Xu Hướng 9/2022 ❤️ Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ) ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 9/2022 ❤️ Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ) ❣️ Top View

Xem 4,158

Bạn đang xem bài viết Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ) được cập nhật mới nhất ngày 28/09/2022 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 4,158 lượt xem.

Trình Bày Ngắn Gọn Những Đặc Điểm Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Chiều” – (“Mộ Khúc”) – Xuân Diệu & Phạm Duy

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Đêm Trăng” – Xuân Diệu & Hoàng Thanh Tâm

Những Ca Khúc Phổ Thơ Nổi Tiếng

Miễn Phí Tải Về File Word

Trang chủ

Môn học

Ngữ văn

Chuyên đề

Đặc sắc nghệ thuật và cá tính sáng tạo của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ)

ĐẶC SẮC  NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG

TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

 

I. Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

          “Cha đàng

ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miền đất nước. Từ khi

còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệu luôn lao động

sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng

tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn, phê bình,

nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật… Ở lĩnh vực nào tài năng Xuân Diệu

cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhất của ông.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

          Cả cuộc đời

sáng tạo nghệ thuật, Xuân Diệu đã nêu một tấm gương cho các thế hệ cầm bút về sự

cần cù, say mê, không mệt mỏi, đã để lại sự ngưỡng mộ, khâm phục với bao thế hệ

độc giả.

          Khi Thơ mới bắt

đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhất của bầu trời Thơ mới

buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữ phải nhường ngôi “đệ

nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh khi nhận xét

(và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đã tinh tường khái quát:

“Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận,

quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực,

băn khoăn như Xuân Diệu…”. “Thiết tha, rạo rực, băn khoăn”, phải là ba tính từ

(chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thần thái thơ và đời Xuân Diệu. Các nhà

phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoài nước đã không tiếc lời ngợi ca

thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”,

là “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu, và của ánh sáng”, còn thơ Xuân Diệu

“không phải là văn chương nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ,

là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những

thanh âm”. “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của

ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Cả Hoài Thanh và Vũ Ngọc

Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới” và

“Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”. Hoài Thanh

– tác giả của “Thi nhân Việt Nam”

dường như đã giành những tình cảm đặc biệt của mình cho thi sĩ của tình yêu

thương bằng những lời có cánh: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt

chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm

cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của

mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng sự sống

muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống

dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con

chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu

có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi”.

          Không thể kể hết những ý kiến, những

đánh giá của độc giả giành cho “thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu” ấy. Tất cả nói

lên rằng Xuân Diệu đã có một vị trí khó thay thế trên thi đàn Việt Nam hiện

đại. Khi ông xuất hiện, Thế Lữ đã từng reo mừng: “Thế là từ nay, chúng ta đã có

Xuân Diệu”. Và khi nhà thơ qua đời, “thế là từ nay chúng ta không còn Xuân Diệu

nữa”, “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng” (Hà Xuân Trường).

Tuy nhiên, sự nghiệp mà Xuân Diệu để lại sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu

thơ, trong lòng dân tộc, bởi “sự sống còn của một nhà văn là ở tác phẩm”.

II. Phong cách nghệ

thuật Xuân Diệu trước CMT8 1945:

          Trong “Bài

thơ tuổi nhỏ” sáng tác năm 1933 – khi Xuân Diệu mười bảy tuổi, thi sĩ đã dõng dạc

bày tỏ tuyên ngôn sống của mình:

                                         Giơ tay muốn ôm cả Trái đất

                                         Ghì trước trái

tim, ghì trước ngực

                                         Cho đầy trước mắt

khoảng cô đơn

                                         Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

          Đây chính là nét

nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông: niềm khát khao giao cảm với đời,

cuộc đời hiểu theoo nghĩa chân thật và trần thế nhất. Khát khao giao cảm – có

thể hiểu là những mong ước, mong muốn, hi vọng một cách thiết tha, cháy bỏng được

hòa nhập, được tiếp cận, được tâm sự, giãi bày, được cảm thông, chia sẻ. Nhà

nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Có thể nói trên đời này có bao

nhiêu cách để tiếp xúc với đời, để tâm sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đều không

bỏ qua và khai thác triệt để… Đây là một trái tim nóng bỏng, trái tim của một

con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi sự giao cảm tràn đầy tính nhân bản

kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đối với cuộc sống và kêu gọi tình

yêu của cuộc sống đối với mình” (Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn).

1. Xuân Diệu sáng tác nhiều và khỏe:

          Đây là một

cách để được giao hòa, gặp gỡ, tâm sự, giãi bày. Suốt cuộc đời lao động bền bỉ

của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp sáng tác lớn lao với nhiều

thể loại. Ở cả hai chặng sáng tác, Xuân Diệu đều có những cống hiến đáng kể đối

với nền văn học hiện đại Việt Nam.

Ông đã viết gần năm mươi cuốn sách, bình thơ trên bốn trăm cuộc, ngoài ra còn

làm biên tập sách báo, viết báo, làm báo,… thì không kể hết. Quả thực là “một

khối lượng khổng lồ” (Mai Quốc Liên). “Bài học lớn nhất, tấm gương sáng nhất mà

Xuân Diệu để lại cho các thế hệ cầm bút về sau là tấm gương lao động nghệ thuật

cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ, say mê và liên tục” (Hà Xuân Trường).

          Trước Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Với hai tập

“Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệu trở thành một trong

những nhà thơ xuất sắc nhất và điển hình nhất của phong trào Thơ mới, có nhiều

đóng góp vào việc cách tân các thể loại thi ca dân tộc và phát triển ngôn ngữ

dân tộc. Nhà thơ Tế Hanh khi được hỏi nếu chọn năm nhà thơ tiêu biểu nhất của

phong trào Thơ mới đã trả lời sau khi suy nghĩ: “Kể cũng khó, nhưng theo tôi

thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử”. Lại hỏi

tiếp: nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì là ai? Tế Hanh đã trả lời ngay:

Xuân Diệu. Như vậy, công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thật không

nhỏ.

          Sau Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu thuộc số ít người ở hàng đầu của nền thơ ca cách mạng, trở

thành một trong những người đầu tiên xây dựng nền móng cho thơ ca cách mạng Việt

Nam.

2. Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu:

          Sinh thời,

Xuân Diệu đã tự nhận mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thơ viết về tình

yêu là mảng đặc sắc nhất của thơ Xuân Diệu. Thơ tình của ông có tới vài trăm

bài, có những bài về tình yêu hay nhất trong số những bài thơ tình hiện đại. Một

danh hiệu cao quý mà Xuân Diệu được phong tặng ngay từ thời “Thơ thơ” và “Gửi

hương cho gió” và mãi sau này ông vẫn bền bỉ vun đắp bằng cả cuộc đời sáng tạo

của mình; đó là danh hiệu “ông hoàng của thơ tình” hoặc thân thiết hơn là “thi

sĩ của tình yêu”… Các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao những đóng góp của Xuân Diệu

trong địa hạt thơ tình: “nhà thơ tình bậc nhất” (Hà Minh Đức), “nhà thơ tình kiệt

xuất” (Lê Đình Kị), “có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình” (Tố Hữu).

Chính Xuân Diệu, những năm cuối đời nhìn lại suốt chặng đường dài sáng tạo của

mình cũng tự hào rằng “đặc sản của tôi là thơ tình”, và nhấn mạnh: “Đã làm thơ

tình là phải làm thơ tình nguyên chất”. Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm

hết mình với cuộc sống, nên cũng là nhà thơ thật sự của tình yêu; nói cách

khác, Xuân Diệu mượn tình yêu để giao tiếp với đời vì tình yêu là một trong những

niềm giao cảm mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất – niềm giao cảm tuyệt

vời của tuổi trẻ. Đó là sự hòa hợp tuyệt diệu giữa hai tâm hồn, hai trái tim,

hai thể xác, vừa rất mực trần thế, vừa hết sức cao thượng. Tình yêu là tình cảm

người nhất. Có thể nói, khát vọng yêu đương nồng nàn và da diết thường thấy ở

Xuân Diệu cũng chính là biểu hiện đầy đủ nhất của lòng say mê yêu đời. Đối với

ông, tình yêu là biểu tượng tràn đầy rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân và là hạt

nhân của sự sống. Tư duy nghệ thuật của Xuân Diệu được hình thành và phát triển

trên cơ sở nguồn cảm xúc yêu đương ấy.

