Xu Hướng 2/2024 # Chuyên Đề Ngữ Văn Luyện Thi Vào Lớp 10 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Chuyên Đề Ngữ Văn Luyện Thi Vào Lớp 10 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

             Năm 1970, trong một chuyến đi thực tế ở Lào Cai, Nguyễn Thành Long đã cho ra đời truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa. Truyện đưa chúng ta đến với những con người lao động nhiệt thành, đáng mến giữa mảnh đất Sa Pa âm thầm, lặng lẽ. Họ chính là hình ảnh của cuộc sống mới, con người mới, cho những tấm lòng luôn toả sáng, cống hiến hết sức mình cho quê hương, đất nước.

             Nhan đề truyện ngắn đã để lại ấn tượng thú vị trong lòng người đọc về một mảnh đất Sa Pa hoang sơ, lặng lẽ. Nhưng thật bất ngờ khi từng giây, từng phút, sự sống vẫn tuôn trào trong cái lặng lẽ ấy.

             Trước hết, nhắc tới Lặng lẽ Sa Pa, người đọc nghĩ ngay tới nhân vật anh thanh niên – nhân vật nổi bật của truyện. Anh thanh niên không có tên đã gây được sự chú ý của người đọc. Là một chàng trai còn rất trẻ, mới có hai mươi bảy tuổi đời nhưng theo tiếng gọi của lí tưởng anh đã sẵn sàng có mặt nơi gian khó của cuộc sống để làm việc và cống hiến: “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Anh đã có mặt nơi địa đầu Tổ quốc, chấp nhận cuộc sống đơn độc một mình trên đỉnh Yên Sơn 2600m để thực hiện tốt công việc của mình: “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc của anh không chỉ đòi hỏi chính xác mà còn cần tinh thần trách nhiệm cao. Công việc ấy tưởng chừng rất bình thường, đơn giản nhưng phải nhờ có ý chí, sức mạnh mới có thể thực hiện tốt được. Anh chia sẻ thành thực với ông hoạ sĩ và cô kĩ sư trẻ: “Nửa đêm, nằm trong chăn nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão bật to hết cỡ mà vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chờ mình ra là ào ào tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ. Nó như bị gió chặt ra từng khúc mà gió như nhát chổi lớn quét đi tất cả, ném đi lung tung”. Thế mới biết niềm say mê, nhiệt thành của anh với công việc thế nào. Với anh, sống có nghĩa là dâng hiến “mình sinh ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?”. Chính lẽ sống đẹp đã đem đến cho anh bản lĩnh, nghị lực để vượt qua tất cả khó khăn làm tròn nhiệm vụ đất nước giao phó. Anh chính là nốt nhạc ngân rung trong bản đàn của âm vang Sa Pa lặng lẽ.

             Không chỉ là một chàng trai giàu ước mơ hoài bão, nhiệt tình, tận tuỵ với công việc, anh thanh niên còn làm rung động trái tim người đọc bởi một tâm hồn mơ mộng giàu tình cảm. Nhìn vào cuộc sống mà anh tạo cho chính mình ta có thể hiểu được điều đó. Từ căn nhà bé nhỏ đơn sơ với mọi đồ vật ngăn nắp, sạch sẽ đến những bông hoa tươi đẹp trước nhà do chính tay anh trồng đều nói lên vẻ đẹp trong tâm hồn anh. Tất cả đã tạo nên sự hài hoà trong con người anh một tình yêu công việc, say mê lí tưởng và một cuộc sống tinh thần phong phú. Vẻ đẹp con người anh cứ lặng lẽ toả sáng và người đọc thấy anh thật đáng yêu, đáng mến.

             Đến với Lặng lẽ Sa Pa, người đọc lưu lại những ấn tượng rất đẹp về nhân vật của Nguyễn Thành Long. Dù nhân vật chính hay phụ, xuất hiện trong tác phẩm nhiều hay ít thì mỗi nhân vật của nhà văn là một tâm hồn, trong sáng, cao đẹp. Họ làm nên những đốm sáng lung linh giữa đại ngàn Sa Pa lặng lẽ khiến ta khâm phục và thật ngưỡng mộ. Người kĩ sư trồng rau miệt mài kiên nhẫn ngày đêm tìm giống cây mới, tạo năng suất cây trồng. Người kĩ sư bản đồ địa chất, thầm lặng và say mê tìm nguồn khoáng sản cho Tổ quốc. Những con người ấy sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng tư, cống hiến cho đất nước và lí tưởng cách mạng. Với họ, sống đâu chỉ cho riêng mình.

