Xu Hướng 2/2024 # Con Kiến Mà Kiện Củ Khoai # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Con Kiến Mà Kiện Củ Khoai được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bảo Dân (NLM số 276)

Cái Kiến, cô con gái phú ông có giấu củ khoai bằng vàng cho bạn tình làm sính lễ. Không ngờ hôm dẫn dâu, củ khoai bằng vàng bị đánh tráo thành một củ khoai luộc thực sự. Sau hai người cùng chết xuống âm phủ và cái Kiến đã kiện với Diêm Vuơng vụ củ khoai này khiến Diêm Vương cũng bó tay luôn. Vì thế mới có câu: “Cái Kiến mày kiện củ khoai”, nghĩa là kiện tụng vô vọng. Cho đến bây giờ, cái Kiến lại đứng về phe số đông – người dân và củ khoai là quan chức nên muốn kiện quan là khó thắng lắm!

Thế nhưng, trời đất thay đổi và đã có chuyện con kiến thắng kiện củ khoai.

Một nông dân ở Cần Thơ thắng kiện ông chủ tịch tỉnh và được đền bù tiền thu hồi hơn hai công đất bị  xếp thành đất công, bất chấp việc ông già này đã sử dụng đất từ khi chưa giải phóng.

Một tiểu chủ ở Tây Nguyên thắng kiện ông chủ tịch tỉnh Phú Yên việc thu giữ chiếc xe chở hàng của bà. Tài xế tham tiền, chở gỗ lậu bị phạt là đúng nhưng thu giữ xe là sai. Việc Cảnh sát Môi trường tỉnh Hải Dương phải đền bù đến 650 triệu đồng cho ngư dân huyện Cần Giờ TP HCM khi để 2 tấn bạch tuộc bị hư hỏng, được cho là tín hiệu đáng mừng vì trong các vụ này, việc cá nhân chịu trách nhiệm rất khó xác định. Sự cầu thị của Công an Hải Dương được dư luận ghi nhận, song nếu như Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang không yêu cầu cơ quan này báo cáo, liệu họ có thực tâm muốn sửa sai? Bởi trước khi có ý kiến của Bộ trưởng Trần Đại Quang, chính Cảnh sát Môi trường Hải Dương đã khẳng định, họ không có trách nhiệm bồi thường.

Việc lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn vội vàng đem tiêu hủy hơn 4 tấn cá tầm trong khi chưa có lời giải thích thỏa đáng đối với chủ hàng, khiến người ta liên tưởng tới câu chuyện lô hàng bạch tuộc bị Công an Hải Dương bắt giữ. Việc lái xe đã xuất trình đầy đủ giấy tờ chứng minh mà lực lượng quản lý thị trường vẫn khăng khăng cho rằng lô hàng không có nguồn gốc xuất xứ, khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi về sự công tâm, khách quan trong quá trình thực thi công vụ của những cán bộ trực tiếp xử lý vụ việc.

Hậu quả là 4 tấn cá tầm, thành quả lao động có được từ biết bao mồ hôi, nước mắt của những người nông dân, là khối tài sản khổng lồ của những người buôn bán đã bị đổ xuống sông xuống biển chỉ trong phút chốc.

Trong sự việc này, liệu Quản lý thị trường Lạng Sơn có thực tâm muốn sửa sai, hay sẽ “đợi” Bộ trưởng Bộ Công Thương có công văn yêu cầu báo cáo quá trình giải quyết, giống như vụ việc xảy ra tại Hải Dương?

Công dân đóng thuế để trả lương cho những người làm việc trong các cơ quan công quyền của Nhà nước, nên nhân dân cũng có quyền đòi hỏi những người này phải chịu trách nhiệm nếu làm sai, gây ra hậu quả trong quá trình thực thi công vụ. Trong một xã hội tiến bộ mà việc sửa sai của những người thừa hành luật pháp cố ý làm sai, gây thiệt hại cho người dân lại được coi là hy hữu, lại được ví von kiểu “con kiến” thắng kiện “củ khoai”. Đó là điều không bao giờ nhân dân có thể chấp nhận.

Bởi lâu nay, cơ quan công quyền thừa hành pháp luật, còn người dân là đối tượng để cơ quan công quyền điều chỉnh, kiểm tra, giám sát, xử lý nếu vi phạm. Vì thế, khi người dân thắng kiện cơ quan công quyền chứng tỏ pháp luật đã không phân biệt ai, pháp luật đã được thực thi hiệu quả. Và là tín hiệu đáng mừng.