          Đi sâu vào thế

giới tình yêu của Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đây mọi cung bậc tình cảm yêu đương

muôn thuở của con người. Từ những tâm trạng nhớ nhung bâng quơ, những hẹn hò xa

xôi đến những thứ tình như mây đưa gió thoảng, từ những tình cảm vu vơ đến thứ

tình cho không như “Gửi hương cho gió”, như “Phấn thông vàng”, từ những phút

say nồng cực lạc đến những khoảng trống vắng lạnh lùng… nghĩa là có đủ mọi trạng

thái bâng khuâng, hồi hộp, đắm say, giận dỗi, hờn ghen, hi vọng, tuyệt vọng… của

tình yêu. Nhiều nhà thơ chọn tình yêu làm tiền đề cho cảm hứng sáng tạo nhưng

có lẽ chỉ Xuân Diệu là đạt đến độ si mê đắm đuối nhất của cảm xúc yêu đương, là

người phát ngôn đầy đủ nhất cho tình yêu của thời đại.

          Đến với tình

yêu, Xuân Diệu muốn khám phá thực chất ý nghĩa của nó và đồng thời qua đó, bộc

lộ quan niệm sống của mình. Có thể coi Xuân Diệu là người đầu tiên đã đưa vào

thơ Việt Nam

tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối, tuyệt đỉnh, sự

hòa nhịp giữa linh hồn và thể xác. Tình yêu phải thực sự là tình yêu của con

người trần tục chứ không phải thứ tình Biêlinxki từng chế giễu “chỉ làm đẹp

lòng các vị bảo hộ hậu cung vua chúa phương Đông” mà thôi. Tuy nhiên cái đích

mà tình yêu nhằm đạt tới phải là sự hòa hợp cao độ của tâm hồn, là trái tim đỏ

thắm của em, tâm hồn xanh thẳm của em, là phút giây giao cảm tuyệt vời của những

con người “Trời ơi, anh muốn uống hồn em!”.

Với tình yêu, con người sinh ra để mà yêu ấy luôn sôi nổi cuồng

nhiệt:

                                         Yêu tha thiết, thế vẫn

còn chưa đủ,

                                         Phải

nói yêu, trăm bận đến nghìn lần,

                                         Phải mặn

nồng cho mãi mãi đem xuân,

                                         Đem chim bướm thả trong vườn

tình ái

                                                                                  (Phải nói)

Xuân Diệu ý thức được ý nghĩa cuộc đời nằm trong vòng tuổi trẻ,

ý nghĩa tình yêu nằm trong vòng khoảnh khắc, thơ Xuân Diệu ghi lại rất nhiều những

khoảnh khắc ngưng đọng của tâm hồn với một cường độ cảm xúc mạnh mẽ: khoảnh khắc

gặp gỡ:

                                         Ấy là

hồn giăng rộng khắp không gian

                                         Để đánh lưới những duyên

hờ mới mẻ

                                         Ấy những

cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ

                                          Nghe

xôn xao rờn rợn đến hay hay

                                                                                  (Xuân

không mùa)

                                         Làm

sao cắt nghĩa được tình yêu!

                                         Có

nghĩa gì đâu một buổi chiều

                                         Nó chiếm

hồn ta bằng nắng nhạt,

                                         Bằng

mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu

                                                                                 

(Vì sao)

Khoảnh khắc chợt bùng lên nỗi nhớ:

                                         Anh nhớ tiếng! Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh

                                         Anh nhớ

em, anh nhớ lắm! em ơi

                                                                                 

(Tương tư chiều)

                                           

                                         Uống xong lại khát là tình

                                         Gặp rồi

lại nhớ là mình của ta

Rồi khoảnh khắc vội vàng, giục giã, được giao cảm chiếm lĩnh

và khao khát vươn tới cái vô biên, tuyệt đích:

                                         Mau lên chứ, vội

vàng lên với chứ

                                         Em, em

ơi, tình non sắp già rồi

                                                                                

 (Giục giã)

                                         Em vui đi, răng nở ánh

trăng rằm

                                         Anh

hút nhụy của mỗi giờ tình tự

Vì luôn khát khao vô biên, tuyệt đích, nên:

                                         Biển đắng không

nguôi nỗi khát thèm

                                         Nên lúc môi ta

kề miệng thắm,

                                         Trời

ơi, ta muốn uống hồn em

                                                                                 

(Vô biên)

Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất, là mùa xuân đầu:

                                         Xuân đã sẵn

trong lòng tôi lai láng

                                         Xuân

không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

                                         Xuân

là khi nắng rạng đến tình cờ,

                                         Chim

trên cành há mỏ hát ra thơ

                                         Xuân

là lúc gió về không định trước

                                                                                 

(Xuân không mùa)

                              

          Mặt trời vừa mới cưới trời

xanh

                                         Duyên

đẹp hôm nay sẽ tốt lành

                                         Son sẻ

trời như mười sáu tuổi

                                         Má hồng phơn phớt, mắt long lanh

                                                                                 

(Rạo rực)

Sau này, khi đã chiều tà bóng xế, tình yêu trong thơ ông vẫn

luôn nồng nàn:

                                         Tôi đã yêu từ

khi chưa có tuổi

                                         Lúc

chưa sinh, vơ vẩn giữa dòng đời

                                         Tôi sẽ

yêu khi đã hết tuổi rồi

                                          Không

xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng

                                                                                  (Đa

tình)

Cho đến lúc sắp giã biệt cuộc đời, nhà thơ vẫn khao khát:

                                         Hãy để cho tôi

được giã từ

                                         Vẫy chào

cõi thực để vào hư

                                         Trong

hơi thở chót dâng trời đất

                                         Cũng vẫn

si tình đến ngất ngư

           Thơ tình

Xuân Diệu thực sự là thơ tình, tình yêu của những người yêu. Trong “Thơ thơ” có

cái rạo rực thiết tha, nồng cháy, “Gửi hương cho gió” có cái da diết, đằm thắm

xen lẫn vị đắng cay. Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinh thần và tâm hồn

nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt và cũng rất trong sáng, lành mạnh.

Xuân Diệu yêu đời tha thiết và khao khát được đáp lại:

                                         Và hãy yêu tôi một

giờ cũng đủ

                                         Một

giây cũng cam, một chút cũng đành

          Nhưng do

không gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu, chân thật, nên hầu hết những bài thơ tình

của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim đắm say, nồng nhiệt mà không được đến

đáp xứng đáng và thường thấm đãm nỗi buồn cùng mặc cảm cô đơn. Có lúc sự thờ ơ,

hờ hững của người đời khiến trái tim thi sĩ không tránh khỏi sự tủi hổ:

                                         Lòng ta là một

cơn mưa lũ

                                         Đã gặp

lòng em là lá khoai

                                         Mưa biếc

tha hồ rơi giọt ngọc

                       

                 Lá xanh không ướt

đến da ngoài

                                                                                 

(Nước đổ lá khoai)

Thậm chí, “chết ở trong lòng một ít” bởi:

                                         Vì mấy khi yêu

mà chắc được yêu

                                         Cho rất

nhiều song chẳng nhận bao nhiêu

                                         Người

ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

                                                                                 

(Yêu)

Càng yêu, càng thấy “dại khờ”:

                                         Người ta khổ vì

thương không phải cách

                                         Yêu

sai duyên, và mến chẳng nhằm người

                                          Có

kho vàng, nhưng chẳng tặng tùy nơi

                                          Người

ta khổ vì xin không phải chỗ

Ta hiểu vì sao trong thế giơi nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa

xuân và bình minh đi liền với những chiều thu và những đêm trăng lạnh, sự nồng

nàn đi liền với cảm giác bơ vơ…

          Trong tình

yêu, Xuân Diệu đã đi đến tận cùng của sự thành thực: thành thực nói lên nỗi

khát tình dằng dặc của đời mình; thành thực can đảm nói lên những mặt trái của

tình yêu. Nếu như trong văn chương truyền thống, nguyên nhân của những mối

lương duyên trắc trở là do khách quan, thì Xuân Diệu thấy nguyên nhân sự phản bội

là ở phía chủ quan, đó chính là những góc khuất trong tâm hồn những đôi tình

nhân đang say sưa kia:

                                         Linh hồn ta còn

u uẩn hơn đêm,

                                         Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ

                                          Kiếm

mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió

                                          Anh

muốn vào dò xét giấc em mơ

                                          Nhưng

anh giấu em những mộng không ngờ

                                          Cũng

như em giấu những điều quá thực

                                                                                 

(Xa cách)

Khoảng cách về tâm hồn mới là điều đáng sợ nhất, bởi:

                                          Em là em, anh vẫn cứ

là anh

                                          Có thể

nào qua Vạn lý trường thành

                                          Của

hai vũ trụ chứa đầy bí mật

          Nhưng dù tình

yêu có được đền đáp hay không, trái tim yêu của Xuân Diệu vẫn nồng nàn say đắm,

vẫn khát khao gặp gỡ, tâm hồn vẫn “giăng rộng khắp không gian – Để đánh lưới những

duyên hờ mới mẻ”, bởi với thi sĩ của tình yêu, “Tình yêu không tuổi, và xuân

không ngày tháng”.