             Đọc Lặng lẽ Sa Pa, người đọc càng không thể không biết tới nhân vật “ông hoạ sĩ” – người kể chuyện cũng là một gương mặt đẹp của truyện ngắn. Là người lúc nào cũng trăn trở “phải vẽ được một cái gì suốt đời mình”, ông có mặt ở Sa Pa – mảnh đất thơ mộng để đi tìm cảm hứng sáng tác, hoàn thành tác phẩm nghệ thuật để đời mà ông mơ ước. Thiên nhiên, cảnh vật và con người Sa Pa đã thực sự rung động tâm hồn ông, khơi nguồn sáng tạo để cây cọ của người hoạ sĩ vẽ nên trang thơ cho đời. Bắt gặp một con người cao đẹp như anh thanh niên, ông hoạ sĩ khao khát được truyền tình yêu mến và sự ngưỡng mộ với những con người trẻ tuổi giàu nhiệt huyết vào bức tranh của mình. Ông muốn mọi người hiểu rằng họ không phải những ngôi sao xa, họ gần gũi, bình dị, thân thuộc ngay giữa cuộc đời. Có thể nói, nhân vật ông hoạ sĩ già chính là sự hoá thân của nhà văn, gián tiếp thể hiện cái nhìn của Nguyễn Thành Long về con người mới, cuộc sống mới.

             Chúng ta cũng không thể quên được nhân vật “cô kĩ sư nông nghiệp” – nhân vật nữ duy nhất của truyện. Chính cô đã góp một phần không nhỏ trong việc thể hiện chất thơ của truyện. Là một thanh niên mới ra trường, cô cũng như bao chàng trai, cô gái khác, đầy ắp ước mơ và hoài bão, trong sáng và lãng mạn. Không đắn đo suy nghĩ, cô đã có mặt nơi đèo cao heo hút để nhận công tác mới. Được gặp chàng trai làm nhà khí tượng kiêm vật lí địa đầu đối với cô là một kỉ niệm đẹp, cho cô thêm niềm tin và sức mạnh. Nhận được bó hoa rực rỡ, tươi thắm từ chàng trai, cô gái như được nhận thêm niềm tin yêu cuộc sống, niềm hạnh phúc được cống hiến cho đời. Bó hoa là tiếng lòng chàng trai muốn khích lệ, động viên cô vững bước trên đường đời, là bó hoa của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, say mê lí tưởng. Có thể nói nếu vắng bóng cô gái, truyện ngắn sẽ rất tẻ nhạt. Sự xuất hiện của cô làm truyện ngắn man mát chất thơ và trữ tình.

             Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long đơn giản về cốt truyện nhưng có chiều sâu tư tưởng. Văn ông giàu chất tự sự và trữ tình khiến người đọc cảm nhận một cách mềm mại, nhẹ nhàng nhưng lại rất ngân vang, sâu lắng. Nhà văn đã truyền đến người đọc những xúc cảm tươi mát về cuộc sống và con người mới. Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn hay về đề tài cuộc sống mới, con người mới. Nhắc tới Nguyễn Thành Long, là người ta nhắc tới khoảng trời xanh của ông, trong đó có Lặng lẽ Sa Pa.

Đề Văn Thi Vào Lớp 10

Share bài viết lên Link hay

Đề văn thi vào lớp 10-năm học 2012-2013-đề 12

Câu 1: Chép lại nguyên văn khổ thơ cuối bài thơ: “Đồng chí” ( Chính Hửu) – 1 điểm

Câu 2: Đọc hai câu thơ:

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

( Nguyễn Du- Truyện Kiều)

Từ xuân trong câu thứ nhất được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? và nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức chuyển nghĩa nào?(1 điểm)

Câu 3: Viết một đoạn văn nghị luận ( không quá một trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về đạo lí: ” Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.( 3 điểm)

Câu 4: Phân tích nhân vật Vũ Nương ” Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Từ đó em có nhận được điều gì về thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.

