Xu Hướng 2/2023 # Dấu Ấn Quảng Bình Trong Thơ Lê Thị Mây # Top 9 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Dấu Ấn Quảng Bình Trong Thơ Lê Thị Mây # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Dấu Ấn Quảng Bình Trong Thơ Lê Thị Mây được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(QBĐT) – Nhà thơ Lê Thị Mây quê gốc Quảng Trị nhưng sinh ra, lớn lên tại Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình. Tuổi thơ và một phần tuổi trẻ của bà gắn bó với Quảng Bình.

Bà từng là cán bộ Hội Văn nghệ Quảng Bình, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1982. Tính đến nay, bà đã xuất bản 8 tập thơ, 3 tập trường ca và 9 tập truyện ngắn, tiểu thuyết. Năm 2017, bà được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Đọc thơ Lê Thị Mây, chúng ta thấy dấu ấn Quảng Bình hiện lên rất đậm nét. Nhiều bài, nhiều câu hết sức máu thịt. Trong bài viết này, tôi chỉ dừng lại ở những bài, những câu có địa danh Quảng Bình, để ghi nhận tình cảm của bà với Quảng Bình và giúp bạn đọc hiểu thêm về bà.

Nhớ về kỷ niệm tuổi thơ, Lê Thị Mây viết:

Bỗng li ti cát li ti tỏa ngời Cát vàng rơi, cát vàng rơi Hạt theo hạt chảy mặt trời trên tay

Vâng, có lẽ bắt đầu từ tình cảm “li ti” ấy mà trong bài Tiễn em trai nhập ngũ, nhà thơ khó quên được kỷ niệm chị em thật dễ thương:

Tiễn em trai nhỏ lên đường Chiều ga Đồng Hới nắng nghiêng Chị vui theo sóng thầm thì

Đổi thay bên bờ Nhật Lệ. Ảnh: Tiến Hành

Lê Thị Mây có rất nhiều bài thơ viết về Đồng Hới. Đó là Đồng Hới yên bình, nên thơ, trước chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ:

Đóa hồng nhung vươn nốt nhạc Nhật Lệ ngân dây đàn đất nước mênh mang Tôi đã cất tiếng khóc khi ngậm vào vú mẹ Bàn tay tí teo với được cánh hồng Đó là Đồng Hới dưới bom đạn ác liệt của giặc: Cây dừa đứng bên sông Nhật Lệ Chỉ còn xanh một trái trên cao Bao trái khác bom thù bứt hết Nhựa cây tuôn khói đắng nghẹn ngào Đọc thơ Lê Thị Mây, ta như sống lại những ngày đánh Mỹ: Quân dừng Đồng Hới trưa nay Bữa cơm ăn vội, cỏ may dính người Lá che chưa đủ nắng nôi Quảng Bình

Quảng Bình Quan thời bom pháo trong thơ Lê Thị Mây là thế này đây:

Gió từ sông tràn Quảng Bình Quan Bức tường đổ mất dần dấu vết Máu chảy suốt chiều dài đất nước Một bến đò Mẹ Suốt triệu đàn con

Và cảnh Đồng Hới sau chiếu tranh:

Thành cổ gạch vùi trong cỏ Tôi trở về Nhật Lệ sóng vỗ ướt hai chân Đồng Hới trở mùa gió bấc trào cửa bể Đem mưa về cùng rét mướt mùa đông Xin phố xá hồi sinh lên da thịt Trong ngọn roi bão dữ đói giêng hai

Phải chăng nhờ tình yêu mặn nồng, bỏng cháy với Đồng Hới mà nhà thơ khao khát ngày Đồng Hới đổi đời? Mượn hình ảnh người vẽ tranh Đồng Hới, Lê Thị Mây đã để tim mình ngân rung cùng ngòi bút họa sỹ:

Anh đã đến với phố xưa Đồng Hới Gởi nhịp tim trong nét bút phố chiều Anh đã đến, ngày sum vầy yên ả Sống với ban mai Nhật Lệ sương mù Đồng Hới đấy, những bức tranh Đồng Hới Trái tim anh đập với phố vẹn nguyên

(Với người vẽ tranh Đồng Hới)