3.Quan niệm thẩm mỹ:

Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu đã

đem lại cho thơ một quan niệm thẩm mỹ hết sức mới mẻ, góp phần tạo nên một cuộc

cách mạng trong thi ca: cuộc đời trần thế là đẹp nhất, con người – đặc biệt là

người thiếu nữ – là tuyệt diệu nhất, là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên đời.

          Xuân Diệu chịu

ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng Pháp. Trường thơ này quan niệm vũ trụ là một

thế giới huyền bí mà mắt thường không nhìn thấy được, cái mà con người nhìn thấy

chỉ là dấu hiệu tượng trưng của bản thể ấy. Vì vậy, các nhà thơ theo trường

phái này không chủ trương miêu tả thế giới rõ rệt, hữu hình mà cố gắng miêu tả

những biến thái tinh vi, mong manh, huyền diệu của vũ trụ, lòng người. Trường

thơ tượng trưng đề xướng thuyết tương giao và coi trọng tính nhạc. Điều này dẫn

tới đặc điểm cơ bản của thơ Xuân Diệu: đấy là một thế giới tràn đầy xuân sắc,

xuân tình, mà chuẩn mực của cái đẹp là con người giữa tình yêu tuổi trẻ. Quan

điểm mĩ học mới mẻ này đã khiến thi sĩ sáng tạo được nhiều hình ảnh mới mẻ, độc

đáo, đẹp một cách khỏe khoắn đầy sức sống.

          Bài thơ “Vội

vàng” được coi là tuyên ngôn về quan niệm sống của Xuân Diệu, một triết lí nhân

sinh được thể hiện bằng hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Với Xuân Diệu, cuộc sống

trần thế đầy hấp dẫn, đó là một thiên đường trên mặt đất, một khu vườn tràn đầy

xuân sắc, một không gian tươi thắm tràn ngập lá nõn, hoa thơm, trái ngọt… mà

vạn vật ở độ lên hương rực rỡ nhất, đều say đắm xuân tình: ong bướm như trong

tuần tháng mật; hoa phải là hoa của đồng nội xanh rì; lá phải là lá của cành

tơ, chồi biếc; yến oanh rộn rã khúc tình si… Vì vậy, không việc gì phải tìm

kiếm thiên đường ở tận đâu, mà hãy yêu mến, gắn bó tận hưởng hết mình ngay

trong cuộc đời này.

          Từ quan niệm

coi con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp, nhà thơ nhìn trời đất, cỏ cây, hoa

lá, núi sông… đầy vẻ tình tứ:

                                         Hơi gió thở như

mặt người yêu mến

                                         Mây đa

tình như thi sĩ đời xưa

Thời tiết bốn mùa thì: “Xuân: người ta vì ấm mà cần tình,

Thu: người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi; Nắng hạ đốt người một cách cực

lạc và tiết đông khỏa vào da thịt làm dây cả máu xương”. Mùa xuân được thi sĩ

hình dung, liên tưởng như làn môi căng mọng của người thiếu nữ “Tháng giêng

ngon như một cặp môi gần” – một câu thơ hay vào loại hiếm thấy trong lịch sử

văn học dân tộc. Xuân Diệu đã khái quát lên thành toàn bộ thế giới xuân tình.

Nhìn phấn thông bay, thi sĩ như thấy ái tình tản mạn, ôm ấp không gian, hoa thì

không phân biệt được là hoa hay là những thiếu nữ đa tình. Biển thì như một người

tình say đắm, một trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi… Có thể nói, làm nên những

câu thơ đầy cảm xúc, cảm giác ấy, một phần quan trọng là nhờ cách dùng từ ngữ của

Xuân Diệu: độc đáo, táo bạo, có giá trị gợi cảm mạnh mẽ. Tuy nhiên, thơ Xuân Diệu,

về bản chất vẫn kế thừa phát huy cái nhạc điệu riêng, linh hồn riêng của thơ ca

truyền thống. Chính vì vậy, kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại,

kết tinh ở một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu

khám phá được những biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như của nội tâm con

người và thể hiện được trong những vần thơ “ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng

lại baoo nhiêu tinh hoa” (Thế Lữ).

4. Xuân Diệu rất ý thức về sự chảy trôi của thời gian:

          “Trong các

nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu là người có năng lực cảm nhận tinh tế bước đi của

thời gian. Có lẽ cũng do lòng yêu tuổi trẻ, muốn ngăn sự già nua tàn tạ, nên

nhà thơ luôn cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình” (Vũ

Quần Phương). Với Xuân Diệu, thời gian trở thành “nỗi ám ảnh”, thành “kẻ thù

đáng gờm”, là “đại lượng tiêu cực, thù địch với hạnh phúc và tuổi xuân”. Xuân

Diệu quan niệm thời gian mang trong lòng nó sự trôi chảy mà mỗi khoảnh khắc qua

đi là mất đi vĩnh viễn:

                                         Xuân

đang tới, nghĩa là xuân đang qua

                                          Xuân

còn non, nghĩa là xuân sẽ già

                                                                                 

(Vội vàng)

Đây là một quan niệm hết sức mới mẻ, tiến bộ về thời gian –

thời gian tuyến tính. Thời trung đại, với quan niệm thời gian tuần hoàn với chu

kì bốn mùa, nên con người rất ung dung, bình thản trước thời gian:                             

                                         Sen tàn, cúc lại

nở hoa

                                 Sầu dài, ngày

ngắn, đông đà sang xuân

                                                                  

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thời gian trung đại tính theo chiều vĩ mô: ngàn đời, vạn năm,

thiên thu… nên chết chưa phải là hết, còn có kiếp sau. Còn ở thời hiện đại,

người ta không yên tâm với điều đó. Đời người hữu hạn, ngắn ngủi vô cùng, cho

nên con người không thể thờ ơ với cuộc sống, không nên lãng phí thời gian, phải

sống năng suất hơn gấp nhiều lần trong cùng một thời gian được sống, hãy tìm

cách đốt cuộc đời mình lên để nói trôi qua thì không phải luyến tiếc. Cho nên,

ta bắt gặp những khoảnh khắc thi sĩ “cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động

với chính mình”:

                                        – Tình

thổi gió, màu yêu lên phấp phới

                                          Nhưng

đôi ngày, tình mới đã thành xưa

                                       …Tình

yêu đến, tình yêu đi, ai biết

                                          Trong gặp gỡ đã có

mầm li biệt

                                                                                 

(Giục giã)

                                        – Sự thật

ngày nay, không thật đến ngày mai

                                                                                  (Phải

nói)

                                        – Cái

trôi không đợi cái bay

                                          Từ

tôi phút ấy, sang tôi phút này.

Ý thức về sự trôi chảy của thời gian cũng là cách không chấp

nhận cuộc sống mù tối, vô danh vô nghĩa, tẻ nhạt, và cội nguồn sâu xa của nó

chính là niềm khát khao giao cảm với đời.

          Vô cùng nhạy

cảm trước sự đổi thay “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác” của cuộc đời, Xuân Diệu luôn

nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời gian

quá ngắn ngủi của kiếp người. Càng tha thiết với cuộc đời, ông càng nhìn thấy

thời gian trôi với nhịp độ chóng mặt: “rồi đi”, “cứ thế mà bay” những ngày những

tháng.

