Xu Hướng 2/2024 # Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Lớp 11 # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Lớp 11 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cuộc sống chúng ta hạnh phúc hay không phụ thuộc vào những điều vô cùng gian dị và chân thành từ con người với nhau. Chỉ cần chúng ta chân thành với nhau thì mọi chuyện trở nên rất đơn gian và gần gũi hơn. Trong cuộc sống của mỗi chúng ta thì ai rồi cũng sẽ có vợ có chồng, và cuộc sống vợ chồng sẽ gắn bó suốt cuộc đời chúng ta, đây là một tình cảm rất thiêng liêng và cao quý. Cuộc sống vợ chồng là một cuộc sống đầy khó khăn nhưng cũng rất hạnh phúc nếu vợ chồng biết chia sẻ những công việc và khó khăn với nhau. Một trong những tác phẩm tác giả thể hiện tình acmr của mình đối với những khó khăn của vợ là tác phẩm thương vợ của Tú Xương. Tú Xương là một người tài giỏi nhưng thì hoài không đổ đạt, cuộc sống của ông và các con để do vợ ông tần tảo tạo nên. Để thể hiện sự khâm phục và biết ơn của mình ông đã sáng tác nên bài Thương vợ. DÀN Ý: I. Mở bài: giới thiệu bài thơ Thương vợ Ví dụ: Cuộc sống vợ chồng là một cuộc sống đầy khó khăn nhưng cũng rất hạnh phúc nếu vợ chồng biết chia sẻ những công việc và khó khăn với nhau. Một trong những tác phẩm tác giả thể hiện tình acmr của mình đối với những khó khăn của vợ là tác phẩm thương vợ của Tú Xương. Tú Xương là một người tài giỏi nhưng thì hoài không đổ đạt, cuộc sống của ông và các con để do vợ ông tần tảo tạo nên. Để thể hiện sự khâm phục và biết ơn của mình ông đã sáng tác nên bài Thương vợ. II. Thân bài: phân tích bài thơ Thương vợ 1. Hai câu đề “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng”

Miêu tả công việc của Tú Bà, quanh năm, buôn bán, mon sông: một công việc mệt nhọc, siêng năng và rất nguy hiểm

Công việc làm tiên tục không nghỉ ngơi tại một nơi rất nguy hiểm

Đã thế còn nuôi 5 con với chồng: sự tháo vác và khổ nhọc của Tú bà

2. Hai cậu thực “Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Dùng hình ảnh thân cò để nói lên hình ảnh người phụ nữ nhỏ bé

Hai câu thơ còn thể hiện sự nguy hiểm của công việc mà Tú bà làm

Nỗi gian truân, khổ cực của Tú bà

Thể hiện tình cảm của tác giả đối với vợ

3. Hai câu luận “Một duyên hai nợ âu cũng đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công”

Tác giả thể hiện tình cảm với vợ, sự khổ cực bao nhiêu thì tác giả phải cố gắng gấp nhiều lần hơn nữa

Sự hi sinh, nhẫn nhịn thầm lặng của tú bà

Tác giả thể hiện chung dung người phụ nữ Việt Nam

4. Hai câu kết “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không”

Tác giả tự nhận xét mình

Thể hiện sự bất công của xã hội đã khiến ông không thể gánh vác cùng vợ

III. Kết bài: nêu cảm nhận của me về bài Thương vợ Ví dụ: Tú bà là hiện thân của hình tượng người phụ nữ Việt Nam, một con người chịu thương chịu khó và yêu chồng con hết mực. qua đó còn thể hiện những khó khăn và tủi nhục của những người phụ nữ xưa.

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ

Dàn ý Phân tích bài thơ Thương vợ – Tế Xương Dàn ý chi tiết

– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi

– Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

– Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”

+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác

+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định

– Lí do:

+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang

+ Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

– Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát

+ “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ

– “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

+ Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.

– “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu

– “nắng mưa”: chỉ vất vả

– “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều

– “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú

– Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi:

+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả

– Tự ý thức:

+ “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời

– Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.

→ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.

– Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm.

– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

Bài phân tích mẫu​​​​​​​ bài Thương Vợ của Tế Xương

Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn vấy quai cồng, tất tảchân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng”

“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai “đếm” con, “đếm” chồng. Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”.

Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” Lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sông ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,..” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

“Eo sèo” là từ láy tượng thanh chi sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng'” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

“Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng.”Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực.Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “tnột…hai…năm..mười…làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”,… “dám quản công”… giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò”… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.

Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ'” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

Theo chúng tôi

Dàn Ý: Phân Tích Bài “Thương Vợ’

Mở bài

Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi.

Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

Thân bài

Hai câu đề.

Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lăn lội “mom sông”.

+ Thời gian “quanh năm”: là việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác.

+ Địa điểm “mom sông”:  phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

Lí do:

+ “Nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

+ Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

Hai câu thực.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”: có ý từ ca dao “con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lăn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

+ “Lặn lội”: sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng.

+ “Khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu.

“Eo sèo…buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc.

+ “Buổi đò đông”: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu.

Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

Hai câu luận.

“Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu.

“Nắng mưa”: chỉ vất vả.

“Năm, mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều.

“Dám quản công”: đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tào, đảm đang, nhẫn nại.

Hai câu kết.

Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi:

+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều đắng cay vất vả.

Tự ý thức:

+ “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời.

Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.

Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.

    III. Kết bài

Khăng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm.

Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bạn thân về người phụ nữ trong xã hội hiện nay.

Dàn Ý Phân Tích Hình Ảnh Ông Tú Trong Bài Thương Vợ

Dàn ý phân tích hình ảnh ông Tú trong bài Thương vợ Dàn ý

– Trình bày những nét khái quát về tác giả Trần Tế Xương: một ánh sao lạ vụt sáng trên bầu trời văn chương nước Việt với những bài thơ mang tư tưởng li tâm Nho giáo

– Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương. Không chỉ thể hiện thành công hình tượng trung tâm là bà Tú mà bài thơ cũng đặc biệt thành công hình ảnh ông Tú với những phẩm chất đáng quý

1. Ông Tú là người có tấm lòng thương vợ sâu sắc

* Ông Tú cảm thương cho sự vất vả, lam lũ của bà Tú

– Ông thương bà Tú vì phải mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”:

+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào

+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Ông Tú thương hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định, bà không những phỉ nuôi còn mà phải nuôi chồng

– Ông thương vợ khi phải lặn lội bươn chải khi làm việc:

+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn + khi quãng vắng: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

+ “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc + Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

⇒ Tấm lòng thương xót da diết của ông Tú trước thực cảnh mưu sinh của bà Tú

* Ông phát hiện và trân trọng, ngợi ca những đức tính tốt đẹp của vợ

– Ông cảm phục bởi tuy vất vả nhưng bà Tú vẫn chu đáo với chồng con:

+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu

– Ông Tú trân trọng sự chăm chỉ, tần tảo đảm đang của vợ:

+ “Một duyên hai nợ âu đành phận”: chấp nhận, không than vãn

+ “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

⇒ Trần Tế Xương đã trân trọng đề cao phẩm chất cao đẹp của bà Tú: đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú

2. Ông ý thức được bản thân là gánh nặng của vợ và căm phẫn trước xã hội đẩy người phụ nữ vào bất công

* Người đàn ông trong xã hội phong kiến đáng lẽ ra phải có sự nghiệp hiển hách để lo cho vợ con, nhưng ở đây, ông Tú ý thức được bản thân là gánh nặng của vợ

+ “Nuôi đủ năm con với một chồng”: Tú Xương ý thức được hoàn ảnh của mình, nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng coi mình là một đứa con đặc biệt

+ “Một duyên hai nợ”: Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu

+ “Có chồng hờ hững cũng như không”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời

* Từ tấm lòng thương vợ, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc đẩy người phụ nữ vào bất công

+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả

⇒ Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi, ông căm phẫn xã hội đẩy người phụ nữ vào ngang trái bất công

– Khẳng định lại những nét nghệ thuật tiêu biểu góp phần thể hiện thành công hình ảnh ông Tú

– Trình bày suy nghĩ bản thân

Bài văn mẫu tham khảo phân tích hình ảnh ông Tú

Trong thơ Tú Xương có cả một mảng đề tài riêng viết về người vợ – bà Tú. Ở các bài thơ này, bà Tú bao giờ cũng xuất hiện trước và khuất lấp phía sau là hình ảnh ông Tú. Dù chỉ là nét vẽ thoảng qua nhưng khi đã nhận ra hình dáng ông trong đó người đọc sẽ vô cùng ấn tượng, nhớ mãi về một người đàn ông yêu thương và trân trọng vợ mình. Trong bài thơ Thương vợ, hình ảnh ông Tú cũng thấp thoáng hiện lên nhưng để lại biết bao ấn tượng với người đọc.