Cơ quan công quyền có thể sai. Vấn đề là người thực thi pháp luật có dám thừa nhận nó không. Vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn đang có những diễn biến rất lạ khi tất cả cán bộ từ điều tra viên đến thủ trưởng cơ quan điều tra đều phủ nhận tội ép cung, sử dụng nhục hình để buộc ông Chấn – vốn là người thiện phải nhận mình là kẻ giết người để chịu án oan 10 năm tù, trong khi các điều tra viên đều lên lương, lên chức. Bây giờ họ “chúng khẩu đồng từ” chối hết, chối sạch, kể cả ông Chấn đâm đơn kiện họ thì vẫn là kiện củ khoai à?

Hồi đầu tháng 10 vừa qua, ông Nguyễn Văn Lang (ngụ ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM) – người đầu tiên ở TP HCM khởi kiện “lô cốt” gây thiệt hại đến nhà cửa và việc kinh doanh của gia đình, cũng đành buông sau gần chục năm theo đuổi vụ kiện, “số tiền tôi được bồi thường chưa đủ so với số tiền tôi chi phí cho vụ kiện”.

Đấy là chưa kể, đòi bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần xem ra cũng chẳng mấy thuyết phục. Mưa lũ là tại ông trời, thủy điện cũng phải gồng mình lo lắng, có được yên ổn phút nào đâu. Bao nhiêu sự cố xảy ra với thủy điện rồi còn gì. Lỗi trước nhất phải tại ông trời gây bão gây mưa, ai thích đi kiện trời như ông cóc ngày xưa, xem có hy vọng được gì không rồi hẵng quay xuống thủy điện nói chuyện. Thiệt hại tinh thần thì khỏi nói rồi, đành rằng người dân hoang mang sợ hãi, nhưng cái đó quý vị định đo kiểu gì đây? Chẳng lẽ cả làng ký tên vào đơn kiện chỉ với lý lẽ rằng tôi sợ. Chưa kiện đã biết là thua, thôi thì im lặng là vàng, hủy ngay quyết định đi kẻo hối không kịp.

Hay những vụ việc như người tiêu dùng bức xúc với giá xăng dầu trong nước không theo giá thế giới, hay việc Quỹ Bảo trì đường bộ dùng sai mục đích khi quyết không chi một đồng tiền nào cho những người bị tai nạn do đường xấu, nhưng sẵn sàng chi hàng tỉ đồng để hỗ trợ thất nghiệp… có lẽ cũng nên từ bỏ ý định càng sớm càng tốt. Rồi vẫn là “con kiến mà kiện củ khoai” thôi, thời gian đó đi uống cà phê như mấy vị công chức cắp ô còn bổ dưỡng cho tinh thần.

Có câu “đừng thấy đỏ mà tưởng chín”. Đúng là ở nơi này, nơi nọ đã có vụ việc dân kiện quan và thắng kiện. Tuy nhiên, ngay các vị đại biểu Quốc hội đang họp ở Hà Nội, đã thừa nhận là rất cần có các vụ xử quan chức theo đơn kiện của dân, nhưng khó đây.

Trước hết, trong tâm lý quan trường, việc này tập thể đã bàn và đã quyết. Cá nhân chủ tịch là người ký văn bản, nay sai lại chỉ một mình tôi bị kiện là không công bằng. Vì vậy, rất nhiều trường hợp, các chánh, phó văn phòng hoặc giám đốc sở là người “đóng thế”. Ở cấp huyện cũng có tình trạng tương tự. Mới đây lại có việc bỏ phiếu tín nhiệm lãnh đạo. Chủ tịch bị kiện lại còn thua kiện, tất sẽ mất phiếu.

Không ít trường hợp lãnh đạo địa phương nói thẳng ra, nếu thua kiện tôi sẽ từ chức. Đại biểu Quốc hội Lê Thị Nga đã không ngần ngại nói về chuyện tế nhị, góc khuất trong công tác cán bộ bởi cấp ủy địa phương được tham khảo ý kiến về bổ nhiệm thẩm phán khiến các quan tòa cũng run tay trong phán quyết, bác bỏ văn bản trái luật của Phó bí thư – Chủ tịch UBND tỉnh. Vướng mắc về tổ chức này không thể khắc phục ngay nếu không có thay đổi căn bản về tổ chức tòa án địa phương. Vấn đề bây giờ, nếu  khiếu kiện đúng thì pháp quan cũng phải xử, dù là khoai luộc hay khoai vàng mười!

