Xu Hướng 2/2024 # Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình hình thành kĩ năng đọc cho học sinh đó là kĩ năng ngắt giọng trong khi đọc. Xin chia sẻ bài viết của thầy Phạm Văn Công (Cao học khoá 14, Khoa Giáo dục Tiểu học, ĐHSP Hà Nội).

Đọc là một trong bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết ) yêu cầu học sinh phải đạt được trong môn học tiếng Việt, một môn học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Tập đọc là một phân môn có vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất là trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc càng được nâng cao, từ việc đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ năng đọc diễn cảm. Dạy học tập đọc ở tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần thiết cho việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tuy nhiên việc dạy học tập đọc hiện nay ở tiểu học vẫn còn gặp không ít khó khăn từ cả hai phía học sinh và giáo viên. Đối với học sinh, có nhiều em chưa chưa dạt được yêu cầu đặt ra trong việc phát triển kĩ năng đọc, đối với giáo viên, có nhiều người còn rất lúng túng trong quá trình dạy học và đặc biệt không biết phải làm thế nào để giúp học sinh có được kĩ năng đọc nhất là đọc diễn cảm.

Để nâng cao được hiệu quả dạy học tập đọc yêu cầu đặt ra đối với mỗi giáo viên tiểu học là không chỉ giúp học sinh biết giải mã các kí hiệu chữ viết thành âm thanh mà còn phải giúp học sinh có khả năng nhận thức thông hiểu những gì được đọc. Một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình hình thành kĩ năng đọc cho học sinh đó là kĩ năng ngắt giọng trong khi đọc. Đọc đúng chỗ ngắt giọng không những giúp học sinh hiểu đúng được văn bản mà còn là một trong các yếu tố cơ bản của việc đọc diễn cảm. Trong bài viết này xin được đưa ra một số ví dụ hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc đúng chỗ ngắt giọng trong quá trình dạy học tập đọc.

1.Về kĩ năng ngắt giọng lôgíc

Khi đọc một văn bản nào đó, nếu gặp những dấu câu ta cần phải ngắt, nghỉ đó chính là việc ngắt giọng. Sau dấu chấm xuống dòng phải nghỉ lâu hơn sau dấu chấm, sau dấu chấm lại phải nghỉ lâu hơn sau dấu phẩy. Sau dấu phẩy cũng có lúc lại phải nghỉ khác nhau: Dấu phẩy ngăn cách giữa các vế câu phải nghỉ lâu hơn dấu phẩy sau trạng ngữ, dấu phẩy sau trạng ngữ phải nghỉ lâu hơn dấu phẩy ngăn cách giữa các bộ phận đẳng lập trong câu. Chỗ ngắt giọng phản ánh các quan hệ ngữ pháp, tuy nhiên các quan hệ ngữ pháp có lúc được biểu hiện trên chữ viết có lúc lại không có biểu hiện gì do đó muốn đọc đúng chỗ ngắt giọng ta cần phải nắm được các quan hệ ngữ pháp đó.

– Trăng sáng mùa thu/ vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc…(Trung thu độc lập – TV4 tập 1, tr 66 ).

Trong ví dụ trên, học sinh đã ngắt giọng sai do tách “vằng vặc” ra khỏi “Trăng sáng mùa thu”vì vậy câu văn bị hiểu sai thành: “Trăng sáng mùa thu” là chủ ngữ và vị ngữ là “vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc…”. Do đó cần hướng dẫn học sinh ngắt giọng đúng như sau:

“Trăng sáng mùa thu vằng vặc/ chiếu khắp thành phố, làng mạc…”.

– Bất giác, em lại nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi/ mà vui vẻ bên tiếng bễ thổi “phì phào”…(Thưa chuyện với mẹ – TV4 tập, tr 86).

Nếu ngắt giọng như trên thì câu văn sẽ bị hiểu sai thành: Cương vừa nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi và Cương vừa cảm thấy vui vẻ bên tiếng bễ thổi “phì phào”. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Bất giác, em lại nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi mà vui vẻ/ bên tiếng bễ thổi “phì phào”…

– Chú đậu trên một cành lộc vừng/ ngả dài trên mặt hồ. (Con chuồn chuồn nước -TV4 tập 2, tr 127).

Ở đây học sinh cũng đã sai khi tách “ngả dài” ra khỏi “cành lộc vừng”, do đó câu văn bị hiểu thành: chú chuồn chuồn nằm ngả dài trên mặt hồ chứ không phải cành lộc vừng!? Vì vậy cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài/ trên mặt hồ”.

– Những thằng cu/ áo đỏ chạy lon xon.

– Con bò vàng/ ngộ nghĩnh đuổi theo sau. (Chợ tết – TV4 tập 2, tr 38).

Rõ ràng, theo cảm tính mà học sinh đã ngắt nhịp sai khi tách “áo đỏ” ra khỏi “Những thằng cu”, tách “ngộ nghĩnh” ra khỏi “Con bò vàng” làm cho câu thơ bị tách thành 2 câu cụt. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: ” Những thằng cu áo đỏ/chạy lon xon.” ; “Con bò vàng ngộ nghĩnh/đuổi theo sau.”

Để khắc phục các lỗi trên, khi hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên cần lưu ý học sinh cách phân tích quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu, cần giúp học sinh nắm được quan hệ giữa định ngữ với danh từ, định ngữ bổ nghĩa cho danh từ và chúng liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một cụm danh từ. Do đó khi đọc không được ngắt giọng ở những chỗ ngăn cách giữa danh từ với định ngữ đi kèm.

– Nổi bật trên hoa văn/ trống đồng là hình ảnh con người hoà với thiên nhiên. (Trống đồng Đông Sơn – TV 4 tập 2, tr 17)

Do ngắt giọng sai, tách cụm từ “hoa văn trống đồng” làm hai như trên nên câu văn sẽ bị sai về nghĩa bởi vì theo cách ngắt giọng đó thì “nổi bật trên hoa văn” sẽ làm trạng ngữ và “trống đồng” trở thành chủ ngữ. Vì vậy cần hướng dẫn học sinh đọc đúng như sau: “Nổi bật trên hoa văn trống đồng/ là hình ảnh con người hoà với thiên nhiên.”

– Tôi lim dim/ mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ.

Sa Pa quả là một món quà/tặng kì diệu mà thiên nhiên dành cho đất nước ta. (Đường đi Sa Pa – TV4 tập 2, tr 102).

Ở đây, học sinh cũng đã mắc sai lầm khi tách “lim dim mắt”, “quà tặng” ra làm đôi và làm cho câu văn cũng bị sai về nghĩa. Cần đọc đúng là: “Sa Pa quả là một món quà tặng kì diệu/ mà thiên nhiên dành cho đất nước ta.” , “Tôi lim dim mắt/ ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ.”

– Mặt trời lặn, ánh sáng chiếu/ soi vào bóng tối cửa đền. (Ăng-co-vát – TV4 tập 2, tr 123).

– Mỗi đứa trẻ trung bình/ mỗi ngày cười 400 lần. (Tiếng cười là liều thuốc bổ – TV4 tập 2, tr 153).

Nếu ngắt giọng sai như trên thì ta thấy sẽ có một loại “ánh sáng chiếu” được soi vào bóng tối của cửa đền. Còn ở câu thứ hai do ngắt giọng sai nên “trung bình mỗi ngày”là trạng ngữ đã bị tách làm hai và câu văn bị hiểu thành “trung bình” là định ngữ bổ nghĩa cho “mỗi đắ trẻ”. Do đó cần đọc đúng như sau: “Mặt trời lặn, ánh sáng chiếu soi/ vào bóng tối cửa đền.”.

– Chuyện ngày xưa đã có bờ/ tre xanh. (Tre Việt Nam – TV4 tập 1, tr 41).

– Anh chàng/ Gà Trống tinh nhanh lõi đời. (Gà Trống và Cáo – TV4 tập 1, tr 51).

– Hái triệu vì/ sao xuống cùng.

Đúc thành ông/ mặt trời mới.

Mãi mãi không/ còn mùa đông.

Trong ruột không/ còn thuốc nổ. (Nếu chúng mình có phép lạ – TV4 tập 1, tr 76).

– Qua bao/ nhiêu ngọn gió.

Trên những/ cánh đồng hoa.

Loá màu/ trắng hoa mơ.

Mùi hoa/ huệ ngạt ngào. (Tuổi ngựa – TV4 tập 1, tr 149)

Ở các câu trên, học sinh đã ngắt nhịp sai do tách các từ “bờ tre xanh”, “Anh chàng Gà Trống”, “vì sao”, “ông mặt trời”, “không còn”, “bao nhiêu”, “những cánh đồng”, “màu trắng”, “hoa huệ” thành hai từ làm cho các câu đó trở thành những câu không có nghĩa. Do đó cần giúp các em đọc đúng như sau:

– Chuyện ngày xưa/ đã có bờ tre xanh.

– Anh chàng Gà Trống/ tinh nhanh lõi đời.

– Hái triệu vì sao/ xuống cùng.

Đúc thành/ ông mặt trời mới.

Mãi mãi không còn/ mùa đông.

Trong ruột không còn/ thuốc nổ.

– Qua bao nhiêu/ ngọn gió.

Trên/ những cánh đồng hoa.

Loá/ màu trắng hoa mơ.

Mùi hoa huệ/ ngạt ngào.

Để khắc phục những lỗi trên, cần chú ý học sinh ngoài việc nắm được các quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu còn cần phải có thói quen không đọc các câu thơ theo một nhịp điệu nhất định mà phải thường xuyên thay đổi nhịp điệu tuỳ vào các quan hệ giữa các từ trong câu đó. Đặc biệt cần phải giúp học sinh hiểu được không thể tách một từ ra làm hai một cách tuỳ tiện như trên.

– Bây giờ mẹ lại/ lần giường tập đi. (Mẹ ốm – TV4 tập 1, tr 10).

– Vừa nhân hậu lại/ tuyệt vời sâu xa.

Người ngay thì/ được phật tiên độ trì.

Con sông chảy có/ rặng dừa nghiêng soi.

Vừa độ lượng lại/ đa tình đa mang.

Chăm làm thì được/ áo cơm cửa nhà. (Truyện cổ nước mình – TV4 tập 1, tr19).