                                         Thong thả chiều vàng thong

thả lại

                                          Rồi

đi…đêm xám tới dần dần

                                          Cứ thế

mà bay cho đến hết

                                          Những

ngày, những tháng, những mùa xuân

                                                                                 

(Giờ tàn)        

Chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân

Diệu, bởi ông ý thức được rằng thời gian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang

chờ đón. Do vậy, cảm nhận về sự vận động của thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất

phát từ ý thức về sự mất mát. Cùng với ngày tháng trôi qua, Xuân Diệu chỉ nhìn

thấy sự vật đang bị bào mòn, tàn tạ:

                                         Hoa nở để mà tàn

                                         Trăng tròn để

mà khuyết

                                         Bèo hợp

để chia tan

                                         Người

gần để li biệt

                                         Hoa

kia không nắng cũng phai màu

                                         Trên mặt

người kia in nỗi đau

                                                                                 

(Hoa nở để mà tàn)

Đằng sau một loạt những “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ”,

“gấp đi em”… ta hình dung ra điệu bộ cuống cuồng của thi nhân cùng nỗi ám ảnh

lo sợ: muộn màng, không kịp, lỡ làng, lỡ thì… Nhưng vốn là người ham sống, Xuân

Diệu không cam lòng chịu để cho ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, vô vị, ông

tìm cách chống đỡ, ngăn cản không cho thời gian cướp đi những lạc thú của tuổi

trẻ, tình yêu.

          Có thể nói rằng,

với Xuân Diệu, thời gian là một chất xúc tác đặc biệt tạo nên những luồng rung

động đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc thi sĩ viết nên những câu thơ

vừa có sức khái quát, vừa sinh động gợi cảm.

5. Xuân Diệu là nhà thơ rất có ý thức khẳng định cái “tôi” cá nhân.

          Thơ ca muôn đời

vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước con người và tạo vật. Song

nếu như trong thơ ca trung đại, quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo”

đã lấn át cái bản ngã thì Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳng định cái “tôi”

cá nhân. “Ngày thứ nhất, ai biết đích ngày nào, chữ “tôi” xuất hiện trong thi

đàn Việt Nam.

Nó thực sự bỡ ngỡ như lạc long nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm

chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh).

          Xuân Diệu là

một nhà Thơ mới tiêu biểu nhất, vì thế rất có ý thức khẳng định cái “tôi” của

mình. Không phải ngẫu nhiên ông được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư

tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới. Với Xuân Diệu, cái “tôi” cá nhân được ý

thức sâu sắc khi lần đầu tiên trên thi đàn, cái “tôi” tiểu tư sản mạnh dạn bày

tỏ những tâm tư thầm kín, những xúc cảm yêu đương tuôn trào, những khát vọng được

hưởng thụ không dứt, không nguôi hoa thơm trái ngọt của cuộc đời trần thế. Vì

thế, Xuân Diệu không chỉ hoàn toàn mới lạ so với các thế hệ trước mà còn mới lạ

so với các nhà thơ cùng thời. Chỉ có Xuân Diệu mới có đủ độ nồng nàn say đắm nhất

của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, với một cách cảm nghĩ nói năng rất phương

Tây và một triết lí hưởng thụ cũng rất phương Tây:

                                         Hái một mùa hoa

lá thuở măng tơ

                                         Đốt

muôn nến sánh mặt trời chói lọi

                                         Thà một phút huy hoàng

rồi chợt tắt

                                         Còn

hơn buồn le lói suốt trăm năm

                                                                                 

(Giục giã) 

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với

Xuân Diệu, sự tồn tại của cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của

nó. Thơ ông tràn ngập chữ “tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ

khác nhau. Nó có thể là sự phô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ, nhiều khi

nhỏ bé, yếu đuối:

                                         Tôi chỉ là một

cây kim bé nhỏ

                                         Mà vạn

vật là muôn đá nam châm

                                                                          

       (Cảm xúc)                                     

                                         Tôi là con chim

đến từ núi lạ

                                                                        

(Lời thơ vào tập “Gửi hương”)

                                         Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

                                         Không

biết đi đâu đứng sầu bóng tối

                                                  

                               (Khi

chiều giăng lưới)

                                         Tôi là kẻ qua sa mạc

Nhưng cũng có lúc cái “tôi” ấy trở nên mạnh mẽ, quyết

liệt:

                                         Tôi là

một kẻ điên cuồng

                                         Yêu những

ái tình ngây dại

                          

                                                       (Thở

than)            

                                         Tôi kẻ đưa răng

bấu mặt trời

                                                                                 

(Hư vô)

          Cũng có thể

là sự bộc lộ đến tận cùng khát vọng khi thi nhân xoáy vào bên trong chiều sâu

tâm hồn mình. Đằng sau cái “tôi” trữ tình đứng ở ngôi thứ nhất là một hệ thống

những động từ chỉ hành động và tư thế cảm xúc rất Xuân Diệu : Đó là ý thức

chiếm lĩnh hương sắc cuộc đời (nắng, gió, không chờ nắng hạ mới hoài xuân…), hoặc

lúc không còn tự chủ được nữa: “Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn”, “tôi run như

lá, tái như đông”. Rồi tôi nhớ; tôi buồn; tôi đã yêu; tôi sung sướng; tôi sẽ chết…

Tuy nhiên, khẳng định cái “tôi” tích cực, cái “tôi” thấm đẫm màu sắc cá thể

trong thơ Xuân Diệu không chỉ căn cứ vào tần số xuất hiện của chữ “tôi” hoặc

vào sự đề cao quá đáng của bản ngã cá nhân thành đỉnh Hi Mã Lạp Sơn ngất ngưởng,

mà cơ sở chính của nó là sự thành thật của xúc cảm. Thơ Xuân Diệu là niềm khát

sống, khát yêu đến cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách vồ vập

“cái li tràn đầy sự sống”. Trong thơ Xuân Diệu, toát lên một nhu cầu mãnh liệt:

được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi”

khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải, luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm

hồn khao khát tìm gặp những tâm hồn. Với Xuân Diệu, dù vui hay buồn, sung sướng

hay đau khổ, hi vọng hay thất vọng… nghĩa là tất cả những rung động tinh vi của

đời sống tâm hồn đều được Xuân Diệu thành thật bày tỏ. Sự chân thực của tình cảm

là một phẩm chất tiêu biểu của thơ trữ tình nói chung, đến trào lưu Thơ mới được

chú trọng khai thác và mở thêm nhiều ngóc ngách, phức tạp, tinh vi hơn để làm

phong phú thêm khả năng tự biểu hiện và sức mạnh hướng nội của thơ. Dù ở phương

diện nào, ta đều thấy ở hồn thơ Xuân Diệu những phẩm chất nổi bật tiêu biểu cho

khát vọng được khẳng định cái “tôi” như một tâm điểm nghệ thuật của thơ lãng mạn

1932-1945.

III. Kết luận:

          Sinh thời,

Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằng tâm hồn của một

nhà thơ thiết tha yêu sự sống. Sự nghiệp mà ông để lại là một di sản thơ vô giá

mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậy niềm vui, nỗi

buồn và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay. Ở giai đoạn trước Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của trào lưu thơ ca

lãng mạn; là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơ mới. Ông đã mang đến cho thi

đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, một luồng rung động mới mẻ trước

tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàu bản sắc. Ông cũng

là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ Việt Nam và làm phong phú thêm hình thức

thơ bằng những hình ảnh độc đáo và những nét nhạc điệu tân kì. Có thể nói, sự cộng

hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy

mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sức mạnh cảm hóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu

trước Cách mạng Tháng Tám.

          Với nửa thế kỉ

hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độc giả và nhất là những

người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ. Con đường đi của

Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cách mạng là con đường tiêu

biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945. Ở cả hai chặng đường ấy, Xuân Diệu đều có những

cống hiến hết sức to lớn. Vị trí của ông trên văn đàn dân tộc là một vị trí

không ai có thể thay thế được. Cùng với khát vọng sống thiết tha sôi nổi, thơ

Xuân Diệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

     

                                       

       

                            

                  

ĐẶC SẮC  NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG

TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

 

I. Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

          “Cha đàng

ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miền đất nước. Từ khi

còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệu luôn lao động

sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng

tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn, phê bình,

nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật… Ở lĩnh vực nào tài năng Xuân Diệu

cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhất của ông.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

          Cả cuộc đời

sáng tạo nghệ thuật, Xuân Diệu đã nêu một tấm gương cho các thế hệ cầm bút về sự

cần cù, say mê, không mệt mỏi, đã để lại sự ngưỡng mộ, khâm phục với bao thế hệ

độc giả.

