia cảnh nhà cháu rất nghèo, tài sản duy nhất của con là chiếc rìu sắt mà bố mẹ cháu trước lúc qua đời để lại. Có chiếc rìu đó cháu còn vào rừng đốn củi kiếm sống qua ngày, giờ đây nó đã bị rơi xuống sông, con không biết lấy gì để kiếm sống qua ngày nữa. Vì vậy, con buồn lắm cụ ạ!

Ông cụ liền đáp lời chàng tiều phu:

– Ta tưởng chuyện gì lớn, cháu đừng khóc nữa, để ta lặn xuống sông lấy hộ cháu chiếc rìu lên.

Dứt lời, ông cụ lao mình xuống dòng sông đang chảy rất xiết. Một lúc sau, ông cụ ngoi lên khỏi mặt nước tay cầm một chiếc rìu bằng bạc sáng loáng và hỏi anh chàng tiều phu nghèo:

– Đây có phải lưỡi rìu mà con đã làm rơi xuống không ?

Anh chàng tiều phu nhìn lưỡi rìu bằng bạc thấy không phải của mình nên anh lắc đầu và bảo ông cụ:

– Không phải lưỡi rìu của con cụ ạ, lưỡi rìu của con bằng sắt cơ.

Lần thứ hai, ông cụ lại lao mình xuống dòng sông chảy xiết để tìm chiếc rìu cho chàng tiều phu. Một lúc sau, ông cụ ngoi lên khỏi mặt nước tay cầm chiếc rìu bằng vàng và hỏi chàng tiều phu:

– Đây có phải là lưỡi rìu mà con đã sơ ý làm rơi xuống sông không?

Anh chàng tiều phu nhìn lưỡi rìu bằng vàng sáng chói, anh lại lắc đầu và bảo:

– Không phải là lưỡi rìu của con cụ ạ!

Lần thứ ba, ông cụ lại lao mình xuống sông và lần này khi lên ông cụ cầm trên tay là chiếc rìu bằng sắt của anh chàng tiều phu đánh rơi. Ông cụ lại hỏi:

– Vậy đây có phải là lưỡi rìu của con không!

Thấy đúng là lưỡi rìu của mình rồi, anh chàng tiều phu reo lên sung sướng:

– Vâng cụ, đây đúng là lưỡi rìu của con, con cảm ơn cụ đã tìm hộ con lưỡi rìu để con có cái đốn củi kiếm sống qua ngày.

Ông cụ đưa cho anh chàng tiều phu lưỡi rìu bằng sắt của anh và khen:

– Con quả là người thật thà và trung thực, không hề ham tiền bạc và lợi lộc. Nay ta tặng thêm cho con hai lưỡi rìu bằng vàng và bạc này. Đây là quà ta tặng con, con cứ vui vẻ nhận.

Anh chàng tiều phu vui vẻ đỡ lấy hai lưỡi rìu mà ông cụ tặng và cảm tạ. Ông cụ hóa phép và biến mất. Lúc đó anh chàng tiều phu mới biết rằng mình vừa được bụt giúp đỡ.

Bài học ý nghĩa câu chuyện Ba lưỡi rìu

Ba lưỡi rìu là câu chuyện cổ tích thế tục Việt Nam vô cùng ý nghĩa kể về một chàng tiều phu mặc dù rất nghèo nhưng có lòng thật thà, trung thực. Dù nghèo khổ, thiếu thốn nhưng mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, anh chàng tiều phu vẫn luôn giữ lòng thật thà và trung thực đó và cuối cùng chàng được đền đáp xứng đáng. Thông qua câu chuyện này, các bậc cha mẹ nên kể chuyện cổ tích này cho bé sẽ giúp bé phát huy khả năng tư duy và tính sáng tạo.

Đề Xuất 10/2021 # Top 5 ❤️ Bài Thơ Gió Lạnh Đầu Mùa Trong Đêm Nhiều Tâm Trạng # Top Like

Xem 297

Cập nhật nội dung chi tiết về Top 5 ❤️ Bài Thơ Gió Lạnh Đầu Mùa Trong Đêm Nhiều Tâm Trạng mới nhất ngày 01/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 297 lượt xem.

Thơ gió lạnh đầu mùa sẽ giúp bạn cảm nhận nhiều hơn về cái giá rét đang bắt đầu ập đến với những cơn gió phảng phất đung đưa đầy yêu thương. Cùng đọc và cảm nhận các bài thơ về cơn gió nhẹ mang những tâm trạng một mình chẳng ai thấu hiểu chỉ đành lấy các bài thơ tình gió đông về không có gấu bầu bạn và cùng chia sẻ để nhiều người cùng cảnh ngộ có thể vui và lấy lại tinh thần cho một đông giá rét sắp đến gần.