B.D

Nguồn Gốc Câu Thành Ngữ: “Con Kiến Mà Kiện Củ Khoai”

Thực ra, câu thành ngữ này xuất phát từ một tích truyện thấm đẫm ý nghĩa nhân sinh có tên là “Cái Kiến mày kiện củ khoai”.

Ngày xưa, có một anh chàng sinh trưởng trong một gia đình giàu có, nhà anh ta có ao thả cá, có nhiều ruộng vườn, trâu bò. Ở làng bên có một cô gái nết na, xinh đẹp nhưng nghèo khổ, hàng ngày nàng phải làm thuê làm mướn kiếm ăn. Anh chàng nhà giàu kia ngây ngất vì nhan sắc của cô gái, ao ước được cùng nàng kết bạn trăm năm. Sau đó, nhờ có một người đàn bà làm mối, anh ta được gặp nàng nhiều lần và thề non hẹn bể quyết lấy nàng làm vợ.

Nhưng mụ đàn bà mối lái vốn là người chỉ biết có đồng tiền. Được tiền của anh nhà giàu cho, mụ vẫn chưa thỏa mãn. Đối với cô gái nhà nghèo, mụ không “xơ múi” được gì. Bấy giờ, ở gần vùng đó có một cô gái nhà giàu ế chồng. Mụ bèn tìm tới tỉ tê với cô nọ bảo nếu cho mình nhiều tiền, mình sẽ đánh tiếng cho anh chàng nhà giàu kia. Cô gái nọ nghe nói mừng lắm, đút tiền cho mối để mụ ta liệu bề tác thành cho mình.

Từ đó, mụ mối luôn buông lời gièm pha cô gái nhà nghèo: “Con này thế mà không được đoan chính. Đã nhiều lần tôi bắt gặp nó tằng tịu với Đồ Vân. Đồ Vân học giỏi nay mai sẽ đỗ đạt…”

Thế rồi mụ ta nhen nhóm thêm lòng ghen tuông và tức giận của anh chàng nhà giàu, đồng thời nói tốt cho cô gái mà mụ bòn rút lần hồi khi năm quan, khi ba quan không biết mỏi. Mưu kế của mụ có hiệu quả; anh chàng kia từ ghen tức đến chán ghét người tình cũ. Cuối cùng, anh chàng cho người đưa trầu cau dạm hỏi cô gái nhà giàu kia làm vợ.

Ngày cưới hai bên, cô gái nhà nghèo nọ bị tình phụ, lòng đau như cắt. Trong một phút tủi phận hờn duyên, nàng nhảy xuống sông tự tử. Cái chết của nàng khiến cho cặp vợ chồng mới trở nên hối hận và lo sợ. Nhất là mụ mối, nghe tin này như sét đánh ngang tai.

Khi tất cả mấy người đó lần lượt chết xuống âm phủ, Diêm Vương căn cứ vào nỗi oan uổng cũng như tội trạng của từng người mà cho họ đền “nợ” hay báo “oán” một cách xứng đáng. Mụ mối được thác sinh làm con gái một nhà phú ông, anh chàng phụ tình thì đầu thai làm một người học trò không đất cắm dùi. Còn cô gái nhà nghèo bạc mệnh được ở lại cõi âm để theo dõi chúng mà báo thù.

Cái Kiến, cô con gái phú ông rất đẹp và thông minh. Nhưng cha của nàng thì chỉ biết có tiền tài và danh vọng, còn ngoài ra ông chả coi ai ra gì. Chàng thư sinh rất khôi ngô, học giỏi, văn hay, nhưng nghèo rớt mồng tơi. Văn tài của chàng nổi tiếng khắp kinh kỳ, thế mà cứ hễ vào trường nhất hay giỏi lắm vào đến trường nhì là bị loại ra ngay. Không làm cho đau bụng thì cũng bắt phạm “trường quy”, oan hồn của người bạc mệnh quyết không cho hắn đỗ. Thế nhưng, chàng vẫn lọt vào mắt xanh của cô Kiến.