Luôn đỏ thắm thủy chung, nhà thơ không bao giờ quên mảnh đất đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn mình, cho mình những câu thơ để đời:

Tình cảm của nhà thơ Lê Thị Mây với Quảng Bình không chỉ sâu nặng với Đồng Hới! Những năm tháng là thanh niên xung phong lăn lộn, sống chết với các cung đường phía Tây Quảng Bình, bà đã lưu vào ký ức những hình ảnh đẹp về con người, tên núi, tên sông nổi tiếng. Ai đồng đội của bà ngày ấy, còn nhớ chăng:

Đỉnh Ba Rền giọng hò xứ Thanh vang dội Xua muỗi rừng trái bồ kết xông hơi Tiếng hát át tiếng bom cõng đường băng đèo Mụ Giạ

Nhà thơ được sống giữa tình đồng chí ấm áp như bếp lửa hồng:

Than hồng đượm nâng niu tình đồng chí

Nắng xuyên qua Cổng Trời ủ lại vừng dư ơng

Trong lửa đạn, tình yêu đến với nhà thơ và các nữ thanh niên xung phong cũng chỉ là giấc mơ:

Ba Rền rừng rậm thác òa xuống thung

Chúng ta không thể quên ơn các chị một thời mặc áo lính chịu đựng bao gian khổ, ác liệt vì sự sống con đường thiêng liêng:

Tấm ngụy trang quàng ấm núi U Bò

Đọc câu thơ Vào Nam đến được phà Gianh/Cầm bằng được gặp tình anh với nàng của Lê Thị Mây, tôi bỗng nhớ câu thơ Tố Hữu: Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa hiểu mình. Phà Gianh hay Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây đều gắn với Quảng Bình. Câu thơ của Lê Thị Mây đã đề cao vị thế mảnh đất Quảng Bình thời đó. Trong trường ca Lửa mùa hong áo, Lê Thị Mây còn có nhiều câu thơ ca ngợi những người con gái Quảng Bình dũng cảm, đảm đang.

Đây là chị Luống trong chiến đấu:

Máy bay địch ném bom tọa độ Bến Lũy Thầy chị Luống hy sinh Lồng ngực vỡ trái tim còn đập nhịp

Còn đây là phụ nữ làng Thuận Bài (Ba Đồn) trong lao động:

Con gái làng Thuận chằm nón bài thơ Đong đếm tháng ngày che mưa che nắng

Cảm phục những người lính biên phòng ngày đêm canh giữ từng tấc đất Tổ quốc, quê hương, nhà thơ vinh danh họ là những bông hoa đỏ nơi biên cương:

Mỗi cột mốc lặng lẽ uy nghi Từ ngàn xưa là vị thần công lý Dấu chân người lính Cha Lo

Bằng cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ, trong Với Nguyễn Du về Đồng Hới, Lê Thị Mây lại bổ sung cho Đèo Ngang những câu thơ độc đáo:

Hy vọng nhà thơ Lê Thị Mây sẽ có thêm những bài thơ hay về Quảng Bình!

Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng

(QBĐT) – Nhà thơ Xuân Hoàng (SN 1925 tại TP. Đồng Hới) làm thơ từ năm 1947 và trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1952. Đánh giá về đời thơ, đường thơ của Xuân Hoàng, nhà thơ Chế Lan Viên nói rằng: “Xuân Hoàng là nhà thơ của Quảng Bình”. Trong gia tài thi ca đồ sộ với 16 tập thơ và trường ca đã xuất bản của ông có một dòng tác phẩm xuyên suốt viết về quê hương Quảng Bình. Rất nhiều trong số đó đã trở thành tác phẩm gối đầu giường của các thế hệ độc giả.

Đọc tác phẩm của nhà thơ Xuân Hoàng, chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh của quê hương Quảng Bình trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Những địa danh, sự kiện và những con người có tên, không tên được ông đưa vào thơ chân thực mà nhẹ nhàng, xúc cảm. Nói rằng, nhà thơ Xuân Hoàng là người chép sử cho dải đất Quảng Bình bằng thơ quả không sai.

Trang bìa “Tuyển tập Xuân Hoàng”.