Trong các câu trên, học sinh đã ngắt nhịp sai do tách hư từ vốn có quan hệ rất chặt chẽ với bộ phận đi theo sau nó làm câu thơ trở nên rất khó nghe. Do đó cần hướng dẫn học sinh đọc đúng các câu thơ trên như sau:

– Bây giờ/ mẹ lại lần giường tập đi.

– Vừa nhân hậu/ lại tuyệt vời sâu xa.

Người ngay/ thì được phật tiên độ trì.

Con sông chảy/ có rặng dừa nghiêng soi.

Vừa độ lượng/ lại đa tình đa mang.

Chăm làm/ thì được áo cơm cửa nhà.

Để khắc phục các lỗi trên, giáo viên cần cho học sinh nắm được quan hệ chặt chẽ giữa hư từ với bộ phận đi kèm theo sau nó. Từ đó giúp học sinh có thói quen đọc liền hư từ với bộ phận đi kèm.

– Khi đọc câu thơ cuối trong bài thơ “Mẹ ốm” (TV4 tập 1, tr 10) giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp như sau: “Mẹ/ là đất nước tháng ngày của con.”.

Rõ ràng với cách ngắt nhịp như trên sẽ giúp cho người nghe thấy hết được tình cảm yêu thương sâu sắc của tác giả đối với người mẹ đã từng vất vả nuôi con khôn lớn thành người.

– Cũng cần chú ý học sinh, trong một số trường hợp có thể cần phải phá vỡ các quan hệ ngữ pháp để tạo ra một cách ngắt nhịp đem đến cho người nghe sự nhẹ nhàng êm ái trong giai điệu của những vần thơ chứa đầy chất nhạc. Chẳng hạn như khi đọc một số câu trong bài “Bè xuôi sông La” (TV4 tập 2, tr 27) giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp như sau: “Sông La/ ơi sông La”. Với cách ngắt nhịp trên sẽ gây được cảm xúc mạnh mẽ hơn đối với người nghe, câu thơ trở nên mượt mà hơn với ự ngân dài tha thiết của từ “ơi”. Hay: “Bè đi/ chiều thì thầm”, “Gỗ/ lượn đàn thong thả”. Đây cũng là cách ngắt nhịp có hiệu quả nhất, nó làm cho câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng được miêu tả với nhiều hoạt động mà cũng không hạn chế thời gian bè đi vào buổi chiều, lại tạo được một sự kết hợp bất thường “chiều thì thầm” làm cho thời gian như được nhân hoá cất lên thành lời.

Đề Tài Phương Pháp Tổ Chức Dạy Các Dạng Bài Tập Luyện Từ Và Câu Cho Học Sinh Lớp 4

PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4

A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lí luận.

Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người. Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ nhỏ.

Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với những thành viên của mình.