Cô con gái phú ông vẫn tin tưởng rằng người học trò đó sẽ làm nên. Nàng ao ước sẽ được sánh duyên cùng chàng mới phỉ dạ. Hai người đã gặp nhau và thề bồi với nhau quyết giữ một lòng son sắt. Khi nghĩ đến cha mình, nàng Kiến rất buồn vì biết ông khó tính: “Không đời nào ông ấy lại gả con gái cho một người nghèo xơ nghèo xác”. Nghĩ thế, nàng lập mưu ăn trộm tiền bạc của cha, mua vàng đúc thành một hình củ khoai. Không gặp nhau được, nàng nhắn người yêu giả làm người ăn xin đến nhà mình xin khoai, nàng sẽ tận tay trao cho món ấy để dùng làm sính lễ.

Anh chàng y hẹn đã cải trang, mang bị gậy đến nhà phú ông xin ăn. Cô con gái mang khoai ra cho, trong đó có giấu củ khoai bằng vàng.

Rồi sau đó, người mối của anh chàng xin “dạm ngõ” cái Kiến. Phú ông nghe nói sính lễ là một củ khoai bằng vàng mười thì ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng nhận lời.

Đến ngày cưới, khi họ nhà trai bưng sính lễ đến, họ nhà gái đổ xô ra xem xem chàng rể của phú ông giàu có ngầm như thế nào. Củ khoai vàng được gói ba bốn tầng vải hồng điều. Không ngờ khi mở ra xem thì chả thấy vàng đâu cả mà chỉ là… một củ khoai lang luộc. Oan hồn cô gái nhà nghèo cố ý làm ra như vậy cho bõ ghét. Cả hai họ bật cười. Phú ông tức giận chửi mắng om sòm. Rồi để chế nhạo, ông cắt khoai biếu mỗi người một miếng.

Chàng học trò không ngờ có sự lạ lùng ấy, vừa buồn rầu vừa xấu hổ đi luôn một mạch không trở về nhà nữa. Còn cái Kiến tưởng người yêu là một tay đại bợm: đã lấy mất vàng lại bày ra trò giễu cợt đó nên tức tối thành bệnh mà chết.

Lúc xuống âm phủ lần này, nàng kiện với Diêm vương về việc củ khoai vàng, nhưng Diêm Vương đã giở sổ vạch cho nàng biết những tội kiếp trước. Vì thế mới có câu:

“Cái Kiến mày kiện củ khoai”

Ý nói về những việc kiện tụng vô ích.

Cái Kiến Mày Kiện Củ Khoai

Sau đó nhờ có một người đàn bà làm mối, hắn được gặp nàng nhiều lần và chỉ non thề bể quyết lấy nàng làm vợ. Nghe hắn nói thế, cô gái vô cùng sung sướng và hiến thân cho hắn không tiếc gì nữa. Nhưng người đàn bà mối lái vốn là người chỉ biết có đồng tiền. Được tiền của anh nhà giàu cho, mụ vẫn chưa thỏa mãn. Đối với cô gái nghèo, mụ không “xơ múi” gì. Bấy giờ ở gần vùng đó có một cô gái nhà giàu ế chồng. Mụ bèn tìm tới tỉ tê với cô nọ bảo nếu cho mình nhiều tiền, mình sẽ đánh tiếng cho anh chàng nhà giàu kia. Cô gái nọ nghe nói mừng lắm, đút tiền cho mối để mụ ta liệu bề tác thành cho mình. Từ đó mụ mối luôn luôn buông lời gièm pha cô gái nhà nghèo. “Con này -mụ nói -thế mà không được đoan chính. Đã nhiều lần tôi bắt gặp nó tằng tịu với Đồ Vân. Đồ Vân học giỏi nay mai sẽ đỗ đạt…”.

Thế rồi mụ ta nhen nhóm thêm lòng ghen tuông và tức giận của anh chàng, đồng thời nói tốt cho cô con gái mà mụ bòn lần hồi khi năm quan, khi ba quan không biết mỏi. Và mưu kế của mụ có hiệu quả: anh chàng kia từ ghen tức đến chán ghét người tình cũ. Cuối cùng anh chàng cho người đưa trầu cau dạm hỏi cô gái nhà giàu kia làm vợ. Ngày cưới của hai bên, cô gái nhà nghèo nọ bị tình phụ, lòng đau như cắt. Trong một phút tủi phận hờn duyên, nàng nhảy xuống sông tự tử. Cái chết của nàng đã làm cho cặp vợ chồng mới trở nên hối hận và lo sợ. Nhất là mụ mối thì như sét đánh ngang tai.