          Khi Thơ mới bắt

đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhất của bầu trời Thơ mới

buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữ phải nhường ngôi “đệ

nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh khi nhận xét

(và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đã tinh tường khái quát:

“Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận,

quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực,

băn khoăn như Xuân Diệu…”. “Thiết tha, rạo rực, băn khoăn”, phải là ba tính từ

(chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thần thái thơ và đời Xuân Diệu. Các nhà

phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoài nước đã không tiếc lời ngợi ca

thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”,

là “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu, và của ánh sáng”, còn thơ Xuân Diệu

“không phải là văn chương nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ,

là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những

thanh âm”. “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của

ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Cả Hoài Thanh và Vũ Ngọc

Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới” và

“Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”. Hoài Thanh

– tác giả của “Thi nhân Việt Nam”

dường như đã giành những tình cảm đặc biệt của mình cho thi sĩ của tình yêu

thương bằng những lời có cánh: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt

chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm

cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của

mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng sự sống

muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống

dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con

chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu

có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi”.

          Không thể kể hết những ý kiến, những

đánh giá của độc giả giành cho “thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu” ấy. Tất cả nói

lên rằng Xuân Diệu đã có một vị trí khó thay thế trên thi đàn Việt Nam hiện

đại. Khi ông xuất hiện, Thế Lữ đã từng reo mừng: “Thế là từ nay, chúng ta đã có

Xuân Diệu”. Và khi nhà thơ qua đời, “thế là từ nay chúng ta không còn Xuân Diệu

nữa”, “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng” (Hà Xuân Trường).

Tuy nhiên, sự nghiệp mà Xuân Diệu để lại sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu

thơ, trong lòng dân tộc, bởi “sự sống còn của một nhà văn là ở tác phẩm”.

II. Phong cách nghệ

thuật Xuân Diệu trước CMT8 1945:

          Trong “Bài

thơ tuổi nhỏ” sáng tác năm 1933 – khi Xuân Diệu mười bảy tuổi, thi sĩ đã dõng dạc

bày tỏ tuyên ngôn sống của mình:

                                         Giơ tay muốn ôm cả Trái đất

                                         Ghì trước trái

tim, ghì trước ngực

                                         Cho đầy trước mắt

khoảng cô đơn

                                         Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

          Đây chính là nét

nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông: niềm khát khao giao cảm với đời,

cuộc đời hiểu theoo nghĩa chân thật và trần thế nhất. Khát khao giao cảm – có

thể hiểu là những mong ước, mong muốn, hi vọng một cách thiết tha, cháy bỏng được

hòa nhập, được tiếp cận, được tâm sự, giãi bày, được cảm thông, chia sẻ. Nhà

nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Có thể nói trên đời này có bao

nhiêu cách để tiếp xúc với đời, để tâm sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đều không

bỏ qua và khai thác triệt để… Đây là một trái tim nóng bỏng, trái tim của một

con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi sự giao cảm tràn đầy tính nhân bản

kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đối với cuộc sống và kêu gọi tình

yêu của cuộc sống đối với mình” (Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn).

1. Xuân Diệu sáng tác nhiều và khỏe:

          Đây là một

cách để được giao hòa, gặp gỡ, tâm sự, giãi bày. Suốt cuộc đời lao động bền bỉ

của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp sáng tác lớn lao với nhiều

thể loại. Ở cả hai chặng sáng tác, Xuân Diệu đều có những cống hiến đáng kể đối

với nền văn học hiện đại Việt Nam.

Ông đã viết gần năm mươi cuốn sách, bình thơ trên bốn trăm cuộc, ngoài ra còn

làm biên tập sách báo, viết báo, làm báo,… thì không kể hết. Quả thực là “một

khối lượng khổng lồ” (Mai Quốc Liên). “Bài học lớn nhất, tấm gương sáng nhất mà

Xuân Diệu để lại cho các thế hệ cầm bút về sau là tấm gương lao động nghệ thuật

cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ, say mê và liên tục” (Hà Xuân Trường).

          Trước Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Với hai tập

“Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệu trở thành một trong

những nhà thơ xuất sắc nhất và điển hình nhất của phong trào Thơ mới, có nhiều

đóng góp vào việc cách tân các thể loại thi ca dân tộc và phát triển ngôn ngữ

dân tộc. Nhà thơ Tế Hanh khi được hỏi nếu chọn năm nhà thơ tiêu biểu nhất của

phong trào Thơ mới đã trả lời sau khi suy nghĩ: “Kể cũng khó, nhưng theo tôi

thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử”. Lại hỏi

tiếp: nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì là ai? Tế Hanh đã trả lời ngay:

Xuân Diệu. Như vậy, công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thật không

nhỏ.

          Sau Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu thuộc số ít người ở hàng đầu của nền thơ ca cách mạng, trở

thành một trong những người đầu tiên xây dựng nền móng cho thơ ca cách mạng Việt

Nam.

2. Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu:

          Sinh thời,

Xuân Diệu đã tự nhận mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thơ viết về tình

yêu là mảng đặc sắc nhất của thơ Xuân Diệu. Thơ tình của ông có tới vài trăm

bài, có những bài về tình yêu hay nhất trong số những bài thơ tình hiện đại. Một

danh hiệu cao quý mà Xuân Diệu được phong tặng ngay từ thời “Thơ thơ” và “Gửi

hương cho gió” và mãi sau này ông vẫn bền bỉ vun đắp bằng cả cuộc đời sáng tạo

của mình; đó là danh hiệu “ông hoàng của thơ tình” hoặc thân thiết hơn là “thi

sĩ của tình yêu”… Các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao những đóng góp của Xuân Diệu

trong địa hạt thơ tình: “nhà thơ tình bậc nhất” (Hà Minh Đức), “nhà thơ tình kiệt

xuất” (Lê Đình Kị), “có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình” (Tố Hữu).

Chính Xuân Diệu, những năm cuối đời nhìn lại suốt chặng đường dài sáng tạo của

mình cũng tự hào rằng “đặc sản của tôi là thơ tình”, và nhấn mạnh: “Đã làm thơ

tình là phải làm thơ tình nguyên chất”. Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm

hết mình với cuộc sống, nên cũng là nhà thơ thật sự của tình yêu; nói cách

khác, Xuân Diệu mượn tình yêu để giao tiếp với đời vì tình yêu là một trong những

niềm giao cảm mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất – niềm giao cảm tuyệt

vời của tuổi trẻ. Đó là sự hòa hợp tuyệt diệu giữa hai tâm hồn, hai trái tim,

hai thể xác, vừa rất mực trần thế, vừa hết sức cao thượng. Tình yêu là tình cảm

người nhất. Có thể nói, khát vọng yêu đương nồng nàn và da diết thường thấy ở

Xuân Diệu cũng chính là biểu hiện đầy đủ nhất của lòng say mê yêu đời. Đối với

ông, tình yêu là biểu tượng tràn đầy rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân và là hạt

nhân của sự sống. Tư duy nghệ thuật của Xuân Diệu được hình thành và phát triển

trên cơ sở nguồn cảm xúc yêu đương ấy.

          Đi sâu vào thế

giới tình yêu của Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đây mọi cung bậc tình cảm yêu đương

muôn thuở của con người. Từ những tâm trạng nhớ nhung bâng quơ, những hẹn hò xa

xôi đến những thứ tình như mây đưa gió thoảng, từ những tình cảm vu vơ đến thứ

tình cho không như “Gửi hương cho gió”, như “Phấn thông vàng”, từ những phút

say nồng cực lạc đến những khoảng trống vắng lạnh lùng… nghĩa là có đủ mọi trạng

thái bâng khuâng, hồi hộp, đắm say, giận dỗi, hờn ghen, hi vọng, tuyệt vọng… của

tình yêu. Nhiều nhà thơ chọn tình yêu làm tiền đề cho cảm hứng sáng tạo nhưng

có lẽ chỉ Xuân Diệu là đạt đến độ si mê đắm đuối nhất của cảm xúc yêu đương, là

người phát ngôn đầy đủ nhất cho tình yêu của thời đại.