Mỗi bài thơ của ông là một câu chuyện lịch sử oai hùng. “Ai đi qua Quảng Bình/Hẳn từng quen huyện Bố/Huyện khắc khổ: Dân nghèo, đất đỏ/Dưới chân Ba Rền/Thăm thẳm một màu xanh/Chợ Bố Trạch sắn nhiều gạo ít/Nâu Ba Rền củ tốt hơn khoai/Sông Dinh nước cạn bãi bồi/Đồng khô đồng cạn, mùa vơi mùa cằn” (Qua Bố Trạch).

Đó là hình ảnh của huyện Bố Trạch năm 1950. Đất nghèo nhưng lòng người kiên trung “Giặc chiếm đóng!/Cười gằn thách thức!/Người dân nghèo Bố Trạch đứng lên: Củ khoai, luống đất đang hiền/Bỗng trỗi dậy, Ba Rền hoen ráng đỏ”.

Cũng trong thời kỳ này, nhà thơ Xuân Hoàng có bài “Tiếng hát sông Gianh” ghi lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân đôi bờ dòng sông lịch sử: “Một buổi sáng giặc về Phù Trịch/Canô, phà, đò, nôốc kéo theo nhau/Pháp, da đen, khố đỏ, đủ da màu?/Từ Hòa Luật, Mỹ Trung, Đồng Hới, Lý Hòa, Thanh Khê ồ ạt đến”. Trong bối cảnh ấy, vẫn hiện lên vẻ đẹp bình dị mà kiên cường của những làng quê bên sông “Bên kia sông hàng tre chờ lặng lẽ/Nắng ngập bờ không một bóng dân quân/Làng hiền từ…mà bí mật lạnh lùng…”, nhưng rồi:”Từng loạt một, súng bắt đầu lên tiếng/Đò chồng chềnh, tên lái ngã quay lơ/Đạn trên đồi vãi xuống như mưa/Đò cứ đắm lính trên đò cứ chết…”. Đất Quảng Bình là vậy. Người Quảng Bình là vậy. Hiền lành mà quyết liệt. Lặng lẽ mà sục sôi.

Nếu những bài thơ sáng tác từ trước năm1954 mang âm hưởng hào hùng và bi tráng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì trong năm đầu tiên hòa bình lập lại trên toàn miền Bắc (năm 1955), hình ảnh quê hương mang dáng vẻ thanh bình trở lại đúng như bối cảnh lịch sử đương thời: “Sáng trăng, sáng lạch Ba Đồn/Gió từ cửa biển, gió nồm thổi lên/Ngày mai xuống ăn chợ phiên/Tiếng hò sông lặng nghe quen quá chừng…”. Khung cảnh trữ tình của đêm trước chợ phiên Ba Đồn đã ăn sâu vào tiềm thức của biết bao thế hệ người dân vùng đất nam đèo Ngang Quảng Trạch-Ba Đồn. Nhà thơ Xuân Hoàng không chỉ ghi lại lịch sử mà còn lưu giữ truyền thống văn hóa bằng thơ.

Xuân Hoàng là nhà thơ của hiện thực. Ông không sáng tác mà không có thực tế. Những gì đã đi vào thơ Xuân Hoàng đều rất gần gũi với đời thực. Không ví von sáo rỗng, không ngợi ca màu mè, Quảng Bình với những gì vốn có, gần gũi hiện lên trong thơ ông là cả một trời thương mến: “Không biết tự đời nào/Những cửa sông vui như mùa trĩu trái/Bồi lở cắt cát dài thành trăm dải/Mở rộng chân trời bao nỗi khát khao/Những động cát quê tôi/Nuôi tôi lớn trong lời ru của sóng/Dương liễu mơn man, dừa xao nước động/Đã bao đời thầm thỉ sức sinh sôi…”.