* * *

Khi tất cả mấy người đó lần lượt chết xuống âm phủ, đã đọc hồ sơ, hiểu rõ nỗi oan uổng cũng như tội trạng của từng người và bắt họ phải trở lại dương thế để đền “nợ” hay báo “oán” của chính mình một cách xứng đáng. Mụ mối được thác sinh vào nhà một phú ông, anh chàng phụ tình lại thác sinh làm một người học trò nhưng không đất cắm dùi. Còn người bạc mệnh thì được ở lại cõi âm để theo dõi chúng mà báo thù. Cái Kiến, cô con gái phú ông rất đẹp và thông minh. Nhưng cha của nàng thì tính khí biển lận, ông ta chỉ biết có tiền tài và danh vọng, còn ngoài ra ông chả coi ai ra gì. Chàng thư sinh rất khôi ngô, học giỏi, văn hay, nhưng nghèo rớt mồng tơi. Chàng đã từng vác lều chiếu đi thi. Văn tài của chàng nổi tiếng khắp kinh kỳ, thế mà cứ hễ vào trường nhất hay giỏi lắm vào đến trường nhì là bị loại ra ngay. Không làm cho đau bụng thì cũng bắt phạm “trường quy”, oan hồn của người bạc mệnh quyết không cho hắn đỗ. Mỗi lần không đỗ là một lần sự buồn bực kèm thêm với sự khốn khó dằn vặt anh chàng. Thế nhưng chàng vẫn lọt vào mắt xanh của cô Kiến. Cô gái phú ông vẫn tin tưởng rằng người học trò đó sẽ làm nên. Nàng ao ước sẽ được sánh duyên với chàng mới phỉ dạ. Hai người đã gặp nhau và thề bồi với nhau quyết giữ một lòng son sắt. Khi nghĩ đến cha mình, cô gái phú ông rất buồn vì biết ông khó tính. “Không đời nào ông ấy lại gả con gái cho một người nghèo xơ nghèo xác”.

Nghĩ thế, nàng lập mưu ăn trộm tiền bạc của cha, mua vàng đúc thành một khối hình củ khoai. Không gặp nhau được, nàng nhắn người yêu giả làm người ăn xin đến nhà mình xin khoai, nàng sẽ tận tay trao cho món ấy để dùng làm sính lễ. Anh chàng y hẹn đã cải trang, mang bị gậy đến nhà phú ông xin ăn. Cô con gái mang khoai ra cho, trong đó có giấu củ khoai bằng vàng. Rồi đó, người mối của anh chàng xin chạm ngõ cái Kiến. Phú ông nghe nói sính lễ là một củ khoai bằng vàng mười thì ngạc nhiên. Nhưng rồi ông cũng nhận lời. Đến ngày cưới, khi họ nhà trai bưng sính lễ đến, họ nhà gái đổ xô ra xem để biết chàng rể của phú ông giàu có ngầm như thế nào. Củ khoai vàng được gói ba bốn tầng vải hồng điều. Không ngờ khi mở ra xem thì chả thấy vàng đâu cả mà chỉ là một củ khoai lang luộc thực sự. Oan hồn cô gái cố ý làm ra như vậy cho bõ ghét. Cả hai họ bật cười. Phú ông tức giận chửi mắng om sòm. Rồi để chế nhạo, ông cắt khoai biếu mỗi người một miếng. Chàng học trò không ngờ có sự lạ lùng ấy, vừa buồn rầu vừa xấu hổ đi luôn một mạch không trở về nhà nữa. Còn cái Kiến tưởng người yêu là một tay đại bợm: đã lấy mất vàng lại bày ra trò giễu cợt đó nên tức tối thành bệnh mà chết. Lúc xuống âm phủ lần này, nàng kiện với Diêm vương về việc củ khoai vàng, nhưng đã giở sổ vạch cho hắn biết những tội lỗi kiếp trước.