( 5 điểm)

Câu 1: Chép lại nguyên văn khổ thơ cuối bài thơ: ” Đồng chí” ( Chính Hửu) – 1 điểm

“…. Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau cời giặc tới

Đầu súng trăng treo”

( Đồng Chí – Chính Hữu)

Câu 2: Đọc hai câu thơ :

“Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

( Nguyễn Du- Truyện Kiều)

Từ xuân trong câu thứ nhất được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? và nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức chuyển nghĩa nào?(1 điểm)

Từ ” Xuân” trong câu thứ nhất được dùng theo nghĩa chuyển.

Theo phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ.

Câu 3: Viết một đoạn văn nghị luận ( không quá một trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về đạo lí: ” Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.( 3 điểm)

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về triết lí sống của con người. Nhưng có lẽ câu để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất là câu: Uống nước nhớ nguồn”

Câu tục ngữ trên quả thật là một danh ngôn, một lời dạy bảo quý giá. Giá trị của lời khuyên thật to lớn vì nội dung mang màu sắc triết lí.đạo đức bàn về lòng biết ơn, được diễn tả bằng nghệ thuật so sánh ngầm độc đáo, lời văn đơn sơ, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ. Chính vì thế mà câu nói này được được phổ biến mọi nơi, mọi chốn và được truyền tụng từ ngàn đời xưa đến nay.

Càng hiểu ý nghĩa sâu sắc của lời dạy bảo mà ông cha ta muốn truyền lại cho đời sau, chúng ta, thế hệ tương lai của đất nước phải cố gắng học tập, lao động, nhất là rèn luyện những đức tính cao quý trong đó cần phải rèn luyện lòng nhớ ơn cha mẹ, thầy cô, ông bà tổ tiên ….để trở thành con ngoan trò giỏi.

Câu 4: Phân tích nhân vật Vũ Nương ” Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Từ đó em có nhận được điều gì về thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.

‘ Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương Bóng đèn dù nhẫn đừng nghe trẻ Cung nước chi cho lụy đến nàng”

( Lê Thánh Tông )

Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm ,ông sống ở thế kỉ 16, làm quan một năm, sau đó chán cảnh triều đình thối nát xin cáo quan về ở ẩn.

“Truyền kì mạc lục” là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Việt Nam được viết bằng chữ Hán, trong đó truyện đã đề cập đến thân phận người phụ nữ sống trong XHPK mà cụ thể là nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm ” Chuyện người con gái Nam xương”

Vũ Nương: Đẹp người, đẹp nết:

Tên là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, gia đình ” kẻ khó” tính tình thùy mị nết na,lại có thêm tư dung tốt đẹp

Lấy chồng con nhà hào phú không có học lại có tính đa nghi. Sau khi chồng bị đánh bắt đi lính, nàng phải một mình phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạ con thơ, hoàn cảnh đó càng làm sáng lên những nét đẹp của nàng.

+ Là nàng dâu hiếu thảo : khi mẹ chồng bị ốm, nàng ” hết sức thuốc thang” ” ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” ” khi bà mất, nàng ” hết lời thương sót”, lo ma chay lễ tế, “như đối với cha mẹ đẻ mình”

+ Là người vợ đảm đang, giữ gìn khuôn phép, hết mực thủy chung không màng danh vọng: ngày chồng ra trận nàng chỉ mong ” Ngày trở về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” chứ không mong mang được ấn phong hầu mặc áo gấm trở về. ” Các biệt ba năm giữ gìn một tiết” ” chỉ có cái thú vui nghi gia nghi thất” mong ngày ” hạnh phúc xum vầy”

+ Là người mẹ hết mực thương con muốn con vui nên thường trỏ bóng mình vào vách mà nói rằng đó là hình bóng của cha. “Chỉ vì nghe lời trẻ em

Cho nên mất vợ rõ buồn chàng Trương’

Vũ Nương: Người phụ nữ dám phản kháng để bảo vệ nhân phẩm, giá trị của mình:

Chồng trở về, bị hàm oan , nàng đã kiên trì bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ nhân phẩm giá trị của mình qua những lời thoại đầy ý nghĩa

Khi chồng không thể minh oan , nàng quyết định dùng cái chết để khẳng định lòng trinh bạch.

Đòi giải oan, kiên quyết không trở lại với cái xã hội đã vùi dập nàng: ” Đa tạ tình chàng, thiết chẳng trở về nhân gian được nữa”

Vũ Nương : Bi kịch hạnh phúc gia đình bị tan vỡ và quyền sống bị chà đạp.