Đời thơ Xuân Hoàng là mải miết những chuyến đi. Và thơ ông là bức tranh toàn cảnh của Quảng Bình. Từ năm 1960, ông đã nhắc đến Phong Nha với vẻ đẹp hữu tình sông núi: “Dòng sông Son vẫn đẹp màu áo lính/Lèn Phong Nha biêng biếc chập chùng quen…”. Khung cảnh những vùng đồi bát ngát nơi miền tây Quảng Bình làm say lòng thi sỹ cũng được ông nhắc đến: “Mùa chắt chiu, đồi ngã sắc hoa lim/Sang mùa gió, bạc đầu lau trắng xóa/Những đồi hoang trên quê hương ta đó/Những đồi hoang rất đỗi bình yên…/Đồi chỉ mang màu, đồi không mang tên/Vào xuân: sắc ngà, sang hè: chuyển đỏ/Tím mùa thu, hoa mua thường dạn gió/Và bạc đầu, lau thắp suốt mùa đông…”.

Trong mạch nguồn xúc cảm với quê hương, năm 1964 nhà thơ viết tác phẩm “Gởi quê hương chiến đấu”. Một bài thơ không dài nhưng gói gọn biết bao ân tình với rất nhiều tên đất, tên làng và những con đường nhỏ xinh của Đồng Hới: “Tôi thuộc hết tên đường trong thị xã/Những con đường mang những tiếng thân yêu/Đường Lê Trực sớm chiều thường rộn rã/Lê Thành Đồng xưởng mộc, biển sơn treo/Lối Cô Tám rẽ ngang về bến chợ/Đào Duy Từ kè vững mở tầm khơi/Lâm Úy vẫn cười kia trên nẻo phố/Quách Xuân Kỳ cũng hẹn xuống đường vui..”

Trong nhiều tác phẩm khác, những tên đất, tên làng đã đi vào lịch sử như: đường 12A, Khe Ve, La Trọng, Bãi Dinh, đèo Mụ Giạ, Phu La Nhích…và những con người gắn liền với mỗi thời kỳ chiến đấu của quê hương: Quách Xuân Kỳ, mẹ Suốt…cũng được nhà thơ tinh tế đưa vào tác phẩm. Hình dáng của quê hương Quảng Bình mỏng manh bên bờ sóng mà can trường và kiêu hãnh, bình dị mà lộng lẫy cứ thế tự nhiên được nhà thơ vẽ nên trên nhiều góc độ khác nhau: “Quê tôi đấy đất Quảng Bình xinh đẹp/Con người hiền và sông núi xanh trong/Ôm lịch sử mấy nghìn năm đậm nét…”. Đọc thơ Xuân Hoàng, người Quảng Bình sẽ tự hào hơn về đất mẹ. Và lữ khách sẽ thấy yêu hơn đất, người nơi đây.

Nhà thơ Xuân Hoàng sinh ra và lớn lên ở Đồng Hới. Suốt một đời thơ ông gắn bó với mảnh đất nhỏ xinh như một đóa hồng bên cửa biển này. Bởi vậy mà Đồng Hới luôn để lại trong trái tim ông nguồn cảm xúc thi ca mãnh liệt. Men theo đường thơ Xuân Hoàng, chúng ta luôn luôn gặp Đồng Hới. Có khi duyên dáng một mình. Có khi hòa chung vào cả quê hương Quảng Bình yêu dấu.

Nhưng ở vị trí nào, thời khắc nào, Đồng Hới cũng mang vẻ đẹp riêng có của vùng đất nơi cuối sông đầu biển. Phải yêu thương quá đỗi nhà thơ mới thốt lên rằng: “Cái thị xã nhỏ, xinh như đường ngân nét nhạc/Đã bao lần phải hứng bom rơi”, “Chúng tôi đi, mang Đồng Hới đi bao nơi/Trong giấc ngủ tiếng căm thù vẫn thức/Đâu có lửa, đó là vùng có chớp/Tiếng gọi cháy lòng Đồng Hới của ta ơi”…

Có một điều đặc biệt, tác phẩm của nhà thơ Xuân Hoàng không chỉ phản ánh hiện thực sinh động mà còn mang tính dự báo. Tháng 10-1966, giữa những loạt bom hủy diệt Đồng Hới của đế quốc Mỹ, ông sáng tác bài thơ “Đồng Hới”: “Ta biết hôm nay Đồng Hới hủy mình/Để có ngày mai Đồng Hới đẹp/Thành phố ta xây bên bờ biển biếc/Biển miền Trung xanh ngắt một màu xanh…”. Hơn 50 năm sau, niềm hy vọng của nhà thơ đã trở thành hiện thực: “Cái thị xã nhỏ, xinh như đường ngân nét nhạc” của nhà thơ Xuân Hoàng năm xưa ấy đã trở thành thành phố “đẹp vạn lần hơn” như nhà thơ ước vọng.