Tả Cơn Mưa Mùa Hạ Mà Em Đã Từng Chứng Kiến

Đề bài: Em hãy viết một bài văn tả cơn mưa mùa hạ mà em đã từng chứng kiến.

Mưa mùa hạ mới thật đặc biệt làm sao. Chúng luôn báo hiệu trước cho con người rằng chúng chuẩn bị ghé qua bằng cách cử một đoàn quân mây mặc áo đen tới. Hôm nay cũng vậy, mây đen đã kéo đến đây được một lúc rồi, bầu trời cũng đã trở nên ảm đạm hơn. Chắc chỉ một chốc nữa thôi là mưa sẽ ào ào rơi xuống.

Đúng như dự báo, những hạt mưa đầu tiên đã rơi xuống mặt đất. Đầu tiên, chúng rơi xuống một cách thưa thớt. Sau đó, chúng nối đuôi nhau rơi không ngừng. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Ngồi ở cửa sổ trước nhà, em có thể nghe thấy rõ tiếng mưa, nhìn thấy rõ những hạt mưa. Chúng mới đẹp và long lanh làm sao. Khi em đưa tay ra với những hạt mưa, chúng rơi xuống tay em rồi lại bắn đi đâu mất. Em nhìn thấy mưa nhưng lại chẳng thể nào nắm bắt được chúng. Điều ấy càng khiến em thấy thích thú với cơn mưa rào mùa hạ hơn.

Mưa xuống cũng là lúc mà cây cối reo lên vì vui sướng. Chúng nghiêng mình bên này rồi lại nghiêng mình bên kia như mời gọi những hạt mưa. Một vài chiếc lá cây già cỗi đã buông mình theo mưa và rơi xuống mặt đất. Cơn mưa rào dường như muốn cuốn phăng đi mọi thứ cũ kĩ, chúng gột rửa mọi bụi bẩn trên đường. Để sau khi mưa kết thúc, không gian sẽ trở nên thoáng đãng và sạch sẽ hơn.

Cuối cùng thì những hạt mưa cũng bắt đầu thưa thớt dần. Khi mưa tạnh, trả lại cho không gian một bầu trời quang đãng. Em rất yêu những cơn mưa rào mùa hạ bởi nhờ có chúng mà tiết trời mùa hạ trở nên dễ chịu hơn.

Mùa hạ trong tâm trí của em lúc nào cũng lung linh và thơ mộng. Mùa hạ có màu vàng chói chang của ánh nắng mặt trời, có màu đỏ rực rỡ của những bông hoa phượng và có cả cái u ám của những ngày mưa. Chao ôi! Em mới yêu mến những cơn mưa mùa hạ biết bao nhiêu.

Giữa những ngày nắng hạ oi bức, dường như ai ai cũng đều cảm thấy mệt mỏi. Bác nông dân mướt mồ hôi giữa cái nắng trưa hè. Chiếc quạt máy phải làm việc hết công suất mà cũng chẳng đủ làm dịu đi cái nóng. Đến cả những cành cây cũng chẳng buồn đung đưa. Tất cả đều đang mong đợi một cơn mưa xuống đây để xua tan đi mọi thứ ngột ngạt và nóng bức này. Cuối cùng thì điều mà mọi người mong đợi cũng đến, mây đen đã từ đâu kéo về như một đoàn quân đầy dũng mãnh.

Kể từ lúc mây đen kéo đến mặt đất dường như thay đổi hẳn. Những gương mặt trước đó còn tỏ ra mệt mỏi nay đã tươi vui hơn. Gió ở đâu cũng kéo về làm cho lá cây rung chuyển. Chúng cuốn tung những chiếc lá khô lên trời rồi lại từ từ thả chúng rơi xuống đất. Chỉ sau đó ít phút, một trận mưa như trút nước đã đổ xuống nơi đây. Tiếng mưa rơi ào ào phá vỡ đi không gian yên tĩnh của buổi trưa hè. Ngoài đường phố cảnh vật trở nên vắng vẻ hơn.

Những cơn mưa mùa hạ đến nhanh rồi đi cũng rất nhanh nhưng chừng đó cũng là đủ để xua đi cái nóng. Ai nấy đều cảm thấy vui tươi hơn sau hơn mưa. Đó chính là điều mà em thấy thích thú nhất mỗi khi mưa về.