Phần I: Mở đầu Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Lý do chọn đề tài Cơ sở lí luận. Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người. Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ nhỏ. Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với những thành viên của mình. Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở trước mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất. Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học. Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh. Ngôn ngữ là thứ công cụ có tác dụng vô cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tới được. Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn...song song tồn tại với các môn học khác. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm "đầu tư" cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác. Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4. Cơ sở thực tiễn. Việc giải quyết các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 có hiệu quả đặt ra cho các Giáo viên Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản. Qua thực tế dạy tôi đã gặp phải không ít những khó khăn. Bởi đây là chương trình thay sách lớp 4 mới. Cùng tồn tại với nó là từ ngữ và ngữ pháp của chương trình cải cách đều đảm nhiệm cung cấp vốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ và câu mang tính chất máy móc, không mở rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức của bài. Về phía học sinh, làm các bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm như vậy, học sinh không có hứng thú trong việc giải quyết kiến thức. Do vậy việc tổ chức cho học sinh trong các giờ giải quyết các bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các giáo viên và ngay bản thân tôi. Trong quá trình dạy học cũng như việc phát hiện học sinh năng khiếu, tôi cũng như một số giáo viên khác khi dạy đến tiết Luyện từ và câu, đặc biệt các khái niệm về từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép...bộc lộ không ít hạn chế. Về nội dung chương trình dạy phần đó trong sách giáo khoa rất ít. Chính vì vậy học sinh rất khó xác định, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán không thu hút học sinh vào hoạt động này. Để tháo gỡ khó khăn đó rất cần có một phương pháp tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4. Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập, giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình. Vì điều kiện, khả năng nghiên cứu có hạn tôi xin mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua đề tài "Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4". B. Nhiệm vụ nghiên cứu. Tìm hiểu tình hình học tiếng việt phân môn Luyện từ và câu thực hành xác định phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câ. Đề xuất một số biện pháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4. C. Mục đích nghiên cứu. Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức thích hợp nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu. Từ đó vận dụng linh hoạt vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh một cáhc hiệu quả nhất. D. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu, học hỏi tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau: I. Phương pháp nghiên cứu. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu). 2. Phương pháp phân tích tổng hợp. 3. Phương pháp điều tra. 4. Phương pháp thực nghiệm 5. Phương pháp đàm thoại. 6. Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. II. Tiến trình nghiên cứu. 1. Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc gần gũi với học sinh vàhiểu tình trạng giải quyết làm các bài tập Luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 4. 2. Đề ra phương hướng để nâng cao chất lượng làm các bài tập có hiệu quả hơn. 3. Dạy thực nghiệm, áp dụng trên lớp đối chứng, phân tích các kết quả bằng số liệu thống kê. Phần II: Nội dung I. Thực trạng dạy - học các dạng bài tập "Luyện từ và câu". 1. Đối với chương trình sách giáo khoa. Số tiết Luyện từ và câu của chính sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần. Sau mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài. Mà việc xác định phương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cần thiết. Việc xác định yêu cầu của bài và hướng giải quyết còn mang tính thụ động, chưa phát huy triệt để vốn kiến thức khi luyện tập, thực hành. 2. Đối với giáo viên. Phân môn "Luyện từ và câu" tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp. Từ đó nâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần được xem xét của quá trình dạy học "Luyện từ và câu", là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình dạy học này. Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập "Luyện từ và câu" cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực trạng của giáo viên như sau: - Phân môn "Luyện từ và câu" là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lý giáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn. - Giáo viên một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này. - Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh. - Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt. - Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mới phương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này. Đồng thời là tiền đề trong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu. Nhưng kết quả giảng dạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế. 3. Đối với học sinh. Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn "Luyện từ và câu" nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này. Học sinh không có hứng thú học phân môn này. Các em đều cho đây là phân môn vừa "khô" vừa "khó". Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu...Từ đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc. Việc xác định còn nhầm lẫn nhiều. Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài. Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài không đạt yêu cầu. Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn. Do vậy ngay khi dạy tới phần từ ghép, từ láy...Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 4B bằng bài tập sau. Đề bài: Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau. "Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhạn. Rồi tre lớn lên cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người". Qua khảo sát ở lớp tôi có 36 học sinh, kết quả khảo sát như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 6 16 7 19 12 34 11 31 Điều đáng nói ở đây là có tới 20 em chưa biết xác định từ ghép, từ láy, trong quá trình làm học sinh chưa biết trình bày khoa học rõ ràng, câu trả lời chưa đầy đủ. Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả hai phía; Người dạy và người học. Do vậy tôi rất cần phải trau dồi kiến thức tìm ra phương pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên để kết quả dạy học được nâng lên, thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động học. 4. Sơ lược một số dạng bài tập "Luyện từ và câu" điển hình. + Phân tích cấu tạo của tiếng. + Tìm lời khuyên trong các câu tục ngữ, ca dao. + Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp. + Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được + Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó. + Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn. + Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó. + Viết thêm trạng ngữ cho câu... II. Đề ra các biện pháp nghiên cứu, áp dụng phương pháp tổn chức dạy các Dạng bài tập " Luyện từ và câu". A. Phương pháp nghiên cứu. Với đặc trưng của môn "Luyện từ và câu" cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáo viên, việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức, kỹ năng làm các bài tập "Luyện từ và câu" cho học sinh lớp 4. Tôi đã nghiên cứu và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hết tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau. 1. Đọc thật kỹ đề bài. 2. Nắm chắc yêu cầu của đề bài. Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm. 3. Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài. 4. Kiểm tra đánh giá. Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng ... yếu chọn những ngữ liệu cụ thể rõ ràng để học sinh dễ xác nhận. Ví dụ: Với dạng bài mở rộng vốn từ ý chí - nghị lực. Viết một đoạn văn ngắn nói về một người có ý chí, nghị lực nên đax vượt qua nhiều thử thách, đạt được thành công. Với học sinh khá, giỏi tôi cho học sinh phân tích yêu cầu đề bài sau đó viết ngay vào nháp. Quan tâm đến đối tượng học sinh trong giảng dạy chính là chú ý đến việc nâng cao chất lượng học sinh giỏi để bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đại trà. Đó là việc làm quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giảng dạy. Một điều tôi cũng rất quan tâm đó là việc trình bày của học sinh. Các em làm bài có thể tốt nhưng cách trình bày bố cục bài làm của học sinh còn là cả một vấn đề cần chấn chỉnh. Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tích cực tìm tòi phương pháp tổ chức cho học sinh làm các dạng bài tập Luyện từ và câu. Trải qua một học kỳ ôn tập cùng thời gian áp dụng phương pháp nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát để xem sự chuyển biến của học sinh sau khi đã được hoạt động sôi nổi trong giờ luyện từ và câu giải quyết các bài tập với lớp 4B do tôi chủ nhiệm. Đề bài: Đọc thầm bài "Về thăm bà" và trả lời câu hỏi sau: 1) Trong bài "Về thăm bà" từ nào cùng nghĩa với từ "hiền" 2) Câu "Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy bình yên và thong thả như thế" có mấy động từ, tính từ? a. Một động từ, 2 tính từ. Các từ đó là: - Động từ - Tính từ b. Hai động từ, 2 tính từ. Các từ đó là: - Động từ - Tính từ c. Hai động từ, 1 tính từ. Các từ đó là: - Động từ - Tính từ 3) Câu "Cháu đã về đấy ư ?" được dùng làm gì? a. Dùng đề hỏi. b. Dùng để yêu cầu, đề nghị. c. Dùng thay lời chào. 4) Trong câu " Sự im lặng làm Thanh mãi mới cất được tiếng gọi khẽ" bộ phận nào là chủ ngữ? a. Thanh b. Sự yên lặng c. Sự yên lặng làm Thanh. Kết quả thu được: Tổng só lớp 4B có 36 em. Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 14 39,2 16 44,8 6 16 0 0 III. Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng. Không chỉ dừng lại phạm vi nghiên cứu trong lớp, tôi đã áp dụng kinh nghiệm đổi mới này vào lớp cùng khối là lớp 4C (lớp đối chứng). Lớp 4C có 35 học sinh. Trước tiên tôi sử dụng ngay bài khảo sát của lớp 4B (lớp tôi dạy) ở giai đoạn cuối để khảo sát lớp 4A, kết quả thu được như sau: Giỏi : 7 em chiếm 20% Khá : 9 em chiếm 25,6% TB : 11 em chiếm 31,4% Yếu : 8 em chiếm 23% Điều này chứng tỏ phương pháp tổ chức cho học sinh học các bài tập Luyện từ và câu là rất quan trọng, nó quyết định rất nhiều đến kết quả học tập của học sinh. Cùng với việc nghiên cứu của mình, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp, phổ biến kinh nghiệm tổ chức phương pháp dạy học tốt cho học sinh xác định rõ yêu cầu của bài, tổ chức cho các em được hoạt động có hiệu quả, học sinh được hướng dẫn thực hành phù hợp với nội dung từng bài. Dần dần các em đã hình thành được thói quen làm việc có kế hoạch, linh hoạt với từng dạng bài. Sau một thời gian hướng dẫn lớp 4C, tôi ra một đề khảo sát. Đề bài: "Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao. Màu vàng trên lưng chú lắp lánh, bốn cánh mỏng như giấy bông. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thuỷ tinh". Hãy xác định: Từ đơn, từ ghép, từ láy. Trong các từ đó đâu là danh từ, động từ, tính từ. Đậưt một câu với 1 từ đơn, từ ghép, từ láy em vừa tìm được. Kết quả đạt được như sau: Giỏi : 11 em chiếm 31,4% Khá : 15 em chiếm 43,6% TB : 05 em chiếm 14% Yếu : 04 em chiếm 11% Với kết quả thu được ở việc dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng tôi càng vững vàng tin tưởng vào việc vận dụng phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 có hiệu quả. Kết luận I. Kết quả nghiên cứu đạt được. Thực hiện đề tài này, khi học sinh đã được củng cố, khắc sâu, mở rộng và rèn kĩ năng luyện tập thực hành về các dạng bài tập "Luyện từ và câu" lớp 4 tôi thấy kết quả của việc làm đó như sau: - Học sinh được tổ chức hoạt động một cách độc lập, tìm tòi kiến thức, tầm nhận thức đối với mọi đối tượng học sinh là phù hợp, nên học sinh tiếp thu một cách có hiệu quả. - Các em biết dựa vào kiến thức lý thuyết để vận dụng làm các bài tập một cách chủ động. - Với phương pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có cơ sở, được đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên. - Các em đã hình thành được thói quen đọc kỹ bài, xác định yêu cầu của bài. Không còn tình trạng bỏ sót yêu cầu của đề bài. - Học sinh có ý thức rèn cách trình bày sạch sẽ, khoa học, biết dùng từ đặt câu hợp lý. Ngoài ra học sinh còn có thêm thói quen kiểm tra, soát lại bài của mình. - Qua việc giảng dạy theo dõi kết quả của học sinh qua các giờ kiểm tra, bài kiểm tra định kỳ của học sinh tôi thấy: Học sinh sẵn sàng đón nhận môn "Luyện từ và câu" bất kỳ lúc nào. Đó cũng nói lên học sinh đã bắt đầu yêu thích môn học, mạnh dạn nêu ý kiến của mình. - Tuy kết quả tôi nêu trên hết sức sơ lược và ở phạm vi nhỏ, song nó cũng góp phần động viên tôi trong công tác giảng dạy học sinh nói chung, phát hiện bồi dưỡng những học sinh khá, giỏi, phụ đạo học sinh yếu nói riêng. Bé nhỏ như vậy nhưng vô cùng quan trọng đối với một giáo viên còn non nớt kinh nghiệm như tôi trong việc tháo gỡ khó khăn, trong việc tìm ra phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập "Luện từ và câu" cho học sinh của mình. II- Bài học kinh nghiệm. Dạy học các dạng bài tập "Luyện từ và câu" cho học sinh lớp 4 giúp học sinh nắm được kiến thức trong phân môn "Luyện từ và câu" cung cấp: Học sinh hiểu được từ mới, phát triển kĩ năng, kỹ xảo sử dụng từ ngữ, học sinh còn biết nhận diện xác định các dạng bài tập, phân tích kỹ, chính xác yêu cầu của đề bài, từ đó có hướng cho hoạt động học tập của mình. Để đạt được các điều đó, người giáo viên cần chú ý: - Trong quá trình giảng dạy giáo viên không nên nóng vội, mà phải bình tĩnh trong thời gian không phải ngày 1 ngày 2. Đặc biệt luôn xem xét phương pháp giảng dạy của mình để điều chỉnh phương pháp sao cho phù hợp với việc nhận thức của học sinh, gây được hứng thú học tập cho các em. - Phải nghiên cứu để nhận thức rõ về vị trí, nhiệm vụ của phần kiến thức vừa dạy. - Lưu ý quá trình giảm tải đề điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh lớp mình, đề ra hướng giải quyết cho việc cân chỉnh thống nhất giảm tải. - Không ngừng học hỏi trao đổi với đồng nghiệp để nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng. Trong giảng dạy, giáo viên không được áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng, là nhân tố chủ yếu cho kết quả giáo dục. Luôn gợi mở khám phá tìm tòi biện pháp tốt nhất cho học sinh nắm chắc kiến thức. Rèn cho học sinh cách tư duy thông minh, sáng tạo, làm việc độc lập, nâng cao kết quả tự học của mình: Tạo cho học sinh có niềm vui trong học tập, có hứng thú đặc biệt trong học tập. Giáo viên luôn luôn giải quyết tình huống vướng mắc cho học sinh. - Giáo viên phải tôn trọng nghiêm túc thực hiện giáo dục, giảng dạy theo nguyên tắc từ những điều đơn giản mới đến nâng cao, khắc sâu...Để học sinh nắm vững việc giải quyết các bài tập "Luyện từ và câu", giáo viên cũng cần lưu ý điểm sau: + Tìm ra phương pháp tổ chức sao cho phù hợp với từng dạng bài tập. + Phân biệt cho học sinh hướng giải quyết cho các dạng bài khác nhau. Học sinh cần nắm được các bước tiến hành một bài tập. Cần tổ chức cho học sinh theo các hình thức tổ chức có thể theo nhóm, cá nhân, có thể làm việc cả lớp để phát huy tốt hiệu quả giờ dạy. - Lưu ý cho học sinh cách trình bày sạch sẽ, khoa học, rèn chữ viết đẹp đúng chính tả cho học sinh. III. Phạm vi, điều kiện áp dụng và hướng tiếp tục nghiên cứu. Việc dạy các bài tập "Luyện từ và câu"cho học sinh lớp 4 là vấn đề hết sức nan giải vì thời gian có hạn và năng lực trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên tôi mới chỉ nghiên cứu được tìm ra phương pháp tổ chức một giờ dạy các dạng bài tập "Luyện từ và câu". Phần nghiên cứu có thể chưa sâu, chưa sát, tôi thiết nghĩ nếu chỉ nghiên cứu trong phạm vi của đề tài này thì chưa đủ vì thế trong tương lai nếu có điều kiện tiếp tục nghiên cứu, tôi hứa sẽ nghiên cứu hoàn thiện hơn. - Đề tài này chỉ có thể áp dụng, vận dụng trong phạm vi ở tiết "Luyện từ và câu" của học sinh lớp 4. IV. Những hạn chế: Nếu không được giáo viên gợi mở, đề ra phương pháp tổ chức cụ thể cho từng dạng bài thì học sinh sẽ rất ngại học môn này và không hiểu bản chất của các bài tập cần khai thác cái gì?. Các học sinh lớp 4 tầm nhận thức còn hạn chế, thời gian dành cho tiết bài tập còn ít nên việc rèn cho học sinh có kĩ năng kĩ xảo còn chưa đầy đủ và hệ thống. V. Những đề xuất. Dạy các dạng bài tập "Luyện từ và câu" là nguồn cung cấp vốn từ, lối diễn đạt bồi dưỡng tư duy văn học cho học sinh. Muốn vậy: * Đối với học sinh: Các em cần quan tâm, xác định được tầm quan trọng của môn này. Các em cần được động viên, khích lệ kịp thời, đúng lúc của mọi người để kích thích các em có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập, đó chính là gia đình - nhà trường xã hội. * Đối với giáo viên: Không ngừng học hỏi tìm tòi tích luỹ kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ thông tin, sách vở và từ chính học sinh. + Nắm chắc nội dung chương trình, ý đồ của sách giáo khoa, dạy sát đối tượng học sinh, lựa chọn phương pháp hình thức tổ chức phù hợp với mỗi dạng bài. + Cần xác định không phải dạy bài khó, bài nâng cao thì học sinh mới giỏi. + Đặc biệt phải tâm huyết với nghề, luôn đặt học sinh là trung tâm, có trách nhiệm với việc học của học sinh và bài dạy của mình. Động viên gần gũi giúp đỡ học sinh. * Đối với nhà trường và các cấp quản lý: Nhà trường cần tạo điều kiện cơ sở vật chất để giáo viên và học sinh có thể học tập nâng cao kiến thức. + Tạo điều kiện để giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại sách tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn. + Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều thành tích cao trong giảng dạy và học tập. + Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp để chúng ta có hương giải quyết tiếp theo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học phân môn "Luyện từ và câu" nói riêng và phân môn Tiếng Việt nói chung, góp phần giáo dục học sinh trở thành con người phát triển toàn diện. Xin chân thành cảm ơn!