Bài thơ nổi bật lên là chân dung bà Tú lam lũ, tảo tần “quanh năm buôn bán ở mon sông” nuôi sống gia đình. Nhưng đằng sau bức tranh chủ đạo ấy ta còn thấy một bức tranh khác cũng không kém phần đặc sắc chính là hình ảnh ông Tú với lòng yêu thương, quý trọng và tri ân vợ. Không chỉ vậy, ông còn là người có nhân cách cao đẹp.

Trước hết, Tú Xương là người có tình yêu thương vợ sâu sắc:

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng.

Ông tuy không buôn bán cùng vợ nhưng ánh mắt trái tim ông thì vẫn một lòng hướng theo bà, để quan sát, để yêu thương bà Tú hơn khi cảm thấy hết những vất vả, cực nhọc mà bà Tú phải trải qua. Đặc biệt tự trân quý, yêu thương đó được thể hiện rõ nhất trong câu thơ: “Nuôi đủ năm con với một chồng”, đây là lời ông kể công, tính công cho vợ. Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Chồng cũng là một thứ con còn dại, phải nuôi. Đếm con, năm con chứ ai lại đếm chồng, một chồng – tại vì phải nuôi như con cho nên mới liệt ngang hàng mà đếm để nuôi cho đủ”. Đặc biệt chữ “đủ” gợi cho ta nhiều ý nghĩa, nhiều cách hiểu, đủ – đủ thành phần trong gia đình: cả cha và con; đủ – đủ mọi thú ăn uống, vui chơi: “Cơm hai bữa cá kho rau muống/ Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô”. Đồng thời ông Tú cũng tự tách riêng mình với năm đứa con để cảm nhận hết tình yêu thương của vợ và dành lời tri ân sâu sắc dành cho bà Tú. Có lẽ phải là một người yêu thương, trân trọng vợ hết lòng ông mới có thể hạ cái tôi cao quý của mình để nói lời tri ân, cảm ơn sâu sắc đối với vợ đến như vậy.

Không chỉ vậy, Tú Xương còn là con người có nhân cách, điều đó được thể hiện rõ nhất qua lời tự trách: “Một duyên hai nợ âu đành phận”. Bà Tú lấy ông cái duyên, nhưng đồng thời cũng là cái nợ, là gánh nặng. Duyên đến với nhau thì ít mà nợ với nhau thì nhiều. Ông Tú tự nhận mình chính là cái nợ mà bà Tú cả đời này phải đèo bòng, bà có trách nhiệm phải trang trải. Mặc dù gánh trên mình trách nhiệm nặng nề nhưng người vợ không hề ca thán, kể công, như một lẽ thường tình của người phụ nữ Việt Nam, bà sẵn sàng hi sinh tất cả cho chồng con. Câu nói “âu đành phận” “dám quản công” như một lời Tú Xương nói hộ nỗi lòng vợ, đồng thời cũng là lời kể công thay cho vợ. Câu thơ như tiếng thở dài não nề của người chồng thương vợ và có nhân cách.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Tiếng chửi thói đời những tưởng là tiếng nói phẫn uất của bà Tú, nhưng thực chất đó là lời tác giả tự trách chính mình, tự phê phán chính mình, đó là cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt Tú Xương dành cho vợ. Thói đời ở đây có thể hiểu là những quy tắc nghiêm ngặt, cổ hủ của chế độ phong kiến đã đẩy người vợ vào công cuộc mưu sinh với bao khó khăn, vất vả thậm chí cả nguy hiểm. Đó còn là thói vô cảm của người đàn ông, không quan tâm, không sẻ chia những nhọc nhằn trong cuộc sống với vợ. Tiếng chửi là lời nói phẫn uất, nhưng cũng chất chứa biết bao yêu thương, trân trọng, lòng biết ơn Tú Xương dành cho vợ.

Bằng ngôn ngữ giản dị, tình cảm chân thành sâu sắc Tú Xương đã góp một cảm xúc mới mẻ vào văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ không chỉ thấy sự tảo tần, hinh sinh của bà Tú, mà còn thấy được tình yêu thương, sự tri ân mà tác giả dành cho vợ. Qua đó còn làm sáng lên nhân cách cao đẹp của Tú Xương.