Nhã Đan

Bài 4Y Bài Thơ Khi Khi Con Tu Hú Củ…

Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ ông ngập tràn những hình ảnh lãng mạn cách mạng. Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Khi con tu hú của ông tiêu biểu cho phong cách ấy. Nhan đề của bài chỉ là một cụm từ chỉ thời gian (vẫn chưa đầy đủ). Nhan đề của bài thơ là một ẩn ý vừa chỉ một thời điểm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con người.

Có thể tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Khỉ con tu hú gọi bầy (cũng là khi mùa hè đang đến), người tù cách mạng càng thấy ngột ngạt, cô đơn trong phòng giam chật hẹp, càng khát khao được sống cuộc sống tự do bay bổng ở ngoài kia.

Sở dĩ, tiếng tu hú kêu lại có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi nó là tín hiệu báo những ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tượng của sự bay nhảy tự do.

Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần.

Không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim “gọi bầy”, tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu hú gọi nhau biết rằng “lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần”. Nhưng không phải chỉ có thế. Tiếng chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh:

Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…

Đó là những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn được điểm xuyết thêm bằng hình ảnh “Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi nảy nở từng ngày.

Đọc kĩ lại những câu thơ, ta bỗng phát hiện thêm nhiều điều kì lạ khác nữa. Các sự việc không được miêu tả trong trạng thái bình thường, chúng được tô đậm, được đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải hạt bắp vàng mà là “bắp rây vàng hạt” nắng là “nắng đào” màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì “càng rộng càng cao” tầm mắt cứ được mở rộng ra thêm mãi. Tiếng ve không chỉ “ngân” mà còn “dậy” lên, hai tính từ miêu tả âm thanh kết hợp với nhau khiến cho tiếng ve rộn rã khác thường. Chừng như để hoà điệu với những âm thanh và hình ảnh đó, cánh diều sáo cũng không chịu “lững lờ” hay “vi vu” mà “lộn nhào từng không”. Cánh diều như cũng nô nức, vui lây trong không gian lộng lẫy màu sắc và rộn rã âm thanh đó.

Sở dĩ có hiện tượng đó là bởi tác giả đã không trực tiếp quan sát và miêu tả cảnh vật. Nhà thơ đang bị giam trong tù. Những bức tường kín mít vây xung quanh làm sao cho phép nhà thơ nhìn ngắm hay lắng nghe… Tất cả đều được tái hiện từ trí tưởng tượng, trí nhớ và hơn thế nữa là tình yêu, lòng khát khao mãnh liệt được tháo cũi sổ lồng. Trong cảnh tù đày, màu ngô lúa hay màu nắng, màu của trời xanh bỗng trở nên quý giá vô ngần, bởi thế nên những màu sắc, âm thanh hết sức bình thường bỗng trở nên lung linh, huyền ảo, rực rỡ hẳn lên. Đoạn thơ này thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ đối với cuộc sống, đôi với quê hương.

Mộng tưởng càng tươi đẹp bao nhiêu thì hiện thực lại càng cay đắng, nghiệt ngã bấy nhiêu.

Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Tưởng như sự liên kết giữa hai đoạn thơ này không thật chặt chẽ và tứ thơ không liên tục. Khi hướng ra bên ngoài, nhà thơ tả cảnh nhưng khi hướng vào trong lại tả tâm trạng. Kì thực đây chính là sự liên kết vô cùng khéo léo và tinh tế. Mối dây liên kết ấy chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim gọi bầy tha thiết gợi mở một thế giới bao la và vô cùng sinh động. Nhưng thế giới đó càng rộng rãi, rực rỡ bao nhiêu thì lại càng khiến cho người tù (đã bị tách biệt khỏi thế giới ấy) cảm thấy ngột ngạt và khao khát bấy nhiêu.

Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối của bài thơ tuy đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của tự do, của cuộc sống ngoài kia đầy quyến rũ đối với người tù nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú lại rất khác nhau, ở câu thơ đầu, tiếng tu hú gợi hình ảnh cuộc sống đầy hương sắc, từ đó gợi ra cái khát khao về cuộc sống tự do. Thế nhưng, đến câu kết, tiếng chim ấy lại khiến cho người tù có cảm giác bực bội, đau khổ vì chưa thể thoát ra khỏi cảnh tù đày.

Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm xúc thiết tha, sâu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.