Đọc Một Bài Thơ Như Thế Nào

Edward Hirsch là nhà thơ và nhà phê bình người Mỹ. Sinh năm 1950 ở Chicago, ông lấy bằng tiến sĩ ngành văn học dân gian tại Đại học Pennsylvania và dạy văn học Anh tại Đại học Wayne State và Đại học Houston trước khi được bổ nhiệm làm chủ tịch Quỹ John Simon Guggenheim vào năm 2002. Ông được trao giải thơ của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia Mỹ năm 1986.

Đọc thơ tốt một phần là thái độ một phần là kỹ thuật. Hiếu kỳ là một thái độ hữu ích, đặc biệt là khi nó không chứa những tư tưởng định trước về thơ là gì hay nên là gì. Kỹ thuật hiệu quả hướng sự hiếu kỳ của ta đến đặt câu hỏi, kéo ta vào cuộc trò chuyện với thơ.

Bắt đầu: Các tiền giả định

Hầu hết độc giả đều đưa ra ba giả định sai lầm khi giải quyết một bài thơ không quen thuộc. Thứ nhất là giả định rằng họ cần hiểu cái họ gặp trong lần đọc thứ nhất, nếu họ không hiểu thì họ hoặc bài thơ có vấn đề. Thứ hai là giả định rằng thơ là một loại mã, rằng mỗi chi tiết tương ứng với một và chỉ một điều, và nếu không thể phá mã thì họ không hiểu nó. Thứ ba là giả định rằng thơ có thể mang bất cứ ý nghĩa nào mà độc giả muốn.

William Carlos Williams đã viết một đoạn gửi vợ mình trong bài thơ “January Morning” (“Sáng tháng Giêng”):

All this- was for you, old woman. I wanted to write a poem that you would understand. For what good is it to me if you can't understand it? but you got to try hard-

Williams thừa nhận trong những dòng này rằng thơ thường rất khó. Ông cũng gợi ý rằng một nhà thơ thì phụ thuộc vào nỗ lực của độc giả; bằng cách này hay cách khác, độc giả phải “hoàn thành” những gì mà nhà thơ đã bắt đầu.

Hành động hoàn thành này bắt đầu khi ta bước vào lối chơi giàu tưởng tượng của một bài thơ, mang đến nó trải nghiệm và góc nhìn của ta. Nếu thơ là “chơi” theo nghĩa một trò chơi hay một môn thể thao, thì ta thích thú việc nó khiến ta vận động đôi chút, việc nó làm ta đổ mồ hôi đôi chút. Đọc thơ là một thách thức, nhưng như rất nhiều thứ khác, nó cần thực hành, và các kỹ năng và hiểu biết của ta cải thiện khi ta thực hành.

Văn chương là, và luôn là, sự chia sẻ trải nghiệm, sự tổng hợp hiểu biết của con người về sống, yêu, và chết. Những bài thơ thành công chào đón ta, bộc lộ những ý tưởng có thể không quan trọng nhất trong tâm trí tác giả ở thời điểm sáng tác. Thơ tốt nhất có một phẩm chất huyền diệu-cảm giác rằng thơ không chỉ là tổng các thành phần mà còn hơn thế-và ngay cả khi không thể bày tỏ cảm giác này, cái nhiều hơn này, sức mạnh của thơ vẫn không suy giảm.

Thơ nói với ta bằng nhiều cách. Dù có thể hình thức của thơ không luôn là trực tiếp hay tự sự, hãy nhớ rằng một con người thực sự đã hình thành thời khắc của thơ, và tìm kiếm một sự hiểu biết về thời khắc ấy là khôn ngoan. Đôi khi công việc của thơ là đến gần hơn việc nói những gì không thể nói trong những hình thức khác của viết, là gợi ý một trải nghiệm, ý tưởng, hay cảm giác mà ta có thể biết nhưng không thể biểu đạt hoàn toàn trong bất cứ cách thức trực tiếp hay nguyên nghĩa nào. Kỹ thuật sắp xếp từ ngữ và dòng, âm thanh và nhịp điệu, thêm vào-và trong một số trường hợp, nhân lên-ý nghĩa của từ ngữ vượt ra ngoài nghĩa đen, cho ta một ấn tượng về một ý tưởng hay cảm giác, một trải nghiệm mà ta không thể hoàn toàn diễn đạt bằng lời nhưng biết rằng nó là thật.

Đọc thành tiếng một bài thơ

Trước khi tiến xa hơn với thơ, ta phải đọc nó. Trên thực tế, chỉ cần nhìn vào nó ta cũng có thể biết một số điều. Trước hết, nhan đề có thể cho ta hình ảnh hay liên kết nào đó. Nhìn vào hình dạng của thơ, ta có thể thấy các dòng thơ được viết liên tục hay chia thành nhóm (gọi là khổ), hay các dòng dài đến đâu, và bài thơ đặc, ở mức độ vật lý, như thế nào. Ta cũng có thể thấy nó có trông giống bài thơ cuối cùng mà ta đọc của cùng nhà thơ đó hay thậm chí một bài thơ của một nhà thơ khác hay không. Tất cả đều là những phẩm chất tốt đáng chú ý, và cuối cùng chúng có thể dẫn ta đến sự hiểu biết tốt hơn về thơ.

Nhưng sớm hay muộn, ta sẽ phải đọc bài thơ, từng chữ một. Để bắt đầu, hãy đọc thành tiếng bài thơ. Đọc nhiều hơn một lần. Lắng nghe giọng mình, nghe âm thanh mà từ ngữ tạo nên. Ta có nhận thấy bất cứ hiệu ứng đặc biệt nào hay không? Có chữ nào vần với nhau hay không? Có cụm âm thanh nào có vẻ giống hay tương tự nhau không? Có phần nào có nhịp điệu khác phần còn lại của bài thơ hay không? Đừng lo về việc tại sao có thể bài thơ sử dụng những hiệu ứng này. Bước đầu tiên là lắng nghe những gì đang diễn ra. Nếu thấy giọng mình gây mất tập trung, hãy nhờ một người bạn đọc.

Nói như vậy, có thể ta vẫn không thoải mái khi đọc thành tiếng hay đi qua một bài thơ nhiều hơn một lần. Một phần thái độ này xuất phát từ quan niệm sai lầm rằng ta cần hiểu một bài thơ sau lần đầu tiên đọc nó, trong khi một phần bắt nguồn từ sự ngượng nghịu đơn thuần. Ta có thể đến nơi nào để đọc thành tiếng? Bạn bè nghe được thì sao?

Dòng

Điều gì quyết định một dòng dừng lại ở đâu trong thơ? Dĩ nhiên, có nhiều hơn một câu trả lời cho câu hỏi này. Dòng thường được quyết định bởi ý nghĩa, âm thanh và nhịp điệu, nhịp thở, hoặc kiểu in. Các nhà thơ có thể sử dụng nhiều yếu tố cùng một lúc. Một số bài thơ vận luật theo nghĩa hẹp. Nhưng nếu các dòng không vận luật thì sao? Nếu các dòng bất thường thì sao?

Đôi khi rất khó nhận ra quan hệ giữa ý nghĩa, âm thanh, và chuyển động theo ý định của nhà thơ, nhưng có sự tương tác giữa ngữ pháp của dòng, nhịp thở của dòng, và cách các dòng được ngắt trong thơ-điều này được gọi là ngắt dòng (lineation). Ví dụ, các dòng kết thúc bằng dấu câu, gọi là dòng kết (end-stopped line), thì khá đơn giản. Trong trường hợp đó, dấu câu và cách ngắt dòng, và có lẽ cả nhịp thở, trùng nhau để khiến cách đọc quen thuộc và thậm chí dễ đoán. Nhưng các dòng không phải dòng kết thì mang lại những thách thức khác cho độc giả do chúng kết thúc hoặc bằng một cụm từ hay câu không đầy đủ hoặc ngắt trước khi đến dấu câu. Cách tiếp cận tự nhiên nhất là chú ý chặt chẽ đến ngữ pháp và dấu câu. Đọc đến cuối một cụm từ hay câu, ngay cả khi nó dàn qua một hay nhiều dòng, là cách tốt nhất để giữ lại ý nghĩa ngữ pháp của một bài thơ.

Nhưng sự ngắt dòng còn đưa ra một biến thể nữa được một số nhà thơ vận dụng. Robert Creeley có lẽ được biết đến nhiều nhất vì ngắt dòng không theo những khoảng ngừng ngữ pháp dự kiến. Kỹ thuật này thường đem lại ý nghĩa thứ cấp, đôi khi trong sự đối lập mỉa mai với ý nghĩa thực sự của cụm từ ngữ pháp hoàn chỉnh. Hãy xem xét những dòng này trong bài thơ “The Language” (“Ngôn ngữ”) của Creeley:

Locate I love you some- where in teeth and eyes, bite it but

Đọc những dòng này theo lối viết, đối lập với quan hệ ngữ pháp của chúng, sinh ra một vài ý nghĩa kỳ lạ. “Locate I ” dường như chỉ ra một cuộc truy tìm bản sắc, và quả thật có thể là thế, nhưng dòng tiếp theo, tiếp tục với “love you some-,” lại có vẻ đưa ra một tuyên bố tiêu cực về một mối quan hệ. Bản thân “eyes bite” thì rất rối.

Nghe Creeley đọc thơ của ông thường có thể rất khó chịu, bởi ông dừng ở cuối mỗi dòng, và những khoảng dừng ấy tạo ra một dạng căng thẳng hoặc đối đầu với cấu trúc câu của bài thơ. Có thể lập tức nhận ra phong cách ngập ngừng, do dự, khó thở của ông, và nó thể hiện với các nhà văn những ý tưởng mới về ý nghĩa, thuần túy qua sự ngắt dòng. Nhưng nhiều nhà thơ ngắt dòng không theo các đơn vị ngữ pháp làm như vậy chỉ vì sự châm biếm thị giác, một thứ có thể mất đi trong lúc đọc. Giữa các nhà thơ vần luật, thơ tự do, và cả những nhà thơ thể nghiệm ngày nay, có những người không làm gián đoạn ý nghĩa ngữ pháp khi đọc thơ nhiều như họ làm gián đoạn nó trong kiểu in của thơ. Là độc giả thì phải làm sao? Hãy thử nhiều phương pháp. “Creeley hóa” bất kỳ bài thơ nào cũng rất thú vị, chỉ để nghe xem cách ngắt dòng đang làm điều gì. Nhưng nếu kết quả dường như làm giảm tác động của bài thơ, về mặt hình ảnh hay khái niệm của nó, hãy bỏ qua việc đọc bám theo cách ngắt dòng và đọc vì ngữ pháp hoặc hình ảnh trực quan. Đọc một bài thơ bằng nhiều cách cho phép ta nhìn sâu hơn chỉ đơn giản bằng sự lặp lại.