Theo chúng tôi

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ 11 Của Trần Tế Xương

(Văn mẫu lớp 11) – Anh chị hãy phân tích bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương – (Bài làm của học sinh giỏi cấp 3 trường THPT Xuân Trường 2)

Trần Tế Xương nhà thơ của hiện thực chủ nghĩa, với giọng điệu thơ đả kích, phê phán sâu sắc một cách chân thực về cuộc sống và con người trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy nhiên, không chỉ có vậy, thơ của ông còn mang đậm chất trữ tình, tình cảm tha thiết, với một trái tim chân thành đầy nhiệt huyết, luôn đong đầy cảm xúc chất chứa. Trong ông mang nặng sự cảm thương sâu sắc, sự sẻ chia, sự bùi ngùi chua xót trước những cảnh đời bất hạnh, trước cảnh nước nhà khi đối mặt với nhiều gian truân. Riêng ở trong cái gia đình nhỏ bé của ông, ở trong tâm hồn ông đang là một tình cảnh hỗn loạn, ông luôn bị giày vò bởi chưa làm tròn trách nhiệm của một người chồng, không thể gánh vác việc nhà. Tác giả luôn tự trách bản thân, băn khoăn trong trong nỗi lòng ngậm ngùi ” thương vợ”.

Bằng bút pháp chân tình mà mộc mạc, Tú Xương đã khắc họa lên hình ảnh người vợ với đầy vất vả, gian nan. Đong đầy trong ý thơ là một tình cảm sâu sắc cảm thông, sự trách móc đầy ai oán chính bản thân mình:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Ngay từ đầu bài thơ, tác giả đã để lộ ra hình ảnh lặng lẽ của người vợ, tần tảo sớm chưa để kiếm miếng cơm manh áo, lo cho chồng con. Đó là bố cục chính xuyên suốt cả bài thơ, hình ảnh người phụ nữ giàu tính hy sinh, “tam tòng tứ đức” cứ dần hiện ra một rõ hơn. Bên cạnh đấy là sự cảm thông sâu sắc, sự thương yêu rất đỗi chân thành của người chồng.

Với công việc buôn bán, người vợ với cả một gia đình phía sau đang gánh vác trên vai một trách nhiệm nặng nề, hai câu thơ đầu tiên đã cho ta hình dung được dáng người phụ nữ với đức tính cần cù, dãi dầm nắng mưa, luôn khao khát có được một cuộc sống no đủ:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Ông cha ta thường có câu lưu truyền rằng ” phi thương thì bất phú” có nghĩa là: không kinh doanh, buôn bán thì không thể làm giàu được, bà Tú cũng có một cái nghề tương tự, nhưng đừng nói đến giàu đủ mà nghe cho ngượng ngịu, chỉ mong kiếm được miếng cơm, manh áo cho qua ngày đã là rất may rồi. Có lẽ bà Tú đã quá quen với công việc của mình, quen với nơi mà bà vẫn lặn lội buôn bán kiếm sống, đó là “mom sông”. Hai từ “mom sông” nghe thật chật hẹp và bấp bênh. Có lẽ đây được gọi là chợ tạm, hình ảnh vài ba chiếc thuyền con qua lại, vài người phụ nữ vội vàng với đôi quang ghánh trên vai, một vài bó rau, một vài con cá. Thế là hình ảnh một khu buôn bán đơn sơ, chật hẹp đã được dựng nên. Dãi nắng dầm mưa sớm ngày, công việc vất vả, khó nhọc ấy cứ được lặp đi lặp lại hết ngày này qua ngày khác, và dường như không thấy đâu ngày nghỉ. Hai từ “quanh năm” một khoảng thời gian xuyên suốt, dài đẵng đẵng hết tháng này sang tháng khác, hết mùa này sang mùa khác. Và có lẽ công việc của bà Tú cũng không chỉ dừng lại ở một năm ấy thôi, mà sẽ là những năm tiếp theo hay cả cuộc đời của bà. Cái công việc bươn trải. Không biết cái công việc nặng nhọc ấy của bà Tú, với đồng tiền buôn bán chắt chiu ít ỏi ấy liệu có thay đổi được số phận của cả một gia đình với 6 cái miệng ăn, 5 người con, và một người chồng ” vô dụng”. Hay bà cũng chẳng có một ước muốn gì cao sang, người phụ nữ chỉ đơn giản lặng lẽ hy sinh mong chồng con có đủ cơm ăn, áo mặc.