Bi kịch này sinh ra khi con người không giải quyết đượ cma6u thuẫn giữa mơ ước khát vọng và hiện thực khắc nghiệt, mặc dù con người hết sức cố gắng để vượt qua, Vũ Nương đẹp người đẹp nết đáng lẽ phải được hưởng hạnh phúc mà lại không được .Vũ Nương đã hết sức cố gắng vun đắp cho hạnh phúc gia đình, hi vọng vào ngày xum vầy, ngay cả khi nó sắp bị tan vỡ . Nhưng cuối cùng nàng đành phải chấp nhận số phận, hạnh phúc gia đình tan vỡ không bao giờ có được, bản thân đau đớn, phải chết một cách oan uổng.

” Trăm năm bia đá vẫn mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”

Những tính cách trên được xây dựng qua nghệ thuật:

Tạo tình huống tuyện đầy kích tính

Những đoạn đối thoại và những lời tự bạch của nhân vật.

Có yếu tố truyền kì và hiện thực vừa haong đường.

– Nguyễn Dữ thật xứng đáng với vị trí tiên phong trong nền văn xuôi Việt Nam

– Càng văn minh, tiến bộ càng quý trọng những bà mẹ, những người chị “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”

Trăm nghìn gửi lụy tình quân

“Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”

(Nguyễn Du- Truyện Kiều)

Bài cùng chuyên mục

Một Số Đề Ôn Thi Vào Lớp 10

Luyện thi vào lớp 10

LUYỆN THI VÀO LỚP 10 THPT – MÔN VĂN ĐỀ SỐ 1 Câu 1: (2,5 điểm) Chép lại chính xác bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và phân tích ý nghĩa của các cặp từ trái nghĩa có trong bài thơ. Câu 2: (5 điểm) Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân. GỢI Ý TRẢ LỜI PHẦN TỰ LUẬN Câu 1: (2,5 điểm) Học sinh chép được chính xác bài thơ cho 0,5 điểm. Nếu sai 3 lỗi về từ ngữ hoặc chính tả thì trừ 0,25 điểm. Phân tích ý nghĩa của các cặp từ trái nghĩa : nổi – chìm, rắn- nát với nghĩa tả thực là quá trình nặn bánh : do bàn tay con người để bột rắn hoặc nát và quá trình luộc bánh mới cho vào bánh chìm xuống nhưng khi chín thì nổi lên ; Nghĩa tượng trưng : cuộc đời, thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ không được làm chủ cuộc đời mình, bị phụ thuộc vào kẻ khác, bị xã hội xô đẩy, vùi dập, chìm nổi lênh đênh. Các cặp từ trái nghĩa nói lên được tấm lòng đồng cảm sâu sắc và là tiếng nói của người phụ nữ xót xa cho giới mình của Hồ Xuân Hương. Câu 2: (5 điểm) Học sinh vận dụng các kĩ năng về nghị luận nhân vật văn học để nêu những suy nghĩ về nhân vật ông Hai – người nông dân yêu làng, yêu nước trong kháng chiến chống Pháp bằng các ý cụ thể như sau : A. Giới thiệu về truyện ngắn Làng, tác phẩm viết về người nông dân trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, giai đoạn đất nước đang ở thế cầm cự, nhân dân làng Chợ Dầu theo lệnh kháng chiến đi tản cư ở vùng Yên Thế (Bắc Giang). Và chính trong hoàn cảnh đó, nhân vật ông Hai, người nông dân thật thà chất phác đã thể hiện những trưởng thành trong nhận thức và suy nghĩ của mình về tình cảm yêu làng, yêu nước. B. Phân tích các phẩm chất về tình yêu làng của ông Hai : – Nỗi nhớ làng da diết trong những ngày đi tản cư : buồn bực trong lòng, nghe ngóng tin tức về làng, hay khoe về cái làng Chợ Dầu với nỗi nhớ và niềm tự hào mãnh liệt. – Đau khổ, dằn vặt khi nghe tin làng mình làm Việt gian : tủi nhục đau đớn, xấu hổ không dám nhìn ai, lo sợ bị người ta bài trừ, không chứa ; ruột gan cứ rối bời, không khí gia đình nặng nề, u ám… – Niềm sung sướng cảm động đến trào nước mắt khi tin xấu về làng ông được cải chính : ông đi khoe khắp nơi, đến từng nhà với dáng vẻ lật đật và lại tự hào ngẩng cao đầu kể về làng Chợ Dầu quê hương ông một cách say sưa và náo nức lạ thường. C. Đánh giá và khẳng định tình yêu làng của ông Hai gắn với tình yêu đất nước, yêu kháng chiến: trong thâm tâm ông luôn tự hào về ngôi làng giàu truyền thống văn hoá, trù phú và tự hào về sự thuỷ chung với cách mạng, với Bác Hồ của quê hương mình. Sự thay đổi nhận thức để nhận ra kẻ thù là bọn đế quốc phong kiến theo một quá trình tâm lí hết sức tự nhiên khiến ta thêm trân trọng yêu mến người nông dân này vì tình cảm gắn bó với quê hương, xóm làng và cách mạng. D. Khẳng định tình yêu quê hương đất nước là một vẻ đẹp của con người Việt Nam, đặc biệt trong những ngày đất nước gian nguy tình cảm ấy được thử thách càng tô đẹp thêm phẩm chất của con người Việt Nam.LUYỆN THI VÀO 10 THPT – MÔN VĂN GỢI Ý TRẢ LỜI PHẦN TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 2 Câu 1: (1,5 điểm) Chép lại chính xác 4 dòng thơ đầu trong đoạn trích Cảnh ngày xuân trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Viết khoảng 5 câu nhận xét về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ đó. Câu 2: (6 điểm) Nêu suy nghĩ của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. Câu 1: (2,5 điểm) Học sinh chép chính xác 4 dòng thơ cho 0,5 điểm (nếu sai 3 lỗi chính tả hoặc từ ngữ trừ 0,25 điểm) : Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoA. Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ (1 điểm) + Bức tranh mùa xuân được gợi lên bằng nhiều hình ảnh trong sáng : cỏ non, chim én, cành hoa lê trắng là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân. +