Gần trọn đời thơ, đường thơ gắn bó với quê hương Quảng Bình, nhà thơ Xuân Hoàng đã để lại cho đất và người Quảng Bình nhiều tác phẩm có sức lay động, lan tỏa mạnh mẽ. Dù rất nhiều thập kỷ đã trôi qua nhưng đó là những dòng thơ tươi xanh, những dòng thơ lửa cháy, đúng như lời nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Nhờ sống ở vùng đất lửa nên thơ Xuân Hoàng mới có lửa như thế”.

Phát Triển Ngôn Ngữ Thơ ” Ước Mơ Của Bé” – Lê Thị Hồng Mai

*. Hoạt động 1: Gây hứng thú

– Cô và trẻ cùng hát bài hát “ Cháu yêu cô chú công nhân”

– Chúng mình vừa cùng cô hát bài hát gì?

– Trong bài hát có những ai?

– Cô công nhân làm công việc gì?

– Chú công nhân làm công việc gì?

– Ngoài những nghề đó ra trong xã hội còn có những nghề nào khác nữa?

– Đúng rồi . Trong xã hội có rất nhiều các nghành nghề khác nhau, mỗi ngành nghề lại có những lợi ích riêng. Sau này lớn lên các con mơ ước được làm nghề gì vậy.

– Cô thấy ước mơ của các con rất là đẹp .

* HĐ 2:. Dạy trẻ đọc thơ: ước mơ của bé.

+ Cô đọc thơ cho trẻ nghe

– Cô đọc lần 1: đọc diễn cảm

– cô vừa đọc cho cm nghe bài thơ “ ước mơ của bé” do tác giả Lê Thị Hồng Mai sáng tác

– Cô đọc lần 2: Cô vừa đọc vừa thao tác tranh cho trẻ qs

– Bài thơ nói về ước mơ của một bạn nhỏ vào đêm trăng sáng. Em bé nhìn lên bầu trời và ước mơ được lên vũ trụ và rủ bạn bè mình cùng lên chơi.

+ Đàm thoại, trích dẫn

– Bài thơ có tên là gì?

– Cậu bé nói lên mơ ước của mình vào lúc nào?

( Đêm trăng sáng quá

Nhìn lên trời cao.)

– Cậu bé đã ước điều gì?

( Bé thầm ước ao.

Bay vào vũ trụ.)

– Trên vũ trụ cậu bé muốn làm gì vây?

Bé xây nhà máy

Làm cả bể bơi

Trên này thích quá

– Khi được bay vào vũ trụ và làm được rất nhiều điều thì cậu bé muốn có ai bên cạnh không? ai vậy?(cô đọc trích dẫn)

rủ bạn lên chơi

giá như các bạn

Ở khắp mọi nơi

– Bạn đã ước mơ điều gì cho các bạn nhỏ?

Được chơi cùng bé

Giữa bầu trời sao

– Vậy cm thấy ước mơ của cậu bé ntn?

– Đúng rồi cậu bé ước mơ rất là trong sáng và hồn nhiên đúng không?

– Sau này lớn lên Cm mơ ước được làm điều gì?

– Để điều ước trở thành hiện thực Cm phải làm gì?

– GD trẻ ngoan vâng lời người lớn, chăm ngoan học giỏi……….

*. Dạy trẻ đọc thơ:

– Cô cùng cả lớp đọc 3 – 4 lần

( cô chú ý sửa sai cho trẻ nếu có.

– Cô cho trẻ thay đổi hình thức đọc to- nhỏ. Đọc nối tiếp

Động viên khuyến khích trẻ đọc to rõ ràng

– Mời tổ, nhóm, cá nhân đọc và làm điệu bộ( cô bao quát và sửa sai nếu có)

* HĐ 3: Trò chơi: Ghép tranh

– cô cho trẻ chơi trò chơi: ghép tranh

– cô sẽ chia trẻ thành hai đội thi đua nhau xem đội nào trong vòng một bản nhạc ghép xong bức tranh đúng với nội dung bài thơ . đội nào xong trước và đúng sẽ chiến thắng

*. Kết thúc:

– NX buổi học: Cô thấy Cm đọc thơ rất hay và giỏi cô khen cả lớp.