Hai câu thơ tiếp theo, cho chúng ta thấy rõ hơn về sự thăng trầm đầy vất vả, sự khó nhọc trong công việc của bà Tú:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Hình ảnh người vợ được Tú Xương đem đặt ngang với hình ảnh con cò. Chân dung về người phụ nữ Việt Nam càng trở nên rõ nét, cần mẫn, chăm chỉ suốt ngày đêm để kiếm sống mà không màng đến bản thân. Công việc khó khăn là thế đấy, phải bươn chải, lăn lộn ở nơi được gọi là cái “chợ tạm”. Khi “quãng vắng” thì “lặn lội”, “buổi đò đông” thì trở nên yếu đuối, lép vế, phải chịu cảnh “eo sèo”. Hai câu thơ là hai bức tranh hoàn toàn trái ngược nhau, một bên thì vắng tanh, lạnh lẽo, không một bóng người; một bên lại là cảnh bon chen, xô lấn. Bà Tú như bị kẹp ở giữa hai nghịch cảnh trớ trêu này, không bên nào đem lại được cho bà một chút khởi sắc để bà có thể buôn bán dễ dàng hơn chút ít. Và từng giọt mồ hôi xen lẫn từng dòng nước mắt đã trực tuôn trào đầy chưa xót, mặn đắng.

Khó khăn là vậy, nhọc nhằn là vậy, nhưng bà Tú vẫn cứ lặng lẽ sớm trưa, không một lời than thân trách phận:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Những khó khăn như đang chồng chất ngày một đầy, đè nặng lên đôi vai của người vợ “năm nắng”, “mười mưa”, cái gánh nặng chẳng thể nào đo đếm được đang dồn nén lên đôi vai gầy gò, ốm yếu. Hơn nữa, bà còn phải mang thêm một gánh nặng khác của chính cuộc đòi bà, đó là người chồng. Nhưng bà tú vẫn không một lời kêu ca, trách móc, bà chập nhận với số phận khó nhọc của mình “âu đành phận”, và luôn nỗ lực hết mình cho cái trách nhiệm nặng nề ấy “dám quản công”. Tác giả như thấu hiểu được nỗi lòng của người vợ, một sự cảm phục về sự phi thường trước những khó khăn. Bà Tú chính là hình ảnh đại diện cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đức tính hy sinh cao cả.

Tú Xương như thấu hiểu một cách chân thành cho những gì mà bà Tú phải chịu đựng, ông đã tự trách móc chính bản thân mình một cách cay đắng, mà đúng ra những lời này sẽ là bà Tú nói ra chứ không phải ông:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.”

Lời chửi chua chát được cất lên một cách bộ chực ” cha mẹ thói đời ăn ở bạc”. Đây không phải là người vợ đang chửi chồng, mà đó là tác giả đang tự chửi chính bản thân mình. Một ông chồng bạc bẽo, vô tích sự, không làm tròn trách nhiệm thực sự của một người chồng, không phải là trụ cột cho gia đình, mà thậm chí là chẳng giúp được gì cho gia đình, vợ con. Hai từ “hờ hững” nghe thật buồn thay, người chồng tự cảm thấy như mình chẳng hề tồn tại, một sự đau đớn vô thường “có như không”.

Qua đó càng thể hiện rõ nét hơn hình ảnh của người vợ, người mẹ với lòng thương yêu chồng con, tần tảo, lam lũ, nguyện gánh vác và hy sinh bản thân để gai đình có một cuộc sống no đủ.

Đứng từ xa để quan sát, Tú Xương đã nhìn nhận hoàn toàn hình ảnh người vợ với bao nhọc nhằn, vất vả. Là sự thấu hiểu, cảm thông với những gì người vợ phải chịu đựng. Là sự trách móc, dằn vặt trước những bất lực của bản thân. Bài thơ Thương Vợ đã nói thay cho tiếng lòng đầy chua chát của tác giả, một nỗi cảm thông sâu sắc, một tình thương yêu chân thành giành cho người vợ.

Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương

Đề bài: Soạn Bài Thương Vợ Lớp 11 Của Trần Tế Xương

BÀI LÀM

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả:

* Tiểu sử và con người

+ Tiểu sử: Tên thật là: Trần Tế Xương, tự Mạc Trai, hiệu Mộng Tích, Tứ Thịnh. Tên ban đầu là Trần Duy Uyên. Sinh ngày: 10/8/1870, quê ở Vị Xuyên – Mĩ Lộc – Nam Định nay là phố hàng Nâu thành phố Nam Định.