Sự Tích Cây Khoai Lang

Truyện sự tích cây khoai lang

Sự tích cây khoai lang là truyện cổ tích về lòng hiếu thảo của một cậu bé đối với người bà của mình, từ đó giải thích nguồn gốc của cây khoai lang ngày nay.

Ở bìa rừng có hai bà cháu nghèo khổ sinh sống. Hàng ngày, hai bà cháu phải đi đào củ mài để ăn. Một hôm, cậu bé nói với bà:

– Bà ơi, bây giờ cháu đã lớn. Từ nay trở đi, cháu sẽ đi kiếm củi, đổi lấy thóc giống và cây lúa để có gạo nấu cơm cho bà ăn. Ăn củ mài mãi thì khổ lắm!

Từ đó, cậu bé cấy cày và chăm chút cho nương lúa của mình. Nhìn cây lúa trổ bông, rồi chín vàng, cậu sung sướng nghĩ: “Thế là sắp được ăn cơm trắng rồi!”.

Nhưng chẳng may, một hôm, cả khu rừng bị cháy. Nương lúa cũng cháy thành tro. Cậu bé buồn quá, ôm mặt khóc. Bỗng, có ông Bụt hiện lên và bảo:

– Hỡi cậu bé hiếu thảo và chăm chỉ, ta cho con một điều ước, con hãy ước đi!

– Thưa ông, con chỉ mong bà của con không bị đói thôi. Bà của con đã già yếu lắm rồi!

Ông Bụt mỉm cười, gật đầu, rồi biến mất.

2. Lòng hiếu thảo được đền đáp và câu chuyện sự tích cây khoai lang

Buổi trưa hôm ấy, cậu bé vào rừng đào củ mài nhưng kiếm mãi cũng chẳng còn củ nào. Đến vài cái nấm hay khóm măng chua cũng chẳng có.

Đột nhiên, cậu bé đào được một củ gì rất lạ. Ruột nó có màu vàng nhạt và bột mịn mềm. Cái củ đó cũng bị lửa hun nóng và bốc mùi thơm ngòn ngọt. Cậu bé bẻ thử một miếng nếm thử thì thấy ngon tuyệt. Cầu bèn đào thêm mấy củ đem về mời bà ăn. Bà cũng tấm tắc khen ngon và thấy khỏe hẳn ra. Bà hỏi:

– Củ này ở đâu mà ngon vậy hả cháu?

Cậu bé hào hứng kể lại câu chuyện được gặp ông Bụt cho bà nghe. Bà nói:

– Vậy thì thứ củ này là của ông Bụt ban cho người nghèo chúng ta đấy. Cháu hãy vào rừng tìm thứ cây quý đó, đem trồng khắp bìa rừng, bờ suối để cho mọi người nghèo cùng có cái ăn.

Cậu bé vừa tới cửa rừng thì một dải dây leo màu xanh mướt quấn vào chân cậu bé. Cậu nghĩ: “Chắc hẳn đây là cây quý” và mang cây đi trồng ở khắp bìa rừng. Chỉ hiếu thảomấy tháng sau, những rễ cây đã phình to thành củ có màu tím đỏ. Nếu đem luộc hoặc nướng thì có vị thơm ngon, ngọt bùi. Cậu bé gọi đó là củ khoai lang.

Nếu ai muốn trồng, chỉ cần đem vùi dây khoai xuống đất và chăm bón thì tới mùa thu hoạch được rất nhiều củ.

Và cho đến bây giờ, khoai lang vẫn được nhiều người ưa thích.

Truyện sự tích cây khoai lang – chúng tôi –

Đôi nét cây khoai lang trong câu chuyện

Khoai lang là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột và có vị ngọt.

Củ khoai lang thường được luộc, rán hay nướng. Chúng cũng có thể được chế biến thành tinh bột và có thể thay thế một phần cho bột mì, các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau. Trong công nghiệp, người ta dùng khoai lang làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và cồn công nghiệp.

Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây, có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Mỹ và được con người trồng cách đây trên 5.000 năm.

Theo văn hóa dân gian Việt Nam, nguồn gốc của loài cây này gắn liền với câu chuyện sự tích cây khoai lang kể bên trên.

Cập nhật thông tin chi tiết về Con Kiến Mà Kiện Củ Khoai trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!