Với các nhà thơ sử dụng những kỹ thuật rút ra từ âm nhạc-đặc biệt là jazz, như Michael S. Harper hay Yusef Komunyakaa-hoặc sử dụng những dòng dài bất thường như Walt Whitman, có thể có một nguyên tắc hướng dẫn khác: nhịp thở. Một số nhà thơ nghĩ về từ ngữ của mình như âm nhạc tuôn ra từ cái kèn; họ nghĩ về các cụm từ theo cách nghĩ của nghệ sĩ saxophone. Thơ sáng tác theo cách này có độ dài của dòng khác nhau nhưng có nhạc tính trong cách ngắt dòng và có tính tự nhiên trong cách đọc. Chúng có thể có nhịp dễ nhận biết, một khoảng thời gian tương đương giữa các dòng, hoặc, vì sự tương phản, một khuôn nhịp hoặc khoảng thời gian mở đường cho những biến thể kế tiếp.

Hãy nhớ rằng việc sử dụng những kỹ thuật này, trong bất kỳ sự kết hợp nào, cũng đẩy từ ngữ của thơ ra ngoài nghĩa đen của chúng. Nếu trong thơ ta tìm thấy nhiều hơn những gì mà riêng từ ngữ truyền tải, thì thứ gì đó lớn hơn đã có tác dụng, khiến thơ không chỉ là tổng các thành phần của nó mà còn hơn thế.

Ai là người nói?

Hoàn cảnh nào dẫn đến bài thơ?

Tình huống được đưa ra là gì?

Đối tượng của bài thơ là ai hay cái gì?

Giọng điệu của bài thơ là gì?

Hình thức, nếu có, của bài thơ?

Âm thanh có phải là một yếu tố quan trọng, tích cực của bài thơ?

Bài thơ có bắt nguồn từ một thời khắc lịch sử có thể xác định được hay không?

Bài thơ có nói từ một nền văn hóa cụ thể hay không?

Bài thơ có sử dụng tiếng địa phương hay không?

Bài thơ có sử dụng hình ảnh để đạt được một hiệu ứng đặc biệt nào không?

Loại ngôn ngữ tượng hình nào, nếu có, mà bài thơ sử dụng?

Nếu bài thơ là một câu hỏi, thì câu trả lời là gì?

Nếu bài thơ là một câu trả lời, thì câu hỏi là gì?

Nhan đề bài thơ gợi ý điều gì?

Bài thơ có sử dụng từ ngữ bất thường hoặc theo cách bất thường hay không?

Ta có thể quay trở lại những câu hỏi này khi cần, nhưng kinh nghiệm cho thấy vì mỗi bài thơ là độc nhất, những câu hỏi như vậy sẽ không đạt đến độ xa cần thiết. Trong nhiều trường hợp, biết ai là người nói có thể không mang lại bất cứ thông tin nào hữu ích. Có thể không có dịp nào xác định được truyền cảm hứng cho bài thơ. Nhưng thơ thường cho ta những manh mối về nơi để bắt đầu. Đặt câu hỏi về những đặc điểm có thể quan sát được của một bài thơ sẽ giúp ta tìm một con đường vào.

Văn bản và bối cảnh

Có người nói thơ luôn là một tác phẩm nghệ thuật độc lập và độc giả có thể hiểu đầy đủ nó mà không cần sử dụng bất cứ nguồn nào ngoài bản thân bài thơ. Người khác lại nói không văn bản nào tồn tại trong chân không. Tuy nhiên, sự thật nằm đâu đó ở giữa. Phần lớn thơ có thể diễn giải mà không cần sự trợ giúp của bối cảnh lịch sử hay kiến thức về cuộc đời tác giả. Trên thực tế, tiếp cận một bài thơ mà không có những tư tưởng định trước có thể đi kèm với kiểu thông tin này thường là cách tiếp cận tốt nhất. Tuy nhiên, những bài thơ khác, đặc biệt là những bài thơ chính trị công khai, sẽ hưởng lợi từ một số kiến thức về cuộc đời và thời đại của nhà thơ. Lượng thông tin cần thiết để hiểu rõ phụ thuộc vào ta và cuộc gặp của ta với thơ. Dĩ nhiên, có khả năng ngay cả một người có nền tảng sâu rộng về thơ cũng không nhận thức được những mối liên hệ hay những tác động nhất định trong một bài thơ. Điều này là bởi thơ được tạo nên từ những từ ngữ tích tụ những ý nghĩa mới qua thời gian.

Hãy xem xét tình huống này, một câu chuyện có thật, của một nhà thơ tìm thấy một “văn bản” ở bờ biển San Mateo ở miền Bắc California. Khi trèo qua những tảng đá sau bãi biển, gần những cánh đồng atisô phân cách bờ biển với đường cao tốc duyên hải, bà tìm thấy một vết graffiti lớn sơn trên đá, ” La Raza,” một khẩu hiệu chính trị của người Chicano mang nghĩa “đấu tranh.” Bà ngồi xuống và viết một bài thơ. Tại sao? bài thơ của bà hỏi. Tôi hiểu, bà viết, tại sao ai đó viết La Raza lên tường một tòa nhà hay trên phương tiện giao thông công cộng. Ở đó người ta sẽ thấy nó và nó sẽ cất tiếng phản đối từ chính những nền tảng của hệ thống áp bức. Nhưng tại sao lại ở đây, trong tự nhiên, trong cái đẹp, cách xa đấu trường chính trị ấy. Không để bờ biển giữ được vẻ hoang sơ hay sao? Sau này, một buổi tối trong khi đọc bài thơ đó ở Berkeley, bà nhận được câu trả lời. Một người tiến đến chỗ bà và hỏi, “Chị có muốn biết tại sao không?” “Xin anh,” bà trả lời. “Những cánh đồng ấy,” người đàn ông tiếp tục, “là nơi người Chicano gần như đã bị nô dịch, đánh đập, và buộc phải sống trong nghèo khổ trong nhiều thập niên.” Cảnh quan đã không vô tội trong cuộc đấu tranh chính trị. Văn bản đã không nằm ngoài nơi chốn.

Chấp nhận sự mơ hồ

Đây là một vấn đề hóc búa: nhiệm vụ là nắm bắt, là kết nối, là hiểu. Nhưng nhiệm vụ như vậy ở một mức độ là bất khả, và hầu hết mọi người đều muốn sự rõ ràng. Vào cuối lớp, vào cuối ngày, chúng ta muốn sự mặc khải, một hình ảnh đường chân trời qua màn sương mù tan. Về mặt mỹ học, điều này là dễ hiểu. Một sự huyền diệu, một sự thỏa mãn, một vài tiếng “Ahhh!” là một trong những phần thưởng của việc đọc, và đặc biệt là đọc thơ. Nhưng bài thơ nào bộc lộ bản thân hoàn toàn qua một hoặc hai lần đọc sẽ, theo thời gian, có vẻ không bằng một bài thơ liên tục bộc lộ những hốc kín tinh tế và những ý nghĩa chưa được nhận ra trước đó.

Đây là một phép so sánh hữu ích. Bạn đời, người chồng, người vợ-đó là những người mà chúng ta hy vọng luôn đổi mới tình yêu của chúng ta với họ. Bất chấp thói quen, tiếng ồn của sự quen thuộc, việc chuẩn bị đồ ăn và rửa bát đĩa thường nhật, những cuộc trò chuyện chúng ta từng có, chúng ta vẫn hy vọng tìm thấy một cảm giác khám phá, một cảm giác bất ngờ. Điều này cũng đúng với thơ. Những bài thơ huyền diệu và tuyệt vời nhất vẫn liên tục đổi mới bản thân, nói như vậy có nghĩa là chúng vẫn luôn bí ẩn.

Chúng ta thường xuyên chống lại sự mơ hồ. Có lẽ cuộc sống của chúng ta thay đổi chóng vánh đến nỗi chúng ta khao khát sự ổn định ở đâu đó, và bởi phần lớn việc đọc là để lấy hướng dẫn hay thông tin, chúng ta muốn nó không có gam màu xám. Chúng ta muốn nó dễ đoán và dễ tiêu hóa. Và thơ khó đến vậy là nỗi thống khổ cuối cùng.

Một số nhà phê bình văn học cũng sẽ liên kết điều này với sức mạnh của sự thấy, với quan hệ giữa chủ thể và đối tượng. Chúng ta mong thơ là đối tượng để có thể sở hữu nó thông qua “sự nhìn” của chúng ta vào những hoạt động bên trong nó. Khi nó không cho phép chúng ta “đối tượng hóa” nó, chúng ta cảm thấy bất lực.

Thống khổ, bất lực-đó là những mục đích đáng muốn? Ồ không. Vấn đề là phản ứng của chúng ta, cách chúng ta định hình tư tưởng của mình thông qua từ ngữ. Chúng ta phải từ bỏ thái độ vật chất của mình, thứ khiến chúng ta muốn sở hữu thơ. Có thể chúng ta đã mua sách nhưng chúng ta không sở hữu thơ. Chúng ta phải trau dồi một tư duy mới, một thói quen mới, là thưởng thức sự bất phân định.

Chấp nhận sự mơ hồ là nhiệm vụ khó hơn nhiều với người này so với người khác. Không gì đáng sợ với một số người như ý tưởng (ngay cả ý tưởng) về ngẫu hứng như một công cụ viết hay phân tích. Một số diễn viên ghét việc không có kịch bản; điều đó cũng đúng với một số nhạc sĩ. Đề nghị một số nhạc công xuất sắc chơi ngẫu hứng rồi họ sẽ bắt đầu đổ mồ hôi. Dĩ nhiên, các diễn viên và nhạc sĩ sẽ nói rằng có một điều bí ẩn trong những gì họ làm với một kịch bản hay một bản ghi, và sẽ là vô nghĩa nếu không đồng ý. Vấn đề, suy cho cùng, là văn bản thì bí ẩn. Diễn cùng một nhân vật đêm này qua đêm khác, diễn viên sẽ phát hiện ra điều gì đó trong những dòng kịch bản, sự đồng cảm nào đó với nhân vật mà họ chưa từng cảm thấy trước đây. Chơi hoặc nghe một bản nhạc đến hàng trăm lần-nếu là một bản nhạc vĩ đại-sẽ mang lại diễn giải và khám phá mới. Với thơ lớn cũng vậy. ♦

Edward Hirsch, ” How to Read a Poem,” chúng tôi 27 Nov, 2007 (Accessed 10 Oct, 2024).