Đề Ngữ Văn Kiểm Tra Chất Lượng Vào Lớp 10 Năm Học 2024

ĐỀ KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG VÀO LỚP 10 THPTMôn: Ngữ văn – Năm học: 2024-2024Thời gian làm bài: 120 phút

1.– Nêu được tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí”– Của nhóm tác giả: Ngô gia văn phái– Quê: Làng Tả Thanh Oai-Hà Tây cũ. Nay thuộc Hà Nội. Là dòng họ lớn nổi tiếng đỗ cao có tài văn học. Một số người trong gia đình đó đã viết chung tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí”. Tiêu biểu là Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Nhậm.2. Đoạn văn trên là lời nói của Quang Trung ở trấn Nghệ An– Đoạn văn trên giống thể loại “Hịch” trong văn học cổ.3. Những câu trên khiến người ta liên tưởng giống như những lời văn trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Viết để kêu gọi quân sĩ học tập “Binh thư yếu lược” chuẩn bị đánh giặc Nguyên-Mông.4. Nội dung đoạn văn: Kêu gọi đồng tâm hiệp lực trong chiến đấu và trung thành với vua Quang Trung.

Phần II1. Bài thơ ra đời năm 1963, khi tác giả đang sinh sống và học tập tại Liên Xô.Đây là thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước.– Mạch cảm xúc đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.2. Từ láy “chờn vờn”: ánh sáng ngọn lửa bếp bập bùng lúc to lúc nhỏ gợi lên một bếp lửa bình dị quen thuộc trong cuộc sống ở làng quê Việt Nam.3. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm) Nói với con (Y Phương)4. Hình thức: – Đúng một đoạn văn quy nạp (câu chốt đứng cuối đoạn văn). Đảm bảo số câu theo yêu cầu.– Có câu cảm thán (đánh số câu và chú thích câu cảm thán).* Nội dung: (2.5đ) Đoạn văn đảm bảo những ý sau:– Tình yêu thương bà giành cho cháu lớn lao, sâu sắc.– Bà là người che chở, bảo bọc, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu trong những năm tháng tuổi thơ– Hình ảnh người bà tẩn tảo, chắt chiu, nhen nhóm lên ngọn lửa mỗi sớm mai. Nhen nhóm ý chí, niềm tin cho cháu.– Bà là người đầy nghị lực, vượt qua những biến cố lớn lao trong cuộc đời, trở thành chỗ dựa vững vàng cho cháu.– Hình ảnh người bà-người phụ nữ Việt Nam với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại, đầy yêu thương, với tấm lòng nhân hậu giàu đức hi sinh, với một nghị lực sống phi thường.5. Tùy theo cách viết của học sinh để cho điểm. (Viết đoạn hoặc bài văn ngắn) có thể đi theo hướng sau:– Tình yêu quê hương đất nước được thể hiện rất đa dạng:+ Bảo vệ tổ quốc+ Xây dựng và phát triển đất nước.