Bài thơ: Tản mạn chiều đông

Thơ: Hồng Cẩm

Dạo bước vườn xuân một buổi chiều

Nghe hồn khắc khoải nhớ người yêu

Ngàn năm hẹn ước lòng không đổi

Trọn kiếp chung tình…dạ chẳng xiêu

Dạo bước trường xưa bỗng nhớ người

Hè về góc phượng kín hoa rơi

Tình yêu áo trắng thời hoa mộng

Để lại hồn ta…mãi nụ cười

Dạo bước công viên dạ thẩn thờ

Thu vàng trải nắng nhuộm trời mơ

Nhưng lòng man mác buồn tê tái

Cũng bởi lòng vương…khúc đợi chờ

Dạo bước làng quê khói ngập đồng

Ngồi buồn dõi mắt phía dòng sông

Mơ người lữ thứ hồi quê cũ

Thỏa dạ mong chờ…buổi tiết đông!

Bài thơ: Đông về rồi

Thơ: Vân Nguyễn

Đông về rồi trời bắt đầu se lạnh

Mang trong lòng nỗi canh cánh suy tư

Nhớ thương ai mà lại cứ chần chừ

Câu hờn dỗi còn dường như lưu luyến.

Gió đông lạnh chợt làm ta xao xuyến

Gợi chút buồn nhớ đến chuyện ngày xưa

Nơi phố nhỏ ai đã từng đón đưa

Của một thời mà nắng mưa chung lối.

Vẫn nhớ lắm lần đầu gặp bối rối

Mong trông chờ bứơc chân vội nhìn xa

Để giờ đây toàn chỉ thấy nhạt nhoà

Từng giọt đắng lại vỡ òa nhung nhớ.

Đông về rồi vần thơ tình trăn trở

Câu với từ ghép bỡ ngỡ phân vân

Viết gì đây mà dạ cứ tần ngần

Để lạc lõng rồi xa dần ẩn khuất.

Phố nhỏ xưa đậm buồn vui chất ngất

Chợt chạnh lòng ta giở lật ngày xưa

Đến hôm nay biết nói sao cho vừa

Đông lạnh vắng chỉ còn mưa sương gió.!

Bài thơ: Lạc lối giữa mùa đông

Đông lại về trên miền nhớ chơ vơ

Một mảnh tình riêng đợi chờ vô vọng

Năm tháng lặng trôi đường dài đơn bóng

Đêm vẫn mịt mùng ngày vẫn mông lung.

Hơn nửa cuộc đời tình có như không

Một mối duyên thừa giữa dòng oan trái

Nước mắt tuôn rơi niềm đau còn lại

Mấy nẻo đường tình oằn gánh trả vay.

Ta chẳng trách trời hay giận riêng ai

Một kiếp phù sinh mây bay gió thổi

Một chút tơ vương chiều đông lạc lối

Nửa mảnh hồn sầu bối rối lời thơ.

Gió bấc lạnh lùng cây cỏ xơ rơ

Gối mỏi chân chùng ngẩn ngơ kỷ niệm

Sương khói bủa giăng hoàng hôn tắt lịm

Quanh quẩn đêm trường tìm kiếm dư hương.

Bài thơ: Sửa soạn cho mùa đông

Thơ: Diệp Ly

Thơ: Hồ Văn Hảo

Đề Xuất 10/2021 # Trình Bày Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương # Top Like

Xem 99

Cập nhật nội dung chi tiết về Trình Bày Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương mới nhất ngày 02/10/2021 trên website chúng tôi Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 99 lượt xem.

Nói với con – Y Phương

Tìm hiểu về nhà thơ Y Phương và bài thơ Nói với con

Trước lúc tìm hiểu và cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông nhập ngũ năm 1968 trong kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt. Y Phương là quân nhân thuộc binh chủng đặc biệt quan trọng tinh nhuệ. Ông phục vụ trong quân đội đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Sở Văn hoá – tin tức Cao Bằng.

Năm 1993, ông là ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa VI. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Tác giả cho ra đời những tập thơ như: Người núi Hoa (1982); Tiếng hát tháng giêng (1986); Lửa hồng một góc (1987); Lời chúc (1991); Đàn Then (1997),… Về thành tựu, nhà thơ Y Phương đã đạt Giải nhất cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1984 và hai năm tiếp theo, ông nhận được Phần thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam.