          Đến với tình

yêu, Xuân Diệu muốn khám phá thực chất ý nghĩa của nó và đồng thời qua đó, bộc

lộ quan niệm sống của mình. Có thể coi Xuân Diệu là người đầu tiên đã đưa vào

thơ Việt Nam

tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối, tuyệt đỉnh, sự

hòa nhịp giữa linh hồn và thể xác. Tình yêu phải thực sự là tình yêu của con

người trần tục chứ không phải thứ tình Biêlinxki từng chế giễu “chỉ làm đẹp

lòng các vị bảo hộ hậu cung vua chúa phương Đông” mà thôi. Tuy nhiên cái đích

mà tình yêu nhằm đạt tới phải là sự hòa hợp cao độ của tâm hồn, là trái tim đỏ

thắm của em, tâm hồn xanh thẳm của em, là phút giây giao cảm tuyệt vời của những

con người “Trời ơi, anh muốn uống hồn em!”.

Với tình yêu, con người sinh ra để mà yêu ấy luôn sôi nổi cuồng

nhiệt:

                                         Yêu tha thiết, thế vẫn

còn chưa đủ,

                                         Phải

nói yêu, trăm bận đến nghìn lần,

                                         Phải mặn

nồng cho mãi mãi đem xuân,

                                         Đem chim bướm thả trong vườn

tình ái

                                                                                  (Phải nói)

Xuân Diệu ý thức được ý nghĩa cuộc đời nằm trong vòng tuổi trẻ,

ý nghĩa tình yêu nằm trong vòng khoảnh khắc, thơ Xuân Diệu ghi lại rất nhiều những

khoảnh khắc ngưng đọng của tâm hồn với một cường độ cảm xúc mạnh mẽ: khoảnh khắc

gặp gỡ:

                                         Ấy là

hồn giăng rộng khắp không gian

                                         Để đánh lưới những duyên

hờ mới mẻ

                                         Ấy những

cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ

                                          Nghe

xôn xao rờn rợn đến hay hay

                                                                                  (Xuân

không mùa)

                                         Làm

sao cắt nghĩa được tình yêu!

                                         Có

nghĩa gì đâu một buổi chiều

                                         Nó chiếm

hồn ta bằng nắng nhạt,

                                         Bằng

mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu

                                                                                 

(Vì sao)

Khoảnh khắc chợt bùng lên nỗi nhớ:

                                         Anh nhớ tiếng! Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh

                                         Anh nhớ

em, anh nhớ lắm! em ơi

                                                                                 

(Tương tư chiều)

                                           

                                         Uống xong lại khát là tình

                                         Gặp rồi

lại nhớ là mình của ta

Rồi khoảnh khắc vội vàng, giục giã, được giao cảm chiếm lĩnh

và khao khát vươn tới cái vô biên, tuyệt đích:

                                         Mau lên chứ, vội

vàng lên với chứ

                                         Em, em

ơi, tình non sắp già rồi

                                                                                

 (Giục giã)

                                         Em vui đi, răng nở ánh

trăng rằm

                                         Anh

hút nhụy của mỗi giờ tình tự

Vì luôn khát khao vô biên, tuyệt đích, nên:

                                         Biển đắng không

nguôi nỗi khát thèm

                                         Nên lúc môi ta

kề miệng thắm,

                                         Trời

ơi, ta muốn uống hồn em

                                                                                 

(Vô biên)

Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất, là mùa xuân đầu:

                                         Xuân đã sẵn

trong lòng tôi lai láng

                                         Xuân

không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

                                         Xuân

là khi nắng rạng đến tình cờ,

                                         Chim

trên cành há mỏ hát ra thơ

                                         Xuân

là lúc gió về không định trước

                                                                                 

(Xuân không mùa)

                              

          Mặt trời vừa mới cưới trời

xanh

                                         Duyên

đẹp hôm nay sẽ tốt lành

                                         Son sẻ

trời như mười sáu tuổi

                                         Má hồng phơn phớt, mắt long lanh

                                                                                 

(Rạo rực)

Sau này, khi đã chiều tà bóng xế, tình yêu trong thơ ông vẫn

luôn nồng nàn:

                                         Tôi đã yêu từ

khi chưa có tuổi

                                         Lúc

chưa sinh, vơ vẩn giữa dòng đời

                                         Tôi sẽ

yêu khi đã hết tuổi rồi

                                          Không

xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng

                                                                                  (Đa

tình)

Cho đến lúc sắp giã biệt cuộc đời, nhà thơ vẫn khao khát:

                                         Hãy để cho tôi

được giã từ

                                         Vẫy chào

cõi thực để vào hư

                                         Trong

hơi thở chót dâng trời đất

                                         Cũng vẫn

si tình đến ngất ngư

           Thơ tình

Xuân Diệu thực sự là thơ tình, tình yêu của những người yêu. Trong “Thơ thơ” có

cái rạo rực thiết tha, nồng cháy, “Gửi hương cho gió” có cái da diết, đằm thắm

xen lẫn vị đắng cay. Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinh thần và tâm hồn

nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt và cũng rất trong sáng, lành mạnh.

Xuân Diệu yêu đời tha thiết và khao khát được đáp lại:

                                         Và hãy yêu tôi một

giờ cũng đủ

                                         Một

giây cũng cam, một chút cũng đành

          Nhưng do

không gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu, chân thật, nên hầu hết những bài thơ tình

của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim đắm say, nồng nhiệt mà không được đến

đáp xứng đáng và thường thấm đãm nỗi buồn cùng mặc cảm cô đơn. Có lúc sự thờ ơ,

hờ hững của người đời khiến trái tim thi sĩ không tránh khỏi sự tủi hổ:

                                         Lòng ta là một

cơn mưa lũ

                                         Đã gặp

lòng em là lá khoai

                                         Mưa biếc

tha hồ rơi giọt ngọc

                       

                 Lá xanh không ướt

đến da ngoài

                                                                                 

(Nước đổ lá khoai)

Thậm chí, “chết ở trong lòng một ít” bởi:

                                         Vì mấy khi yêu

mà chắc được yêu

                                         Cho rất

nhiều song chẳng nhận bao nhiêu

                                         Người

ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

                                                                                 

(Yêu)

Càng yêu, càng thấy “dại khờ”:

                                         Người ta khổ vì

thương không phải cách

                                         Yêu

sai duyên, và mến chẳng nhằm người

                                          Có

kho vàng, nhưng chẳng tặng tùy nơi

                                          Người

ta khổ vì xin không phải chỗ

Ta hiểu vì sao trong thế giơi nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa

xuân và bình minh đi liền với những chiều thu và những đêm trăng lạnh, sự nồng

nàn đi liền với cảm giác bơ vơ…

          Trong tình

yêu, Xuân Diệu đã đi đến tận cùng của sự thành thực: thành thực nói lên nỗi

khát tình dằng dặc của đời mình; thành thực can đảm nói lên những mặt trái của

tình yêu. Nếu như trong văn chương truyền thống, nguyên nhân của những mối

lương duyên trắc trở là do khách quan, thì Xuân Diệu thấy nguyên nhân sự phản bội

là ở phía chủ quan, đó chính là những góc khuất trong tâm hồn những đôi tình

nhân đang say sưa kia:

                                         Linh hồn ta còn

u uẩn hơn đêm,

                                         Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ

                                          Kiếm

mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió

                                          Anh

muốn vào dò xét giấc em mơ

                                          Nhưng

anh giấu em những mộng không ngờ

                                          Cũng

như em giấu những điều quá thực

                                                                                 

(Xa cách)

Khoảng cách về tâm hồn mới là điều đáng sợ nhất, bởi:

                                          Em là em, anh vẫn cứ

là anh

                                          Có thể

nào qua Vạn lý trường thành

                                          Của

hai vũ trụ chứa đầy bí mật

          Nhưng dù tình

yêu có được đền đáp hay không, trái tim yêu của Xuân Diệu vẫn nồng nàn say đắm,

vẫn khát khao gặp gỡ, tâm hồn vẫn “giăng rộng khắp không gian – Để đánh lưới những

duyên hờ mới mẻ”, bởi với thi sĩ của tình yêu, “Tình yêu không tuổi, và xuân

không ngày tháng”.

3.Quan niệm thẩm mỹ:

Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu đã

đem lại cho thơ một quan niệm thẩm mỹ hết sức mới mẻ, góp phần tạo nên một cuộc

cách mạng trong thi ca: cuộc đời trần thế là đẹp nhất, con người – đặc biệt là

người thiếu nữ – là tuyệt diệu nhất, là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên đời.