HƯỚNG DẪN CHẤM CÓ TRONG FILE

Đề Rèn Luyện Môn Ngữ Văn

Đề rèn luyện môn Ngữ văn – khối 10 tháng 8/2024

Tổ Ngữ Văn

2024-09-12T10:03:40-04:00

2024-09-12T10:03:40-04:00

http://thptphuquoc.edu.vn/bai-viet-26/de-ren-luyen-mon-ngu-van-khoi-10-thang-8-2024-183.html

/themes/default/images/no_image.gif

Trường THPT Phú Quốc

Thứ tư – 12/09/2024 10:00

 

 

 

Đề rèn luyện môn Ngữ văn – khối 10 tháng 8/2024

TRƯỜNG THPT PHÚ QUỐC                                                   ĐỀ LUYỆN TẬP THÁNG 8 – KHỐI 10

         

TỔ NGỮ VĂN

  

                                                Năm học: 2024 – 2024

                                                                                     Môn: Ngữ văn

                                                                                    

PHẦN I: ĐỌC HIỂU(3 ĐIỂM)

                                   “Mẹ là biển rộng mênh mông

                              Dạt dào che chở… con trông con chờ

                                      Đi xa con nhớ từng giờ

                                Mẹ là tất cả bến bờ bình yên”.

                                                (“Mẹ là tất cả” – Phạm Thái)

Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn thơ trên?

Câu 2. Chỉ ra hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ?

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ? 

PHẦN II: LÀM VĂN (7 ĐIỂM)

                   Trình bày cảm nghĩ của anh (chị) về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông.

 

Đề Thi Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 10 Quảng Trị

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10. Đề đọc hiểu :Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh.quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: ” … Buổi ấy, có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm, đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non.(…).Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền…”(Trích “Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” sách Ngữ văn 9, tập 2) Câu 1.(1,0 điểm) Xác định nội dung của đoạn văn trên? Câu 2.(1,0 điểm) Tìm những từ ngữ, chi tiết chỉ thói lộng quyền, vơ vét của cải của nhân dân và cảnh sống giả dối trong phủ Chúa? Câu 3. Viết đoạn văn từ 7-10 dòng trình bày suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả và bài học cho bản thân rút ra từ lối sống phù phiếm trong phủ Chúa? (1,0 điểm)PHẦN LÀM VĂN (7 điểm) Phân tích quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn? Từ bài thơ em có suy nghĩ gì về việc lựa chọn lối sống hiện nay?

. -Hết-

Họ và tên học sinh……………………………………………….Lớp…………….

Số báo danh…………………………………………………..Phòng thi…………

Chữ kí của người coi kiểm tra………………………………………………….

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:“Những lúc rảnh rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc…Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng được khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám- năm đó ta chưa võ trang – trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu…Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh…”(Trích “Chiếc lược ngà” -Nguyễn Quang Sáng, SGK Ngữ Văn 9, tập 2) Câu 1.(1,0 điểm) Em hãy xác định nội dung của đoạn văn trên? Câu 2.(1,0 điểm) Tìm những từ ngữ, chi tiết thể hiện tình cảm yêu thương của anh Sáu đối với con gái? Câu 3 Từ tình cảm yêu thương sâu nặng của ông Sáu dành cho cô con gái bé trong đoạn trích trên, em hãy viết đoạn văn từ 7-10 dòng trình bày suy nghĩ của mình về tình cảm cha – con? (1,0 điểm)PHẦN LÀM VĂN Phân tích quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn? Từ bài thơ em có suy nghĩ gì về việc lựa chọn lối sống hiện nay?

. -Hết-

Họ và tên học sinh……………………………………………….Lớp…………….

Số báo danh…………………………………………………..Phòng thi…………

Chữ kí của người coi kiểm tra………………………………………………….

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Phần đọc hiểu

1

Nội dung đoạn văn: Tái hiện lại việc Chúa Trịnh lộng quyền,vơ vét của cải trong dân khiến đời sống nhân dân lầm than, cơ cực. Song hành với đó là bọn thái giám lộng hành, giả dối trong phủ Chúa.