Trong số các bài thơ của ông, một bài thơ gợi nhắc biết bao tâm tình của người cha gửi đến con đó đây chính là bài thơ “Nói với con”, được sáng tác năm 1980. Như lời tác giả chia sẻ, năm 1979, vợ chồng ông đón chào người con đầu lòng và bài thơ này được ông sáng tác để tặng riêng con gái khi cô được một tuổi.

Trước một xã hội còn nheo nhóc biết bao đói khổ, thực giả lẫn lộn, con người hối hả, gấp gáp kiếm tiền thì để sống ở đời một cách đàng hoàng, Y Phương tin rằng con người phải bám vào giá trị tích cực của văn hóa truyền thống. Ở phạm vi hẹp, bài thơ chủ yếu đề cập đến văn hóa truyền thống dân tộc bản địa, nhằm tôn vinh nét đẹp của văn hóa truyền thống truyền thống dân tộc bản địa Tày, về những phẩm chất cao đẹp của con người Tày.

Ở phạm vi to ra hơn, bài thơ là lời nhắc mọi người dân Việt Nam khi đứng trước cuộc hội nhập toàn cầu, hãy nhờ rằng đi cội nguồn, bản ngã của dân tộc bản địa mình. Những cuộc di cư, du nhập của văn hóa truyền thống ngoại lai làm lai căng, lu mờ những giá trị truyền thống là vấn đề gợi nhắc mà Y Phương luôn trăn trở. Một lần nữa, ông viết bài thơ dành tặng đến con gái và đồng thời cũng là lời tự nhắc nhở mình, là lời nhắc nhở bạn đọc khi đối diện với cuộc sống hôm nay.

“Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”

Cảm nhận khổ cuối bài nói với con của Y Phương

Tình cảm và lời nhắn gửi dành riêng cho con trong khổ cuối bài thơ đã thể hiện khái quát tình yêu thương bát ngát mà người cha đã ấp ủ. Vì vậy, cảm nhận khổ cuối bài Nói với con sẽ giúp người đọc thấy giá mềm trị nội dung cũng như thẩm mỹ và làm đẹp của bài thơ.

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy ngay ở phần mở đầu, tác giả đã mang đến lời thủ thỉ về nguồn cội sinh dưỡng của mỗi người. Đó đây chính là những khoảnh khắc niềm sung sướng, yêu thương trong vòng tay của gia đình, xóm làng. Đến khổ thứ hai, người cha ân cần nhắc nhở con về những phẩm chất cao đẹp của dân tộc bản địa mình qua tiếng gọi “người đồng mình”.

“Dẫu làm thế nào thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không phải lo ngại cực nhọc”

Câu mở đầu này được tái diễn một lần nữa ở ý thơ thứ nhất. Có lẽ tác giả muốn khắc sâu vào tâm trí con những điều tốt đẹp và phẩm chất của người đồng mình. Điệp ngữ “Người đồng mình” được tái diễn nhưng không còn là một “yêu” mà là “thương”. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy rằng cha thương buôn làng còn nghèo đói, còn vất vả, khó khăn nhưng cũng chính từ đó con hãy tự hào với sức sống của dân tộc bản địa mình.

Nhà thơ sử dụng thẩm mỹ và làm đẹp tương hỗ lấy “cao” so với “nỗi buồn”, lấy “xa” so với “chí lớn” thể hiện hình ảnh gần gũi, đậm màu tư duy của người miền núi. Dù có sự khác biệt về vị trí địa lí con cũng đừng mặc cảm,tự ti mà trái lại hãy nghĩ tích cực, tự tin và sống mạnh mẽ. Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy hai câu thơ ” Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn ” không chỉ là bài học kinh nghiệm người cha muốn gửi riêng đến con mà Y Phương của muốn gửi đến bao người.

Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy trong câu thơ tiếp theo, tình cảm và ước muốn của người cha ngày càng mạnh mẽ và kiên quyết hơn:

Nếu như hội họa, người họa sỹ dùng đường nét để sáng tạo, âm nhạc, người nghệ sĩ dùng âm thanh để tạo nên tác phẩm hay trong điêu khắc dùng hình khối để sáng tác thì văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu. Nhà thơ đã chọn lọc, sử dụng điệp từ “sống” cùng phép liệt kê “đá, thung” đã khắc họa một bức tranh làng bản núi đồi thật đẹp.

“Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”

Cụm từ phủ định nhưng mang ý khẳng định “không chê” được tác giả nhấn mạnh vấn đề một điều tiên quyết, con không bao giờ được phép quên đi những khó khăn, vất vả của quê nhà mình, con hãy nhớ và không ngừng nghỉ vươn lên. Y Phương gợi ý một cách sống và làm việc cho con mình đó đây chính là hãy sống như tự nhiên, hãy biết mềm dẻo, linh hoạt như con suối của bản làng để vượt qua những khó khăn trên đường đời.

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê nhà Còn quê nhà thì làm phong tục”

Thành ngữ ” lên thác xuống ghềnh ” được tác giả sử dụng ở đây khá đặc sắc, nó tạo âm hưởng thơ thêm trúc trắc, giàu sức gợi. Nhịp thơ tuôn chảy mạnh mẽ gợi lên sức sống bền bỉ, mãnh liệt của con người trước vất vả, cực nhọc của cuộc đời. Nhà thơ biết rằng, con cũng như tất cả mọi người đều phải sở hữu những ước mơ, hoài bão như sông suối vì tất cả đều hướng ra phía nơi mênh mông của biển khơi để thấy cuộc đời rộng lớn và có nhiều điều cần phải học hỏi hơn.

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta cũng thấy bên cạnh bộc bạch hoàn cảnh của quê nhà của dân tộc bản địa mình, nhà thơ còn nhắn nhủ con hãy sống có ích và hãy nhờ rằng đi nguồn cội của mình:

Hình ảnh ẩn dụ “thô sơ da thịt” đối lập “chẳng…nhỏ bé” càng làm toát thêm vẻ đẹp mạnh mẽ không chỉ ở phía ngoài mà còn tiềm ẩn bên sâu trong tinh thần của con người miền núi. Người đồng mình do cuộc sống vất vả, bước đầu còn gian nan nên vẻ ngoài của họ có phần đen đúa, thô kệch nhưng tâm hồn của họ lại rộng lớn, trong sáng như suối và mạnh mẽ, dạt dào như thác nước của núi rừng. Ở họ, nhà thơ còn nhận thấy:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Không bao giờ nhỏ bé được

Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con sẽ thấy cụm từ “tự đục đá kê cao quê nhà” thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần tự lực tự cường của người đồng mình. Từ những công việc vất vả, từ bàn tay lao động của họ sẽ đưa quê nhà, đưa đất nước lên tầm cao mới, phát triển vững mạnh. Nhà thơ không dùng mĩ từ để mệnh danh tinh thần ấy mà ông chọn từ “đục đá, kê cao” một cách gần gũi và bình dị, đậm màu sử dụng ngôn ngữ của người dân tộc bản địa Tày.

Cách diễn đạt đó thật khác lạ song cũng độc đáo không kém. Một bàn tay gầy hình thành quê nhà rồi từ chính mảnh đất nền ấy tạo ra sự những phong tục giàu giá trị. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con để thấy đó là truyền thống, là nét văn hóa truyền thống cần phải giữ gìn. Đó là cách thể hiện tình yêu quê nhà, đất nước, là cách nhìn, cách nghĩ nâng niu và trân quý bao giá trị văn hóa truyền thống ngàn đời. Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa thực, vừa có sức khái quát, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu xa.

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, đặc biệt quan trọng trong hai câu thơ, người đọc thấy người cha như đang nhắn gửi với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Tiếng gọi ấy còn được tái diễn trong khổ thơ như một điệu hát ru thân thương, trìu mến. Người cha tự hào, mệnh danh về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình: sống rộng mở, bát ngát, biết kiên trì và trân trọng những nét đẹp truyền thống của quê nhà, nguồn cội. Để kết lại trọn vẹn cảm xúc trào dâng ở hai khổ trước, khổ cuối cùng với bốn câu thơ đã hoàn chỉnh ý thơ thêm trọn vẹn:

“Lời của cha như tiếng sóng thầm thì Hay tiếng lòng của cha từ một thời sâu thẳm Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận Cha lại gặp mình trong tiếng ước mơ con” (Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)

Càng lúc hình ảnh và lời nói của người cha hiện lên càng lớn lao, nhanh chóng thôi thúc con trên đường đời. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta còn thấy cách so sánh đối lập “thô sơ da thịt” nhưng “không nhỏ bé” như khẳng định niềm tin cha tin ở con sẽ phát huy được truyền thống quê nhà, sẽ nhớ đến lời cha dạy, sẽ không còn bao giờ nhỏ bé dù đi bất kì nơi đâu và hơn hết là luôn luôn nhớ đi nguồn cội.