          Xuân Diệu chịu

ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng Pháp. Trường thơ này quan niệm vũ trụ là một

thế giới huyền bí mà mắt thường không nhìn thấy được, cái mà con người nhìn thấy

chỉ là dấu hiệu tượng trưng của bản thể ấy. Vì vậy, các nhà thơ theo trường

phái này không chủ trương miêu tả thế giới rõ rệt, hữu hình mà cố gắng miêu tả

những biến thái tinh vi, mong manh, huyền diệu của vũ trụ, lòng người. Trường

thơ tượng trưng đề xướng thuyết tương giao và coi trọng tính nhạc. Điều này dẫn

tới đặc điểm cơ bản của thơ Xuân Diệu: đấy là một thế giới tràn đầy xuân sắc,

xuân tình, mà chuẩn mực của cái đẹp là con người giữa tình yêu tuổi trẻ. Quan

điểm mĩ học mới mẻ này đã khiến thi sĩ sáng tạo được nhiều hình ảnh mới mẻ, độc

đáo, đẹp một cách khỏe khoắn đầy sức sống.

          Bài thơ “Vội

vàng” được coi là tuyên ngôn về quan niệm sống của Xuân Diệu, một triết lí nhân

sinh được thể hiện bằng hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Với Xuân Diệu, cuộc sống

trần thế đầy hấp dẫn, đó là một thiên đường trên mặt đất, một khu vườn tràn đầy

xuân sắc, một không gian tươi thắm tràn ngập lá nõn, hoa thơm, trái ngọt… mà

vạn vật ở độ lên hương rực rỡ nhất, đều say đắm xuân tình: ong bướm như trong

tuần tháng mật; hoa phải là hoa của đồng nội xanh rì; lá phải là lá của cành

tơ, chồi biếc; yến oanh rộn rã khúc tình si… Vì vậy, không việc gì phải tìm

kiếm thiên đường ở tận đâu, mà hãy yêu mến, gắn bó tận hưởng hết mình ngay

trong cuộc đời này.

          Từ quan niệm

coi con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp, nhà thơ nhìn trời đất, cỏ cây, hoa

lá, núi sông… đầy vẻ tình tứ:

                                         Hơi gió thở như

mặt người yêu mến

                                         Mây đa

tình như thi sĩ đời xưa

Thời tiết bốn mùa thì: “Xuân: người ta vì ấm mà cần tình,

Thu: người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi; Nắng hạ đốt người một cách cực

lạc và tiết đông khỏa vào da thịt làm dây cả máu xương”. Mùa xuân được thi sĩ

hình dung, liên tưởng như làn môi căng mọng của người thiếu nữ “Tháng giêng

ngon như một cặp môi gần” – một câu thơ hay vào loại hiếm thấy trong lịch sử

văn học dân tộc. Xuân Diệu đã khái quát lên thành toàn bộ thế giới xuân tình.

Nhìn phấn thông bay, thi sĩ như thấy ái tình tản mạn, ôm ấp không gian, hoa thì

không phân biệt được là hoa hay là những thiếu nữ đa tình. Biển thì như một người

tình say đắm, một trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi… Có thể nói, làm nên những

câu thơ đầy cảm xúc, cảm giác ấy, một phần quan trọng là nhờ cách dùng từ ngữ của

Xuân Diệu: độc đáo, táo bạo, có giá trị gợi cảm mạnh mẽ. Tuy nhiên, thơ Xuân Diệu,

về bản chất vẫn kế thừa phát huy cái nhạc điệu riêng, linh hồn riêng của thơ ca

truyền thống. Chính vì vậy, kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại,

kết tinh ở một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu

khám phá được những biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như của nội tâm con

người và thể hiện được trong những vần thơ “ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng

lại baoo nhiêu tinh hoa” (Thế Lữ).

4. Xuân Diệu rất ý thức về sự chảy trôi của thời gian:

          “Trong các

nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu là người có năng lực cảm nhận tinh tế bước đi của

thời gian. Có lẽ cũng do lòng yêu tuổi trẻ, muốn ngăn sự già nua tàn tạ, nên

nhà thơ luôn cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình” (Vũ

Quần Phương). Với Xuân Diệu, thời gian trở thành “nỗi ám ảnh”, thành “kẻ thù

đáng gờm”, là “đại lượng tiêu cực, thù địch với hạnh phúc và tuổi xuân”. Xuân

Diệu quan niệm thời gian mang trong lòng nó sự trôi chảy mà mỗi khoảnh khắc qua

đi là mất đi vĩnh viễn:

                                         Xuân

đang tới, nghĩa là xuân đang qua

                                          Xuân

còn non, nghĩa là xuân sẽ già

                                                                                 

(Vội vàng)

Đây là một quan niệm hết sức mới mẻ, tiến bộ về thời gian –

thời gian tuyến tính. Thời trung đại, với quan niệm thời gian tuần hoàn với chu

kì bốn mùa, nên con người rất ung dung, bình thản trước thời gian:                             

                                         Sen tàn, cúc lại

nở hoa

                                 Sầu dài, ngày

ngắn, đông đà sang xuân

                                                                  

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thời gian trung đại tính theo chiều vĩ mô: ngàn đời, vạn năm,

thiên thu… nên chết chưa phải là hết, còn có kiếp sau. Còn ở thời hiện đại,

người ta không yên tâm với điều đó. Đời người hữu hạn, ngắn ngủi vô cùng, cho

nên con người không thể thờ ơ với cuộc sống, không nên lãng phí thời gian, phải

sống năng suất hơn gấp nhiều lần trong cùng một thời gian được sống, hãy tìm

cách đốt cuộc đời mình lên để nói trôi qua thì không phải luyến tiếc. Cho nên,

ta bắt gặp những khoảnh khắc thi sĩ “cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động

với chính mình”:

                                        – Tình

thổi gió, màu yêu lên phấp phới

                                          Nhưng

đôi ngày, tình mới đã thành xưa

                                       …Tình

yêu đến, tình yêu đi, ai biết

                                          Trong gặp gỡ đã có

mầm li biệt

                                                                                 

(Giục giã)

                                        – Sự thật

ngày nay, không thật đến ngày mai

                                                                                  (Phải

nói)

                                        – Cái

trôi không đợi cái bay

                                          Từ

tôi phút ấy, sang tôi phút này.

Ý thức về sự trôi chảy của thời gian cũng là cách không chấp

nhận cuộc sống mù tối, vô danh vô nghĩa, tẻ nhạt, và cội nguồn sâu xa của nó

chính là niềm khát khao giao cảm với đời.

          Vô cùng nhạy

cảm trước sự đổi thay “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác” của cuộc đời, Xuân Diệu luôn

nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời gian

quá ngắn ngủi của kiếp người. Càng tha thiết với cuộc đời, ông càng nhìn thấy

thời gian trôi với nhịp độ chóng mặt: “rồi đi”, “cứ thế mà bay” những ngày những

tháng.

                                         Thong thả chiều vàng thong

thả lại

                                          Rồi

đi…đêm xám tới dần dần

                                          Cứ thế

mà bay cho đến hết

                                          Những

ngày, những tháng, những mùa xuân

                                                                                 

(Giờ tàn)        

Chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân

Diệu, bởi ông ý thức được rằng thời gian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang

chờ đón. Do vậy, cảm nhận về sự vận động của thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất

phát từ ý thức về sự mất mát. Cùng với ngày tháng trôi qua, Xuân Diệu chỉ nhìn

thấy sự vật đang bị bào mòn, tàn tạ:

                                         Hoa nở để mà tàn

                                         Trăng tròn để

mà khuyết

                                         Bèo hợp

để chia tan

                                         Người

gần để li biệt

                                         Hoa

kia không nắng cũng phai màu

                                         Trên mặt

người kia in nỗi đau

                                                                                 

(Hoa nở để mà tàn)

Đằng sau một loạt những “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ”,

“gấp đi em”… ta hình dung ra điệu bộ cuống cuồng của thi nhân cùng nỗi ám ảnh

lo sợ: muộn màng, không kịp, lỡ làng, lỡ thì… Nhưng vốn là người ham sống, Xuân

Diệu không cam lòng chịu để cho ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, vô vị, ông

tìm cách chống đỡ, ngăn cản không cho thời gian cướp đi những lạc thú của tuổi

trẻ, tình yêu.

          Có thể nói rằng,

với Xuân Diệu, thời gian là một chất xúc tác đặc biệt tạo nên những luồng rung

động đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc thi sĩ viết nên những câu thơ

vừa có sức khái quát, vừa sinh động gợi cảm.