2

Những từ ngữ, chi tiết cho thấy Chúa Trịnh lộng quyền, vơ vét của cải trong nhân dân và cảnh sống giả dối trong phủ Chúa: có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì; Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về; Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền.

3

– Yêu cầu: Diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, văn viết có cảm xúc, có thể gồm các ý cơ bản: Viết đoạn văn suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả qua đoạn văn trên. +Khẳng định: đoạn văn miêu tả về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa. +Biểu hiện: có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì; Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. +Thái độ của tác giả: phê phán lối sống xa hoa, truỵ lạc khiến nhân dân lầm tha, cơ cực. + Bài học rút ra: Từ cuộc sống xa hoa đó, biết được hiện thực cuộc sống đương thời nhiễu nhương, phức tạp, xã hội dưới quyền cai trị của Chúa Trịnh trở nên nhố nhăng, hỗn loạn. Cảm nhận được một giai đoạn lịch sử nhố nhăng, xa hoa, lãng phí để biết cách sống tiết kiệm cho bản thân.

Làm văn

– Yêu cầu kĩ năng: – + Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận. – + Bài làm có bố cục chặt chẽ, rõ ràng, hoàn chỉnh; kết cấu hợp lí – + Hành văn mạch lạc, trôi chảy; diễn đạt trong sáng; không mắc lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, đặt câu. – Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể làm theo hiều cách khác nhnhau, so nhưng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, và tác phẩm Nhàn.–Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.

a. Quan niệm sống Nhàn: + Nhàn hạ ở công việc: Công việc nhà nông: ” Một mai, một cuốc, một cần câu”: số từ “một” + danh từ “mai, cuốc, cần câu”à Câu thơ tái hiện chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông tri điền chất phác. +Nhàn hạ ở tâm trí : Thảnh thơi, ung dung , mặc kệ những thú vui của người đời. +Lối sống: hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Mùa nào thức nấy: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.b. Vẻ đẹp nhân cách: + Tự nhận mình dại nhường khôn cho kẻ khác, quan niệm dại – khôn là cách nói ý vị, thâm trầm, tự tin, vẻ đẹp nhân cách trí tuệ thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời. àBPNT: đối lập Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng có thời gian sống và làm quan trong triều đình, vì thế ông quá hiểu chốn quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, vì vậy ông gán cho nó là chốn “lao xao”, còn nơi “vắng vẻ” là nơi ông ở ẩn, là Bạch Vân am nơi ông mở lớp dạy học, lấy đó làm thú vui của đời mình. +Quan niệm về danh lợi: Mượn điển tích Thuần Vu Phần để nói về phú quý tựa giấc mộng, tựa chiêm bao như áng mây trắng trôi bồng bềnh giữa cuộc đời, tất cả đều hư vô. c. Bài học rút ra: Lựa chọn lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ phù hợp với thời đại ông đang sống với mục đích giữ gìn nhân cách, đạo đức của một nhà Nho. Ta học được ở tác giả việc giữ gìn môi trường tự nhiên đang sinh sống qua cách lựa chọn lối sống phù hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Tuy nhiên lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn phù hợp với lối sống hiện đại, thời đại chúng ta hiện nay cần những con người thức thời, năng động, biết nắm bắt cơ hội để phát triển bản thân.

-Bài thơ tiêu biểu cho quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. – Bài thơ đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhận cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của Bạch Vân cư sĩ. – Biểu điểm: – + Điểm khá, giỏi: Đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài lỗi nhỏ nhưng không ảnh hưởng đến bài làm – + Điểm trung bình: Đáp ứng được khoảng 2/3 yêu cầu kiến thức. Hành văn chưa thật mạch lạc; mắc một vài lỗi về diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm yếu: Trình bày thiếu ý, sơ sài, chưa đáp ứng các yêu cầu kiến thức. Hành văn lủng củng, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm kém: Hoàn toàn lạc đề hoặc không làm được gì.

– Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.– Giáo viên mạnh dạn cho điểm tối đa đối với các bài viết sáng tạo, chú ý đến diễn đạt, hành văn, trau chuốt trong dùng từ, đặt câu, trình bày đẹp, khoa học ….