+ Con người: Đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng là người thông minh, giỏi thơ phú.

– Song vì trong thời đại nho đã vào lúc cuối mùa nên thi cử lận đận. Thời đại làm cho ông vỡ mộng công danh. Ông thi tất cả 8 lần. Chỉ đỗ vớt một kỳ thi tú tài, khoa Bính Ngọ, đổi tên là Trần Cao Xương song vẫn đen đủi:

“Tế đổi làm Cao mà chó thế

Kiện trông ra hỡi trời ơi.”

Việc Tú Xương bất thành trong thi cử một phần do tính cách phóng túng “Văn chương ngoại hạn quan không chấm”.

+ Ở Tú Xương hình thành nhiều thú chơi tân kỳ khác xã so với nhà thơ vốn có.

– Thơ văn Tú Xương là một trường hợp nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Lúc nào thơ văn của ông cũng như một chàng trai xinh đẹp, sung sức, bất chấp mọi thử thách của thời gian. Bài học hôm nay giúp chúng ta tìm hiểu về thơ văn Tú Xương.

* Sự nghiệp:

– Tú Xương chỉ sống 37 năm nhưng để lại 150 bài thơ chủ yếu là thơ Nôm, đủ các thể loại: Thơ luật, thơ lục bát và văn tế.

– Thơ Tú Xương xuất phát từ cái tâm của mình toả ra hai nhánh trào phúng và trữ tình.

+ Mảng trữ tình:

Nỗi đau buồn về thời thế, thất bại trên con đường công danh, đạo Nho đã lỗi thời:

“Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn

Đêm nảo đem nao tớ cũng buồn”

Nỗi tủi hổ bởi sự nghèo đói luôn đè nặng

“Van nợ có khi trào nước mắt

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”

Tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, vẻ đẹp quá khứ, nỗi buồn cho vận nước

“Sông kia rày đã lên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò”

Tình cảm bạn bè, tình cảm với vợ con, gia đình

“Nào ai có tiếc ai đâu

Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô”

Đả kích bọn thực dân: hình ảnh những ông sứ, ông cò:

“Hà Nam danh giá nhất ông cò

Trông thấy ai ai chẳng dám ho”

Bọn quan lại chen nhau kiếm chút danh lợi, học chỉ còn là hình thức, tuyển chọn xô bồ, mua quan bán tước:

Giới tu hành làm điều xằng bậy

“Quảng đại từ bi cũng đi tù

Hay là sư cụ vụng đường tu”

Hình ảnh những người phụ nữ me tây

“Váy lê quét đất mụ đầm ra”

“Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”

Đồng tiền làm suy đồi giá trị đạo đức

“Kẻ yêu người ghét hay gì chứ

Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền”

“Đất Vị Xuyên có Tú Xương dở dở ương ương

Râu rậm bằng chổi đầu to bằng giành”

Giáo sư Lê Đình Kị nhận xét: ” Tú Xương được thời buổi biến thành nhà thơ lớn nhất của nền văn học Việt Nam”; Chế Lan Viên khi nói về thơ Tú Xương cũng viết: “Có tiếng cười gằn như mảnh vỡ thuỷ tinh”. Tú Xương xuất hiện như một phong cách trào phúng nhiều cung bậc, nhưng độc đáo hơn vẫn là tiếng cười dữ dội, quyết liệt

2. Văn bản:

* Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ ra đời khi Tú Xương trên dưới 30 tuổi, đã có 5 con (4 trâi, 1 gái), gia cảnh túng bấn, thi cử lận đận.

( Bà Tú: Tên thật là Phạm Thị Mẫn ở Lương Đường – Bình Giang – Hải Dương nhưng sinh ra ở Nam Định. Bà Tú có cửa hàng gạo ở “mom sông” chỗ đất nhô ra giáp với sông. Bà Tú đã trở thành đề tài quen thuộc của ông Tú. Khi nhà thơ gọi là “mẹ mày” lúc là “cô gái nuôi một thầy đồ”, lúc âu yếm gọi là “mình”.)

* Thể loại và bố cục:

– Bài thơ được làm theo thể thơ Nôm Đường luật

– Văn bản được bố cục theo hai phần:

+ Bốn câu trên: Hình ảnh bà Tú hiện lên rất chịu thương, chịu khó, tần tảo đảm đang.