5. Xuân Diệu là nhà thơ rất có ý thức khẳng định cái “tôi” cá nhân.

          Thơ ca muôn đời

vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước con người và tạo vật. Song

nếu như trong thơ ca trung đại, quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo”

đã lấn át cái bản ngã thì Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳng định cái “tôi”

cá nhân. “Ngày thứ nhất, ai biết đích ngày nào, chữ “tôi” xuất hiện trong thi

đàn Việt Nam.

Nó thực sự bỡ ngỡ như lạc long nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm

chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh).

          Xuân Diệu là

một nhà Thơ mới tiêu biểu nhất, vì thế rất có ý thức khẳng định cái “tôi” của

mình. Không phải ngẫu nhiên ông được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư

tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới. Với Xuân Diệu, cái “tôi” cá nhân được ý

thức sâu sắc khi lần đầu tiên trên thi đàn, cái “tôi” tiểu tư sản mạnh dạn bày

tỏ những tâm tư thầm kín, những xúc cảm yêu đương tuôn trào, những khát vọng được

hưởng thụ không dứt, không nguôi hoa thơm trái ngọt của cuộc đời trần thế. Vì

thế, Xuân Diệu không chỉ hoàn toàn mới lạ so với các thế hệ trước mà còn mới lạ

so với các nhà thơ cùng thời. Chỉ có Xuân Diệu mới có đủ độ nồng nàn say đắm nhất

của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, với một cách cảm nghĩ nói năng rất phương

Tây và một triết lí hưởng thụ cũng rất phương Tây:

                                         Hái một mùa hoa

lá thuở măng tơ

                                         Đốt

muôn nến sánh mặt trời chói lọi

                                         Thà một phút huy hoàng

rồi chợt tắt

                                         Còn

hơn buồn le lói suốt trăm năm

                                                                                 

(Giục giã) 

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với

Xuân Diệu, sự tồn tại của cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của

nó. Thơ ông tràn ngập chữ “tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ

khác nhau. Nó có thể là sự phô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ, nhiều khi

nhỏ bé, yếu đuối:

                                         Tôi chỉ là một

cây kim bé nhỏ

                                         Mà vạn

vật là muôn đá nam châm

                                                                          

       (Cảm xúc)                                     

                                         Tôi là con chim

đến từ núi lạ

                                                                        

(Lời thơ vào tập “Gửi hương”)

                                         Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

                                         Không

biết đi đâu đứng sầu bóng tối

                                                  

                               (Khi

chiều giăng lưới)

                                         Tôi là kẻ qua sa mạc

Nhưng cũng có lúc cái “tôi” ấy trở nên mạnh mẽ, quyết

liệt:

                                         Tôi là

một kẻ điên cuồng

                                         Yêu những

ái tình ngây dại

                          

                                                       (Thở

than)            

                                         Tôi kẻ đưa răng

bấu mặt trời

                                                                                 

(Hư vô)

          Cũng có thể

là sự bộc lộ đến tận cùng khát vọng khi thi nhân xoáy vào bên trong chiều sâu

tâm hồn mình. Đằng sau cái “tôi” trữ tình đứng ở ngôi thứ nhất là một hệ thống

những động từ chỉ hành động và tư thế cảm xúc rất Xuân Diệu : Đó là ý thức

chiếm lĩnh hương sắc cuộc đời (nắng, gió, không chờ nắng hạ mới hoài xuân…), hoặc

lúc không còn tự chủ được nữa: “Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn”, “tôi run như

lá, tái như đông”. Rồi tôi nhớ; tôi buồn; tôi đã yêu; tôi sung sướng; tôi sẽ chết…

Tuy nhiên, khẳng định cái “tôi” tích cực, cái “tôi” thấm đẫm màu sắc cá thể

trong thơ Xuân Diệu không chỉ căn cứ vào tần số xuất hiện của chữ “tôi” hoặc

vào sự đề cao quá đáng của bản ngã cá nhân thành đỉnh Hi Mã Lạp Sơn ngất ngưởng,

mà cơ sở chính của nó là sự thành thật của xúc cảm. Thơ Xuân Diệu là niềm khát

sống, khát yêu đến cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách vồ vập

“cái li tràn đầy sự sống”. Trong thơ Xuân Diệu, toát lên một nhu cầu mãnh liệt:

được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi”

khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải, luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm

hồn khao khát tìm gặp những tâm hồn. Với Xuân Diệu, dù vui hay buồn, sung sướng

hay đau khổ, hi vọng hay thất vọng… nghĩa là tất cả những rung động tinh vi của

đời sống tâm hồn đều được Xuân Diệu thành thật bày tỏ. Sự chân thực của tình cảm

là một phẩm chất tiêu biểu của thơ trữ tình nói chung, đến trào lưu Thơ mới được

chú trọng khai thác và mở thêm nhiều ngóc ngách, phức tạp, tinh vi hơn để làm

phong phú thêm khả năng tự biểu hiện và sức mạnh hướng nội của thơ. Dù ở phương

diện nào, ta đều thấy ở hồn thơ Xuân Diệu những phẩm chất nổi bật tiêu biểu cho

khát vọng được khẳng định cái “tôi” như một tâm điểm nghệ thuật của thơ lãng mạn

1932-1945.

III. Kết luận:

          Sinh thời,

Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằng tâm hồn của một

nhà thơ thiết tha yêu sự sống. Sự nghiệp mà ông để lại là một di sản thơ vô giá

mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậy niềm vui, nỗi

buồn và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay. Ở giai đoạn trước Cách mạng

tháng Tám, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của trào lưu thơ ca

lãng mạn; là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơ mới. Ông đã mang đến cho thi

đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, một luồng rung động mới mẻ trước

tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàu bản sắc. Ông cũng

là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ Việt Nam và làm phong phú thêm hình thức

thơ bằng những hình ảnh độc đáo và những nét nhạc điệu tân kì. Có thể nói, sự cộng

hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy

mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sức mạnh cảm hóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu

trước Cách mạng Tháng Tám.

          Với nửa thế kỉ

hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độc giả và nhất là những

người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ. Con đường đi của

Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cách mạng là con đường tiêu

biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945. Ở cả hai chặng đường ấy, Xuân Diệu đều có những

cống hiến hết sức to lớn. Vị trí của ông trên văn đàn dân tộc là một vị trí

không ai có thể thay thế được. Cùng với khát vọng sống thiết tha sôi nổi, thơ

Xuân Diệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

     

                                       

       

                            

                  

                                         

                                        

 

                                         

                                        

 

Họ tên

Tiêu đề

Nội dung

Mã kiểm tra

Tin khác

CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ

Chuyên đề: Rèn luyện nâng cao kĩ năng kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi (Nguyễn Thị Hạnh)

Rèn kĩ năng lựa chọn ngữ liệu phân tích trong kiểu bài lí luận văn học không giới hạn ngữ liệu chứng minh cho học sinh chuyên văn (Lê Thị La)

Kiểu nhân vật tự ý thức trong trang văn của Nam Cao và Nguyễn Minh Châu (Lê Thị La)

Tiếng nói tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du), Kính gửi cụ Nguyễn Du (Tố Hữu) và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) – Bùi Thị Phương Thúy –

Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học sinh (Bùi thị Phương Thúy)

Chuyên đề: Kĩ năng bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài lí luận văn học (Nguyễn Thị Hạnh)

Văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 với hai tác giả tiêu biểu trong chương trình THPT: Thạch Lam và Nguyễn Tuân (Nguyễn Thị Vân)

Đặc sắc truyện ngắn Nam Cao qua tác phẩm Chí Phèo (Trương Văn Quỳnh)

Văn học hiện thực 1930 – 1945 (Trương Văn Quỳnh)

1

 2 3 4 5 

Lời Kỹ Nữ – Bài Thơ Hấp Dẫn Nhất Của Nhà Thơ Xuân Diệu

Tập Thơ Tình Lãng Mạng Dại Khờ

Xuân Diệu: Thơ Tình Hay Vì Yêu Thật, Sống Thật

Đề Tài Nỗi Ám Ảnh Về Thời Gian Trong Thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu – Nỗi Ám Ảnh Thời Gian

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2744 / Xu hướng 2834 / Tổng 2924 thumb
🌟 Home
🌟 Top