Nhớ Rừng (Thế Lữ) – Bài Học Sinh

Ngay từ đầu khi mới xuất hiện trên thi đàn văn học, phong trào Thơ Mơi đã đánh dấu cho sự đổi thay lớn lao của nền thi ca dân tộc. Để có được những sự thay đổi lớn lao ấy , đó là sự đóng góp miệt mài và say mê của hàng loạt cây bút với hồn thơ lãng mạn và giàu cảm xúc. Một trong những cây bút xuất sắc có mặt ngay từ lúc ban đầu là Thế Lữ. Rất nhiều tác phẩm của ông đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Thơ Mới mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Nhớ Rừng. Ở trong Nhớ Rừng , Thế Lữ đã thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy bỏng tha thiết qua lời mượn của con hổ trong vườn bách thú. Đó cũng là tâm sự chung của những người Việt Nam yêu nước trong hoàn cảnh mất nước.Trong những ngày đầu mới ra đời, phong trào Thơ Mới đã có những sự phát triển trong cả phong cách và nội dung. Trên các chặng đường phát triển, Thơ Mới đã dần giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính “phi ngã” của thi ca cổ điển. Các nhà thơ đã khám phá thế giới bằng chính những  giác quan,  những cảm xúc rất thực của mình. Đó cũng là lúc xuất hiện cái tôi rõ nét trong thơ. Ở đó là sự vươn lên của những cảm xúc mãnh liệt của con người vượt thoát khỏi thực tế khách quan. Chính vì vậy Thơ Mới có khuynh hướng thoát ly thực tại, thể hiện tâm trạng bất hoà, bất lực trước thực trạng xã hội. Qua đó, Thơ Mới cũng đã bộc lộ sự phản kháng gay gắt trước thực tại tầm thường  giả dối, tù túng giam hãm ước mơ con người.Cùng chung thái độ phản kháng ấy, Thế Lữ đã viết nên những dòng thơ đầy tâm trạng trong bài Nhớ Rừng. Mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng chính mình. Thế Lữ đã dựng lên một khung cảnh vừa rất thực vừa ẩn chứa những điều thầm kín sâu xa. Tất cả hình ảnh đuợc nhắc đến trong bài đều là không gian xoay quanh cuộc sống của con hổ. Thực tế là con hổ đang bị giam hãm trong một cũi sắt và nó cảm nhận cuộc sống của mình chứa đựng những u uất ngao ngán trong cảnh giam hãm tù túng, những cảnh “tầm thường giả dối” ở vườn bách thú. Chính vì thế, nó cảm thấy tiếc nhớ về quá khứ oanh liệt nơi núi rừng hùng vĩ. Đó là hai cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau giữa thực tại và dĩ vãng.Hổ vốn là loài vật được xem là chúa tể của muôn loài, nhưng nay vì sa cơ mà phải chịu sống cảnh “nhục nhằn” trong cũi sắt. Không gian cuộc sống của vị chúa tể rừng xanh đã bị thu hẹp và từ nay bị biến thành một “trò lạ mắt”, một “thứ đồ chơi” trong con mắt mọi người. Đối với nó, cuộc sống bây giờ đã trở nên vô vị nhạt nhẽo bởi  đang phải sống nơi không tương xứng với tư cách của một vị chúa sơn lâm.Gậm một khối căm hờn trong cũi sắtTa nằm dài trông ngày tháng dần quaHổ đã cảm thấy bất lực bởi chẳng có cách nào thoát khỏi cuộc sống tù túng nên cũng đành ngao ngán nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích. Nhưng cho dù phải ở trong hoàn cảnh nào thì kẻ thuộc “giống hùm thiêng” cũng luôn biết thân phận thực sự của mình là một vị chúa. Ông ba – mươi đã tỏ thái độ khinh mạn, coi thường trước những sự thiếu hiểu biết về sức mạnh thật sự của thiên nhiên của những con người “ngạo mạn ngẩn ngơ” chỉ biết “giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”. Chán nản làm sao cảnh phải chịu sống ngang bầy cùng với “bọn gấu dở hơi”, với “cặp báo chuồng bên vô tư lự”! Làm sao chịu được cảnh sống cam chịu chấp nhận số phận của những “người bạn” đồng cảnh ngộ. Đó là nỗi buồn, nỗi uất hận dồn nén để làm nên những hờn căm chất chứa trong lòng. Mệt mỏi, ngao ngán, bất lực! Trong hoàn cảnh đáng thương ấy, hổ đã nghĩ về cuộc sống quá khứ huy hoàng của mình:Ta sống  mãi trong tình thương nỗi nhớThuở tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây giàVới tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núiVới khi thét khúc trường ca dữ dội…Con hổ đã tiếc nhớ về thuở “hống hách” nơi “bóng cả cây già”. Đó là nỗi nhớ đau đáu về nơi rừng thẳm. Nhớ rừng là tiếc nhớ tự do, nhớ về “thời oanh liệt”, là nhớ về cái cao cả, chân thực, tự nhiên . Ở chốn nước non hùng vĩ ấy, con hổ đang ngự trị một sức mạnh giữa cuộc đời. Bản lĩnh của một vị chúa sơn lâm luôn thể hiện xứng đáng quyền lực tối cao của mình với sức mạnh phi thường dữ dội. Những gì nó cần phải làm là khiến mọi vật đều phải nể sợ thuần phục. Ở đó, con hổ đã hiện lên với tư thế hiên ngang ngạo nghễ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp oai phong lẫm liệt giữa núi rừng hùng vĩ:Ta bước  chân lên dõng dạc đường hoàngLượn tấmthân như sóng cuộn nhịp nhàngVờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc Trong bóng tối mắt thần khi đã quắcLà khiến cho mọi vật phải im hơiTa biết ta chúa tể của muôn loài Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổiVẻ đẹp thật sự của hổ là đây! Từng bước chân, từng tấm thân ,từng ánh mắt đã khơi gợi lên một vẻ vừa dũng mãnh uy nghi vừa nhẹ nhàng uyển chuyển. Trong từng hành động, loài mãnh thú kia đã cho mọi vật thấy được sức mạnh tuyệt đỉnh khiến cho tất cả phải “im hơi”. Cuộc sống tự do giữa chốn rừng thẳm mãi mãi là một điều rất cao quý. Ở đó hổ thực sự được hưởng một cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên đã dành cho. Đó là những thời khắc mãnh hổ đang “say mồi”, đang ngắm sự đổi thay của “giang sơn”, đang say giấc và đang muốn chiếm lấy riêng “phần bí mật” . Nó đã được thoải mái trong chính giang sơn của mình  và khẳng định giá trị thật sự của cuộc sống với những khung cảnh lộng lẫy tươi đẹp nên thơ và cũng đầy sức quyến rũ. Nhưng bây giờ , tất cả cũng chỉ còn là những hoài niệm thuộc về quá khứ. Hổù chẳng bao giờ còn được chứng kiến những cảnh “đêm vàng bên bờ suối”, được nhìn thấy cảnh “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, được nghe thấy tiếng chim ca, được đắm mình trong cảnh “bình minh cây xanh nắng gội”, được đợi chờ “chết mảnh mặt trời” của những buồi chiều “lênh láng máu sau rừng”. Những cảnh ấy chỉ để lại trong con hổ những cảm giác tiếc nuối, ngậm ngùi trong sự xúc động mạnh mẽ, dồn dập của những câu hỏi đau đớn xót xa. Nỗi nhớ miên man tuôn trào với cảm xúc về quá khứ tươi đẹp đã khép lại giấc mơ huy hoàng rong một tiếng than thảm thiết:Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâuĐược sống lại với những ký ức  tươi đẹp ở chốn núi rừng hùng vĩ, hổ chợt nhận ra sự tầm thừơng giả dối của những khung cảnh nơi nó đang sống. Trong cái nhìn ngạo nghễ của hổ là những cảnh “không đời nào thay đổi”, những cảnh đơn điệu nhàm chán do con ngưới sửa sang và cố đòi “bắt chước”. Chúa tể rừng xanh đã tỏ thái độ khinh miệt, chán chường trước những cảnh vật nhỏ bé thấp kém của những  sự giả dối nhân tạo. Đó không phải là nơi xứng đáng để sống của một đấng thống lĩnh. Dẫu có cố gắng sửa sang thì đó  cũng chỉ là những “dải nước đen giả suối chẳng thông dòng” len dưới những “mô gò thấp kém” , là những “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” không có gì là “bí hiểm” “hoang vu”. Những cảnh sống ngụy tạo ấy khiến cho hổ càng tiếc nhớ chốn “ngàn năm cao cả âm u”.Chán ghét cuộc sống thực tại, ôm niềm uất hận không nguôi, hổ khát khao một cuộc sống tự do mãnh liệt. Tất cả tâm tư tình cảm của hổ đều thuộc về nơi rừng thẳm ngàn năm âm u. Cũng qua đó, chúa sơn lâm đã gởi một lời nhắn tha thiết của mình về núi rừng. Dẫu là đang bị sa cơ nhưng hổ đã không giấu được niềm tự hào khi nói đến chốn “nước non hùng vĩ”. Giang sơn ấy là nơi hổ đã có những ngày tháng tươi đẹp, thoả chí  vùng vẫy trong không gian riêng biệt thênh thang. Cho dù bây giờ sẽ chẳng bao giờ được sống lại ở những nơi xưa ấy nhưng hổ vẫn không bao giờ thôi nghĩ về “giấc  mộng ngàn to lớn”. Vị chúa mất ngôi đã khẩn cầu để được mãi sống trong những ký ức, những hoài niệm của những vẻ đẹp  một đi không trở lại:Để hồn ta phảng phất được gần ngươiHỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơiNỗi lòng của hổ là tâm sự của chàng thanh niên Thế Lữ. : mơ về cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ. Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ của Thế Lữ cũng như trong phong trào Thơ Mới, mang theo khát khao của con người muốn được sống chính là mình.Nhớ Rừng không thể thoát ra khỏi nỗi buồn, “tâm bệnh của thời đại” bấy giờ. Nhưng bài thơ đặc sắc chính bởi vì tạo nên điểm gặp gỡ giữa sự u uất của người dân mất nước và tâm trạng bất hoà bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản. Qua đó khơi lên niềm khát khao tự do chính đáng .Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Nhớ Rừng đã lan toả một hồn thơ hối thúc và nhiều hình ảnh thơ đầy ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. Thành công của Thế  Lữ là đã thể hiện một trí tuởng tượng phong phú khi mượn hình ảnh con hổ trong vườn bách thú để nói hộ cho những tâm sự kín đáo sâu sắc của mình. Qua đó diễn tả nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, đồng thời khơi lên tình cảm yêu nước của người dân thuở ấy. (Bài của học sinh Lê Văn Vĩ – Văn khoá 5)

Share this:

Email

Thêm

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Cảm Thụ Văn Học Lớp 4

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả cây tre? Trong đoạn thơ trên, hình ảnh nào em cho là đẹp nhất? Vì sao?