+ Bốn câu còn lại: Thái độ của Tú Xương đối với người vợ của mình.

II. ĐỌC – HIỂU

1. Hình ảnh bà Tú chịu thương, chịu khó, tần tảo đảm đang:

* Hai câu đề:

– Bà Tú hiện lên qua từ ngữ, hình ảnh:

– Ghi nhận công lao của vợ, nhà thơ dùng từ ” nuôi đủ “. Có lẽ trong cảm nhận của Tú Xương không thể có được người vợ nào trọn vẹn, chu toàn hơn thế. Nuôi đủ có thể hiểu rằng bà Tú không chỉ lo đủ về số lượng mà còn đảm bảo cả chất lượng cho cuộc sống của bố con ông Tú. Nuôi đủ cũng có thể hiểu là: vừa đủ, không thừa, không thiếu

– Đảo 5 con, 1 chồng Chữ “với” trong câu thứ 2 đem đến sự bất ngờ, thú vị. Nhà thơ nhận thấy rõ việc nuôi chồng cũng vất chẳng kém việc nuôi con, 5 đứa đông đúc bé dại của mình. ý vị tự trào toát ra từ đây: nhà thơ không giúp được gì trong việc nuôi sống gia đình, trái lại chỉ là kẻ ăn theo, một thứ tội nợ làm cho gánh nặng của bà Tú càng thêm chao đảo hơn.

* Hai câu thực:

– “Quãng vắng”: vắng vẻ, ít người qua lại (đồng nhất ẩn dụ nói về sự lẻ loi đơn chiếc trong công việc làm ăn của bà Tú)

– “Eo sèo”: cảnh cãi cọ, câu bấc câu chì, kì kèo tranh mua tranh bán ở chốn chợ búa, bến nước bãi sông

– “Đò đông” cũng có thể hiểu đông người trên một chuyến đò hoặc nhiều đò trên một sông và cũng có thể hiểu chuyến đò trong mùa đông

Hình ảnh ông Tú qua nỗi lòng thương vợ

– Sử dụng triệt để thành ngữ dân gian: “Một duyên hai nợ”, “Năm nắng mười mưa”

+ Duyên: theo quan niệm của nhà phật chỉ quan hệ nhân quả. ở đời, vợ chồng lấy nhau là do một căn nguyên vô hình nào đó.

+ Nắng, mưa: sự nhàn nhã thì ít, sự vất vả khó nhọc thì nhiều (5,10)

+ Thành ngữ ” năm nắng mười mưa”… sử dụng lối nói tăng cấp diễn tả vất vả cực nhọc mà bà Tú phải gánh chịu, đồng thời thể hiện đức tính chịu thương chịu khó hết lòng vì chồng con của bà

– Con người đảm đang tháo vát chu đáo với chồng con- gánh vác được một trách nhiệm nặng nề ” nuôi đủ năm con với một chồng”. Con người giàu đức hi sinh, không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng con

– Đằng sau sự khôi hài trào phúng là thái độ xót xa, ăn năn hối hận, thương cảm. Tú Xương không chỉ cảm mà còn nói lên nỗi vất vả của vợ. Cách nó khôi hài ” Nuôi đủ….”- Tú Xương tự hạ mình, coi bản thân là đứa con đặc biệt, kẻ ăn theo, ăn bám, ăn tranh của 5 đứa con

– Tú Xương đã bật lên những tiếng chửi (mượn lời của bà Tú)

+ Chửi xã hội

+ Thói: những nếp xấu đáng chê trách, lên án

+ “Thói đời ăn ở bạc”: cuộc đời đen bạc đểu cáng, xã hội thực dân chỉ chạy theo đồng tiền

– Tự chửi mình: Nhà thơ cất tiếng tự chửi mình, cái tội ăn ở bạc bẽo với vợ, để vợ phải chịu trăm đắng ngàn cay, cực khổ bon chen với cuộc đời.

III. TỔNG KẾT

1. Nội dung:

– Tình yêu thương quí trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Tâm sự vẻ đẹp nhân cách của Tú xương ( nỗi đau, tiếng cười chua chát )

2. Nghệ thuật:

– Tiếp thu sáng tạo ngôn ngữ ca dao dân ca và thành ngữ, phong cách vừa ân tình vừa hóm hỉnh.

Cập nhật thông tin chi tiết về Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Lớp 11 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!