Phần đọc hiểu

1

Nội dung đoạn văn: tình cảm yêu thương con gái của ông Sáu được thể hiện qua sự tỉ mẩn, cẩn thận của ông khi làm chiếc lược cho con gái.

2

Những từ ngữ, chi tiết thể hiện tình cảm yêu thương của anh Sáu đối với con gái: anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc; Trên sống lưng được khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”; Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con.

3

-Yêu cầu: Diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, văn viết có cảm xúc, có thể gồm các ý cơ bản: Viết đoạn văn suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả qua đoạn văn trên. Viết đoạn văn thể hiện suy nghĩ về tình cảm cha – con: +Khẳng định: Đó là tình cảm cao quý, thiêng liêng: tình cha – con. +Biểu hiện: Yêu thương, chăm sóc, ân cần chu đáo trong những hoạt động nhỏ nhặt. +Thái độ: Tình cha con phải được nâng niu, trân trọng, giữ gìn. +Bài học rút ra: Trong cuộc sống, tình cha con có sức mạnh nâng đỡ con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giúp con người vững tin, an lòng tiến lên phía trước.

Làm văn

– Yêu cầu kĩ năng: – + Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận. – + Bài làm có bố cục chặt chẽ, rõ ràng, hoàn chỉnh; kết cấu hợp lí – + Hành văn mạch lạc, trôi chảy; diễn đạt trong sáng; không mắc lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, đặt câu. – Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể làm theo hiều cách khác nhnhau, so nhưng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, và tác phẩm Nhàn.–Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.

a. Quan niệm sống Nhàn: + Nhàn hạ ở công việc: Công việc nhà nông: ” Một mai, một cuốc, một cần câu”: số từ “một” + danh từ “mai, cuốc, cần câu”à Câu thơ tái hiện chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông tri điền chất phác. +Nhàn hạ ở tâm trí : Thảnh thơi, ung dung , mặc kệ những thú vui của người đời. +Lối sống: hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Mùa nào thức nấy: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.b. Vẻ đẹp nhân cách: + Tự nhận mình dại nhường khôn cho kẻ khác, quan niệm dại – khôn là cách nói ý vị, thâm trầm, tự tin, vẻ đẹp nhân cách trí tuệ thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời. àBPNT: đối lập Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng có thời gian sống và làm quan trong triều đình, vì thế ông quá hiểu chốn quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, vì vậy ông gán cho nó là chốn “lao xao”, còn nơi “vắng vẻ” là nơi ông ở ẩn, là Bạch Vân am nơi ông mở lớp dạy học, lấy đó làm thú vui của đời mình. +Quan niệm về danh lợi: Mượn điển tích Thuần Vu Phần để nói về phú quý tựa giấc mộng, tựa chiêm bao như áng mây trắng trôi bồng bềnh giữa cuộc đời, tất cả đều hư vô. c. Bài học rút ra: Lựa chọn lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ phù hợp với thời đại ông đang sống với mục đích giữ gìn nhân cách, đạo đức của một nhà Nho. Ta học được ở tác giả việc giữ gìn môi trường tự nhiên đang sinh sống qua cách lựa chọn lối sống phù hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Tuy nhiên lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn phù hợp với lối sống hiện đại, thời đại chúng ta hiện nay cần những con người thức thời, năng động, biết nắm bắt cơ hội để phát triển bản thân.

-Bài thơ tiêu biểu cho quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. – Bài thơ đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhận cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của Bạch Vân cư sĩ. – Biểu điểm: – + Điểm khá, giỏi: Đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài lỗi nhỏ nhưng không ảnh hưởng đến bài làm – + Điểm trung bình: Đáp ứng được khoảng 2/3 yêu cầu kiến thức. Hành văn chưa thật mạch lạc; mắc một vài lỗi về diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm yếu: Trình bày thiếu ý, sơ sài, chưa đáp ứng các yêu cầu kiến thức. Hành văn lủng củng, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm kém: Hoàn toàn lạc đề hoặc không làm được gì.

– Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.– Giáo viên mạnh dạn cho điểm tối đa đối với các bài viết sáng tạo, chú ý đến diễn đạt, hành văn, trau chuốt trong dùng từ, đặt câu, trình bày đẹp, khoa học ….

Bộ đề thi học kì Ngữ văn 10

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về bài thơ Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm : Nhàn

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuyên Đề Ngữ Văn Luyện Thi Vào Lớp 10 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!