– Cho trẻ cùng đọc thơ và đi ra sân ngắm bầu trời

Trẻ hát cùng cô

Trẻ lắng nghe

Trẻ trả lời theo ý của mình

Trẻ lắng nghe

Ước mơ của bé

Bay vào vũ trụ

Có bạn ạ

Trẻ trả lời

Trẻ nói lên ước mơ của mình

Trẻ đọc thơ theo tổ , nhóm, cá nhân

Trẻ chơi trò chơi.

Nhà Thơ Ngọc Khương Với Quê Hương Quảng Bình

Nhà thơ Ngọc Khương với quê hương Quảng Bình Cập nhật lúc 17:54 17/08/2019

Tôi nghe tên Ngọc Khương đã từ lâu (năm 1971), khi lần đầu tiên bước chân tới Trường cấp 3 Nam Quảng Trạch, Quảng Bình. Ngày đó, trước mỗi tiết học, bạn quản ca lại bắt cho cả lớp hát một bài. Bài hát đầu tiên trong ngày bao giờ cũng là “Trường ca Nam Quảng Trạch”. Bài hát do thầy Trần Văn Dũng kí âm theo giai điệu một bài hát ngoài Bắc, còn lời do Ngọc Khương và các anh chị học sinh khóa (1966-1968) phóng tác.

Ngọc Khương phải xa cha mẹ từ năm lên hai tuổi. Anh ở với bà nội, lớn lên đi học, đi dạy rồi làm thơ. Về hưu, anh vào đất phương Nam lập nên câu lạc bộ thơ-nhạc “Hương nguồn” và dựng nhiều nhà hàng tiệc cưới ở thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 7-2018, tại Trung tâm Văn hóa – Thể thao quận Tân Bình, Ngọc Khương ra mắt ba tập thơ Cò bay giữa phố, Đất nước tôi và Lục bát đảo. Nhiều văn nghệ sỹ Quảng Bình đã vào dự.

Các tập thơ của nhà thơ Ngọc Khương.

Ra thăm Đèo Ngang, đứng trên Hoành Sơn quan nhìn xuống biển nhớ lại một thời đạn lửa, anh đã viết bài Hòn La: “Lên đèo trông xuống Hòn La/Nhớ thời đạn lửa/Làm ta rùng mình!/Bao nhiêu gạo nổi gạo chìm/Bấy nhiêu sinh mạng/Bom dìm đáy khơi!”. Thăm mộ Đại tướng, anh theo thuyền ra thăm đảo Yến. Anh như lạc vào giữa thiên đường một cõi trời mây sóng nước: “Yến chọn đảo làm quê hương/Đảo hoang bỗng hóa thiên đường gió say/Muôn ngàn cánh yến lượn bay/Đong đưa nôi sóng tháng ngày biển ru/Ai giăng chi vạt sương mù/Bâng khuâng…Đại tướng vén thu ngắm trời”.(Đảo Yến).

Quê hương Quảng Bình là cái nôi nuôi dưỡng Ngọc Khương khôn lớn, nơi một thời anh nhọc nhằn bươn chãi mưu sinh để nay được thả hồn theo ký ức, chưng cất thành thơ. Về quê, anh cùng Nguyễn Hương Duyên vẫn thường gửi bài cho tập san của câu lạc bộ Văn nghệ Quảng Minh. Hai người gốc cùng một xã Thị Lệ ngày xưa, cái thời “Nhất xã ngũ thôn”.

Một tin vui nữa làm nức lòng giới văn nghệ sỹ Quảng Bình, cuối năm 2018, nhà thơ Ngọc Khương và nhà văn Nguyễn Hương Duyên đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Có lẽ thành công của họ hôm nay cũng cất cánh bay lên từ chùm khế ngọt và tôi rất tin là như thế!

Cập nhật thông tin chi tiết về Dấu Ấn Quảng Bình Trong Thơ Lê Thị Mây trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!