Bằng biện pháp nhân hoá, nhà thơ Nguyễn Duy đã bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của cây tre Việt Nam.Thông qua đó, tác giả muốn bộc lộ phẩm chất cao quý của con người Việt Nam. Hình ảnh đó gợi cho ta thấy sự kiêu hãnh, hiên ngang, ngay thẳng, kiên cường, bất khuất, trước mọi nguy nan của dân tộc Việt Nam:

“Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như trông là thường”

Cao đẹp và tự hào hơn đó là sự dãi dầu, chịu đựng mọi khó khăn gian khổ trong cuộc sống, biết yêu thương nhường nhịn, che chở đùm bọc cho con của cây tre:

“Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con”

Qua đó, tác giả muốn bộc lộ phẩm chất cao quý, truyền thống đáng tự hào của con người Việt Nam đó là truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc Việt Nam.

Đọc đoạn thơ trên, em cảm nhận được vẻ đẹp đáng quý của dòng sông quê hương như thế nào?

Bằng biện pháp so sánh, tác giả Hoàng Vũ đã bộc lộ được vẻ đẹp đáng quý của con sông quê hương. Điều đó được thể hiện: Con sông ngày đêm hiền hoà, cần mẫn đưa nước vào đồng ruộng để tưới tắm cho ruộng lúa, vườn cây thêm tốt tươi như người mẹ hiền mang dòng sữa nóng đến cho con thơ:

“Đây con sông như dòng sữa mẹ

Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây”

Và con sông cũng như lòng người mẹ, luôn chan chứa tình yêu thương, luôn sẵn sàng chia sẻ, lo lắng cho con, cho tất cả mọi người:

“Và ăm ắp như lòng người mẹ

Chở tình thương trang trải đêm ngày”

Vẻ đẹp ấm áp đó càng làm cho ta càng thêm yêu quý con sông quê hương.

(Cô giáo lớp em – Nguyễn Xuân Sanh)

Em hãy cho biết : Khổ thơ trên đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật? Biện pháp nghệ thuật đó giúp em thấy được điều gì đẹp đẽ ở các bạn học sinh?

Bằng biện pháp nhân hoá, tác giả đã bộc lộ được tinh thần học tập chăm chỉ của các bạn học sinh. Sự ham học của các bạn đã làm cho nắng giống như những đữa trẻ tung tăng đùa vui, chạy nhảy ghé qua cửa lớp để xem các bạn học bài:

Qua đó, tác giả muốn ca ngợi tinh thân hiếu học của các bạn học sinh.

(Việt Nam thân yêu – Nguyễn Đình Thi)

Đoạn thơ trên , em cảm nhận được những điều gì về đất nước Việt Nam

Tác giả muốn ca ngợi đất nước và con người Việt Nam thân yêu. Bởi lẽ đất nước có những cảnh vật đẹp độc đáo. Hình ảnh “biển lúa mênh mông” gợi cho ta niềm tự hào về sự giàu đẹp trù phú của đất nước. Hình ảnh “Cỏnh cũ bay lả rập rờn” thật giản dị mà tạo nên bức tranh sinh động về đất nước Việt Nam. Đất nước còn mang niềm tự hào và kiêu hãnh bởi vẻ đẹp hùng vĩ của đỉnh Trường Sơn cao vời vợi, sớm chiều mây bao phủ. Tất cả vẻ đẹp độc đáo và nên thơ của đất nước Việt Nam đã đi vào cảm xúc của tác giả một cách gần gũi mà sâu lắng.

(Về thăm nhà Bác – Nguyễn Đức Mậu)

Em hãy cho biết: đoạn thơ giúp ta cảm nhận được điểu gì đẹp đẽ, thân thương.

Đoạn thơ trên, tác giả đã cho ta cảm nhận được cuộc sống giản dị, đơn sơ của Bác thuở thiếu thời. Đó là một cuộc sống bình dị như cuộc sống của bao ngôi nhà ở làng quê Bác:

“Ngôi nhà thuở Bác thiếu thời

Nghiêng nghiêng mái lợp bao đời nắng mưa”

Một cuộc sống rất gần gũi, giản dị mà cũng rất thân thương đó là:

“Chiếc giường tre quá đơn sơ

Võng gai ru mát những trưa nắng hè”

Qua đó, nhà thơ muốn bộc lộ đức tính giản dị của Bác từ thuở thiếu thời. Sống trong ngôi nhà đó, Bác được lớn lên trong tình yêu thương thân thiết của gia đình, của bà con quê Bác.

Hai câu thơ trên đã giúp em cảm nhận được những gì về lòng mẹ.

Bằng hai câu thơ mộc mạc, chân thành và giản dị, tác giả giúp em cảm nhận được tình mẹ thật bao la và rộng lớn không có gì sánh được. Dù con đã khôn lớn trưởng thành, dù con đã “đi hết đời” nhưng tình thương của mẹ đối với con vẫn còn sống mãi với thời gian. Mẹ “vẫn theo con” để quan tâm lo lắng, che chở cho con, tiếp thêm sức mạnh cho con để con đương đầu với cuốc sống. Có thể nói mẹ là tất cả của con.

(Quê hương – Đỗ Trung Quân)

Hãy ghi lại vài dòng cảm nhận của tác giả về quê hương qua đoạn thơ trên .

Vì yêu quê hương tha thiết- nơi chôn rau cắt rốn của mình nên tác giả đã kết nên những vần thơ giàu nhạc điệu, giàu chất trữ tình:

“Quê hương là cánh diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng”

Quả thật, những hình ảnh rất gần gũi và rất thân thương đã gắn bó và in đậm trong tâm hồn của tác giả tuổi ấu thơ trên quê hương. Đó là hình ảnh “cánh diều biếc” thả trên đồng. Đó là hình ảnh “Con đò nhỏ”khua nước trên sông với âm thanh nhẹ nhàng, êm đềm mà sâu lắng. Có thể nói những sự vật gần gũi và thân quen trên quê hương đã trở thành những kỉ niệm khó quên trong kí ức tuổi thơ của tác giả. Qua đó ta cảm được tình cảm của tác giả đối với quê hương vô cùng sâu nặng.

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng cácg nói gì để ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của tre: sự đùm bọc, đoàn kết? Cách nói này hay ở chỗ nào?

Bằng biện pháp nhân hoá, tác giả đã bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của cây tre Việt Nam:

“Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm”

Phẩm chất đó càng được bộc lộ rõ nét đó là sự đoàn kết, đùm bọc, yêu thương, che chở, quấn quýt bên nhau:

“Thương nhau tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người .”

Qua đó, tác giả muốn ca ngợi truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam.

Theo em, hình ảnh nào góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên? Vì sao?

Bằng biện pháp nhân hoá, tác giả bộc lộ tình cảm của mẹ đối với con thật là sâu nặng. Mẹ luôn mang đến cho con bao điều tốt đẹp mà không phải ai cũng làm được. Mẹ yêu con vô bờ bến, không có tình yêu nào sánh nỗi, kể cả sao trời cũng không sánh nỗi:

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về

Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

Mẹ lúc nào cũng lo lắng và yêu thương con hết mực, luôn đem đến cho con niềm sung sướng trong giấc ngủ ngon và niềm vui vô tận từ đáy lòng mẹ:

“Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”

Có thể nói, mẹ luôn là tất cả của đời con. Có mẹ, đời con sướng vui. Có mẹ đời con ấm lòng và hạnh phúc suốt đời .

Trong bài: ” Trong lời mẹ hát“ của nhà thơ Trương Nam Hương có đoạn viết:

Bài thơ có những hình ảnh nào đáng nhớ? Gợi cho em những suy nghĩ gì?

Đoạn thơ cho ta cảm nhận được tình thương của mẹ không gì sánh nỗi.Thời gian trôi đi, tóc mẹ mỗi ngày thêm bạc, bởi tháng năm mẹ vất vả, tần tảo, chắt chiu để nuôi con.

“Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao”

Lưng mẹ mỗi ngày một còng đi để cho con được khôn lớn, chấp cánh bay cao bay xa :

“Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao”

Có thể nói, mẹ đã hi sinh trọn đời mình để cho con lớn khôn và vững bước vào đời .

Cuối bài thơ Tiếng vọng của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có đoạn

Theo em, vì sao tác giả lại băn khoăn , day dứt về cái chết của chim sẻ.

Những hình ảnh để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí em đó là: Tiếng đập cánh của con chim sẻ nhỏ như muốn kêu cứu sự giúp đỡ trong đêm bão tố mưa giông về gần sáng:

“Đêm đêm tôi vừa chợp mắt

Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh”

Hình ảnh những quả trứng trong tổ không có chim mẹ ấp ủ sẽ mãi mãi không bao giờ nở thành chim con được:

“Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ

Tiếng lăn như đá vỡ trrên ngàn”

Tất cả những hình ảnh đó đã làm nên “Tiếng vọng” khủng khiếp trong giấc ngủ và trở thành nỗi băn khoăn, day dứt, ân hận khôn nguôi trong tâm hồn tác giả vì cái chết của chim sẻ.