Suy cho cùng, tất cả lời cha viết nên trên trang thơ cũng chỉ mong sao con hãy luôn gắn bó với truyền thống, dân tộc bản địa mình, mong con vươn lên bất chấp khó khăn, gian khổ. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng như khi đọc bốn câu thơ, ta thấy lời của cha không hề mang ý răn đe, giáo điều mà là những lời tâm tình thủ thỉ với con như một người bạn lớn. Do vậy, những lời dạy ấy có thể sẽ khắc sâu vào trong tâm trí con đơn sơ hơn. Lời thơ gửi con cũng đây chính là lời gửi đến mình. Ta phát giác tiếng thơ đồng điệu với nhà thơ Hoàng Trung Thông:

Bên cạnh giọng thơ thiết tha, trìu mến, các hình ảnh thơ được tác giả lựa chọn vừa cụ thể vừa có tính khái quát, vừa mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy đoạn thơ chứa chan ý nghĩa lại đằm thắm và thâm thúy. Nó tựa như một khúc ca nhẹ nhàng mà âm vang. Lời thơ tâm tình của người cha sẽ là hành trang đi theo con suốt đời và có lẽ mãi mãi là bài học kinh nghiệm hữu dụng cho những bạn trẻ – bài học kinh nghiệm về niềm tin, nghị lực, ý chí vươn lên.

Nhận xét tác phẩm khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng như toàn tác phẩm, người đọc nhận thấy bài thơ đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, mệnh danh truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê nhà và dân tộc bản địa. Nó giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc bản địa miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê nhà và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Bài thơ gửi đến bài học kinh nghiệm tích cực về lối sống tự hào dân tộc bản địa mình, là việc hòa nhập như không hòa tan đi chính cá tính của mình, của dân tộc bản địa mình.

Kết bài: Kết lại, bằng phương pháp nói giàu hình ảnh, vừa cụ thể, vừa gợi cảm, những ngôn từ đặc trưng của miền núi, bài thơ như thể lời trò chuyện, tâm tình với con, thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào về quê nhà và đạo lí sống của dân tộc bản địa. Từ lời dạy đầy chân tình của cha, ta thấy tình cảm gia đình thật thiêng liêng và cao quý vô cùng. Bài thơ là một lối nhỏ để người đọc hiểu thêm về tâm hồn của người cha yêu thương con đến nhường nào. Thông qua đó, bài thơ truyền tải thông điệp hãy biết tự hào con người mình, dân tộc bản địa của mình dù là nghèo khổ, khó khăn, hãy biết trân trọng và yêu quý gia đình của mình khi còn tồn tại thể.

Dàn ý cảm nhận khổ cuối bài Nói với con của Y Phương

Sơ lược những nét chính về tác giả Y Phương cùng bài thơ Nói với con.

Tóm tắt nội dung chính cũng như thẩm mỹ và làm đẹp của tác phẩm này.

Tình cha con sâu nặng trong bài thơ, đặc biệt quan trọng là ở khổ thơ cuối.

Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nói với con.

Những lời nhắc nhở của cha với con luôn tự hào về dân tộc bản địa mình.

Những hi vọng và ước mong cha gửi gắm cho con.

Lời nhắn gửi con hãy luôn sống cao đẹp và hướng về quê nhà.

Tóm tắt lại ý nghĩa của tác phẩm: Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con nói riêng hay toàn bộ tác phẩm nói chung đều thấy tình cảm cha con sâu nặng..

Những lời trao gửi mà cha nhắn nhủ đây chính là những gửi gắm tới thế hệ tiếp nối về truyền thống của dân tộc bản địa, về những phẩm chất cao đẹp và đáng quý của “người đồng mình”.

Nêu suy nghĩ về vẻ đẹp của khổ thơ cuối bài thơ.

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng toàn bộ tác phẩm, ta thấy qua những từ ngữ và hình ảnh giàu sức gợi cảm, lối nói miền núi mộc mạc, cách ví von sinh động cùng với giọng điệu thiết tha trìu mến, đoạn thơ đã mệnh danh những đức tính tốt đẹp của người đồng mình. Từ đó, người cha nhắn gửi những ước mong đến con hãy luôn sống ngẩng cao đầu, luôn tự hào về quê nhà mà trân trọng, gìn giữ và yêu mến…Người cha đã dậy con đạo lý cao quý “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời phải ghi nhận gật đầu gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Xuất 10/2021 # Truyện Cổ Tích: Ba Lưỡi Rìu # Top Like trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!