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng

Có con bướm trắng lượn vòng

Có chùm ổi chín vàng ong sắc trời.

Trong đoạn thơ trên, em hiểu nghĩ cụm từ ” Thắp lên lửa hồng“ như thế nào? Hình ảnh nhà Bác Hồ được tả có gì đặc biệt?

Nhà thơ đã đem đến những hình ảnh đẹp trong khu vườn nhà Bác thật là sinh động. Đó là “Hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”. ở đây, tác giả muốn chỉ sắc đỏ của hoa râm bụt nở rộ như được thắp lửa lên. Đó là “Con bướm thắm lượn vòng,chùm ổi chín vàng ong.Với cách dùng từ hay và sáng tạo, tác giả làm cho khu vườn của Bác thật là nên thơ, khiến cho người đọc thấy thú vị và muốn được tận hưởng trước cảnh đẹp của khu vườn nhà Bác ở làng Sen.

Theo em , từ ngữ nào trong đoạn thơ trên em cho là hay nhất? Vì sao?

Đoạn thơ trên, tác giả giúp em cảm nhận được rừng mơ đẹp hoà quện giữa khung cảnh của thiên nhiên kết thành một bức tranh tuyệt tác. Vẻ đẹp và hương thơm của mơ Hương Sơn đã khiến cho du khách thập phương về trẩy hội vào mùa xuân cũng say đắm lòng bởi sắc hoa quyến rũ.Vì thế, họ muốn gửi một chút quà mơ Hương Sơn thơm mát về làm quà cho người thân sau những chuyến du xuân dài ngày. Có thể nói , từ hay nhất trong đoạn thơ đó là “Gửi mơ về quê nhà”. Nhà thơ muốn thể hiện sự ngưỡng mộ của du khách trước vẻ đẹp quyến rũ của mơ Hương Sơn.

Em hãy nêu cảm xúc về người mẹ qua đọan thơ trên ?

Bằng biện pháp so sánh, tác giả cho ta cảm nhận được vai trò của người mẹ trong gia đình vô cùng quan trọng.Mẹ về quê mấy ngày cũng là lúc bão đến. Vắng mẹ, cả ba bố con thật là lúng túng vì cuộc sống bị đảo lộn.Nay mẹ về cũng là lúc bão đã tan, căn nhà trở nên ấm cúng bởi có bàn tay chăm sóc, yêu thương, lo lắng của mẹ đối với gia đình:

Qua đây, tác giả muốn đề cao vai trò của người mẹ thật lớn lao và cao cả tuyệt vời trong mỗi gia đình.

Theo em, khổ thơ trên đã bộc lộ cảm xúc của tác giả trước những vẻ đẹp gì trên đất nước chúng ta?

Khổ thơ bộc lộ cảm xúc của tác giả trước những vẻ đẹp của đất nước.Đó là vẻ đẹp hứa hẹn một cuộc sống ấm no, đủ đầy của người dân trên đất nước ta:

“Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát

Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non”

Đó là sự vui tươi phấn khởi, hạnh phúc của nhân dân trước những con đường chạy qua công trường đang xây dựng những mái nhà ngói mới:

“Yêu biết mấy, những con đường ca hát

Qua công trường mới dựng mái nhà son!”

Có thể nói đó là cuộc sống vui tươi, hạnh phúc của người dân trước sự đổi thay của đất nước.

Trước mắt chúng tôi, giữa hai dãy núi là nhà Bác với cánh đồng quê Bác. Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu xanh, xanh pha vàng của ruộng mía, xanh rất mượt của lúa chiêm đương thời con gái, xanh đậm của những rặng tre; đây đó một vài cây phi lao xanh biếc và nhiều màu xanh khác nữa.

Đọc đoạn văn trên, em có nhận xét gì về cách dùng những từ ngữ chỉ màu xanh ? Cách dùng từ ngữ như vậy đã góp phần gợi tả điều gì về cảnh vật trên quê Bác?

Tác giả dùng từ chỉ màu xanh thật là đa dạng, phong phú hợp với từng cảnh vật, với từng giai đoạn phát triển của cảnh. Cách dùng từ của tác giả đã gợi nên một bức tranh sinh động, tràn trề sức sống của cảnh vật ở quê Bác.

Em hình dung được cảnh quê hương của nhà thơTrần Đăng Khoa như thế nào?

Bài thơ cho ta thấy quê hương của tác giả đẹp tuyệt vời. Một bên là ngọn núi uy nghiêm có từ bao đời. Một bên là cánh đồng rộng mênh mông , bát ngát:

Bên kia là cánh đồng liền chân mây

Giữa làng quê là bóng cây rợp mát. Xa xa , dòng sông hiện lên những cánh buồm như đàn chim sải cánh bay trên trời cao:

Xóm làng xanh mát bóng cây

Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời…

Vẻ đẹp của quê hương , làm cho tác giả càng thêm tự hào về đất nước Việt nam

Khổ thơ trên có những hình ảnh nào đẹp nhất? Hình ảnh đó cho ta thấy ý nghĩa gì sâu sắc?

Bằng biện pháp nhân hoá,nhà thơ Quang Huy đã miêu tả một đêm trăng vừa tĩnh mịch vừa sinh động trên công trường Sông Đà. Hình ảnh đẹp nhất được gợi lên đó là:

“Chỉ còn tiếng đàn ngân nga

Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà.”

Đó là hình ảnh mang đậm ý nghĩa sâu sắc giữa con người và thiên nhiên hoà quện, gắn bó với nhau thật là đẹp đẽ. Tiếng đàn ngân nga lan toả trong đêm trăng như lay động cả mặt nước sông Đà, làm cho dòng sông như dòng trăng lấp loáng nên thơ.

Đoạn thơ trên giúp em cảm nhận được những điều gì về trái đất thân yêu?

Nhà thơ giúp em cảm nhận được trái đất là một tài sản vô cùng quý giá của mọi người. Trái đất được tác giả so sánh với quả bóng xanh bay giữa trời xanh. Trái đất luôn ấm áp tiếng chim gù và hình ảnh cánh chim hải âu bay trên sóng biển. Điều đó cho ta thấy trái đất của chúng ta được bình yên trong sáng. Đó là biểu tượng của cuộc sống thanh bình của mọi người trên đất nước chúng ta.

Bài 20: (Đề 7- BDTV5). Trong bài Hạt gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết:

Em hiểu đoạn thơ trên như thế nào? Hình ảnh đối lập trong đoạn thơ gợi cho em những suy nghĩ gì?

Tác giả lớn lên từ đồng quê Việt Nam nên ông đã hiểu được nỗi vất vả của người nông dân khi làm ra hạt gạo nuôi sống con người. Bởi lẽ, hạt gạo làm ra với bao mồ hôi, công sức, với bao khó khăn do thiên nhiên gây ra. Đó là “cái bão tháng bảy, cái mưa tháng ba, cái nắng tháng sáu” khắc nghiệt như vậy. Đến nỗi “cua ngoi lên bờ” để tránh nắng nóng, cá cờ cũng phải chết vì không chịu được cái nắng gay gắt, ấy vậy mà “mẹ em xuống cấy”. Qua đây, em thấy được nỗi vất vả, khó nhọc của người nông dân khi làm ra hạt gạo.Vì vậy, em càng quý trọng công sức lao động của người nông dân.

Bản Mềm: 61 Bài Tập Đọc Cho Học Sinh Lớp 1

Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1

Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1 được biên soạn có hệ thống. Phân loại khoa học theo từng dạng bài cụ thể. Quá trình luyện tập học sinh có thể hệ thống hóa lời giải một cách chi tiết. Quý thầy cô giáo có thể tải về dựa theo đối tượng học sinh của mình. Để sửa đổi cho phù hợp. Ngoài ra với phương pháp dạy học tích cực. thầy cô có thể đưa những ví dụ trực quan hơn vào câu hỏi. Qua đó kích thích sự sáng tạo của học sinh Qua Bản mềm: 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1. Tải thêm tài liệu tiểu học

Hình ảnh bản mềm

ẤN “THEO DÕI” BÊN DƯỚI ĐỂ HIỆN LINK TẢI TÀI LIỆU BẢN MỀM

Tầm quan trọng của Tiếng Việt lớp 1.

Lớp 1 các bé được làm quen chính với hai môn là Toán lớp 1 và Tiếng Việt lớp 1 và nó đều là những môn học được ví như ” cái nôi” của các bé. Các bé từ khi sinh ra đã được gia đình dạy nói và bập bẹ nói tiếng Việt. Nhưng các bé vẫn chưa định hình được các chữ cái và cách viết nó như thế nào.Với môn Tiếng Việt lớp 1, các bé sẽ được làm quen với bảng chữ cái Tiếng Việt, cách đọc, cách viết và cách ghép các chữ cái thành từ. Tiếng Việt lớp 1 sẽ giúp các bé hiểu được ngôn ngữ tiếng Việt mà các bé nói hàng ngày. Nên đây là môn học rất quan trọng đối với các bé không kém gì môn Toán lớp 1.

Phương pháp học Tiếng Việt lớp 1 dành cho các bé.

Các bé nên học thuộc các bảng chữ cái rồi sau đó học ghép các chữ thành từ có nghĩa. Và quan trọng các bé phải đọc được lưu loát các từ. Để bổ trợ cho các bé học đọc, chúng tôi đã sưu tầm 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1. Với 61 bài tập đọc cho học sinh lớp 1 này, các bé hãy luyện tập đọc từ bài 1 đến bài 61. Sau đó, các bé sẽ thấy được khả năng đọc tiếng Việt của bản thân tăng lên rất nhiều.

Ngoài ra, các bậc phụ huynh nên kèm cặp các bé mỗi ngày, vì có những từ khó đọc khiến các bé không hiểu và cũng không đọc được. Và có từ phải phân biệt cách đọc bằng cách uốn lưỡi, phụ huynh hãy chú ý với các bé. Vì nếu không phân biệt từ bé sẽ khiến cho các bé bị nói ngọng và sẽ rất khó sửa.

Tải tài liệu miễn phí ở đây

Cập nhật thông tin chi tiết về Dạy Học Sinh Lớp 4 Ngắt Giọng Trong Khi Đọc Như Thế Nàò? trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!