Xu Hướng 2/2024 # Cảm Nhận Vẻ Đẹp Bài Thơ Mộ (Chiều Tối) Của Hồ Chí Minh # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Vẻ Đẹp Bài Thơ Mộ (Chiều Tối) Của Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận vẻ đẹp bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Mở bài:

Khi đọc tập thơ Nhật ký trong tù, nhà thơ Hoàng Trung Thông viết:

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Đó là một nhận xét rất đúng, bởi vì, ngoài cái cứng cỏi cần phải có để chống lại cái ác trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, thơ Bác còn “Mênh mông bát ngát tình”. Bài thơ “MỘ” (Chiều tối) thể hiện rất rõ điều đó:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng).

Thân bài:

Bài thơ “Chiều tối” (Mộ) là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật ký trong tù”; bài thứ 3 trong 5 bài thơ sáng tác trong chặng đường Bác bị giải đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa đã trở thành ước lệ. Đó là “cánh chim mỏi”, “cô vân”:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không.”

Hình ảnh cánh chim chiều bao giờ cũng gợi nỗi buồn:

“Chim hôm thoi thóp về rừng Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành”

(Nguyễn Du)

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn”

(Chiều hôm nhớ nhà – Bà huyện Thanh quan)

Trong thơ mới, Huy Cận cũng đã sử dụng thi liệu cổ rất tinh tế: dùng hình ảnh cánh chim để miêu tả nỗi buồn với không gian và thời gian gắn kết:

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”

Hình ảnh “cô vân” lại gợi cho người đọc sự cô đơn:

“Chúng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn”

(Độc tọa Kính Đình San – Lý Bạch)

Đối chiếu với nguyên tác chúng ta thấy ở câu thứ hai bản dịch chưa lột tả được thần thái câu thơ giữa “cô vân”/chòm mây; “mạn mạn”/trôi nhẹ. Chính những hình ảnh ấy gợi cho người đọc âm hưởng cổ thi. Thực ra, hai câu đầu là những cảnh rất thực lúc chiều tối nơi núi rừng. Ở miền núi, có đặc điểm khác biệt chiều tối là tối từ mặt đất tối lên. Vào thời điểm ấy, ánh sáng mặt trời gần như tắt hẳn, lúc ấy chỉ còn chút ánh sáng của ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh cao của bầu trời. Khi ngước nhìn lên chút ánh sáng còn sót lại đó, con mắt nhà thơ nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn (“cô vân”) chầm chậm trôi qua.

Cảnh vật buồn, cô đơn, phù hợp với tâm trạng người làm thơ. Nếu ta nghĩ đến hoàn cảnh người tù nơi đất khách, qua một ngày bị giải đi rất mệt nhọc, trong lòng luôn nhớ về quê hương…thì với mạch cảm xúc ấy, những câu thơ sau có lẽ càng buồn hơn. Nhưng không, thơ Bác có một điểm độc đáo là kết thúc thường rất bẩt ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng)

Khung cảnh được chuyển một cách tự nhiên. Màn đêm buông con người ta thường hướng tới những nơi có ánh sáng, Bác của chúng ta cũng không ngoại lệ. Đó là hình ảnh sáng hồng trong lò than nhà ai nơi xóm núi soi tỏ hình ảnh cô gái xay ngô để chuẩn bị cho bữa ăn chiều.

Một điều làm người đọc trăn trở là bản dịch không giữ nguyên“thiếu nữ” mà lại dùng “cô em”. Từ “thiếu nữ” cho ta thấy chính xác độ tuổi người con gái, độ tuổi trăng tròn. Độ tuổi đẹp nhất, tràn đầy sức sống nhất của đời người phụ nữ. Rất nhiều bức tranh vẽ thiếu nữ khuê các đề thơ, đánh đàn, thổi sáo, nhưng ‘thiếu nữ” trong bài thơ này của Bác lại là một con người đang miệt mài lao động ngay cả khi màn đêm buông. Hình ảnh thiếu nữ ấy kết hợp với từ “sơn thôn” làm cho câu thơ khỏe khoắn, hiện đại.

Về nghệ thuật tả cảnh, bài thơ “Chiều tối” có góc nhìn từ cao xuống thấp, chuyển đổi màu sắc từ tối sang sáng. Thiên nhiên mỏi mệt, nghỉ ngơi nhưng con người vẫn đang làm nốt công việc của mình. Chỉ vài nét chấm phá thôi nhưng bức tranh chiều tối miền sơn cước hiện ra rất yên bình, tĩnh lặng. Nếu không biết đây là bài thơ trong tập Nhật ký trong tù, người đọc sẽ lầm tưởng rằng của một tác giả nổi tiếng nào đó thời Đường.

Thành công của bài thơ là cảnh, tình hòa quyện nhau được thể hiện dưới ngòi bút người nghệ sĩ bậc thầy. Bài thơ là một minh chứng tuyệt vời cho ý kiến: “Thi trung hữu họa”. Toàn cảnh bài thơ như một bức tranh ký họa mực tàu với mấy nét chấm phá: một cánh chim, một chòm mây, một sơn thôn, một ngôi nhà, một thiếu nữ, một bếp lửa.

Đặc trưng của ký họa là càng ít nét vẽ mà khi xem tranh người xem nhận biết được đối tượng, cảm nhận được cái hồn trong tranh thì đó mới là bức tranh tuyệt bích. Tài hoa của nhà thơ là tinh tế trong chọn lọc chi tiết, chọn lọc hình ảnh.

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ là chuẩn mực để các nhà thơ học tập. Người ta xem chữ “hồng” là nhãn tự, đó là điều không phải tranh cãi. Nhưng “mạn mạn”, “thiếu nữ” cũng đáng được xem là nhãn tự lắm chứ. Từ “mạn mạn” sẽ nói ở sau, bây giờ xét từ “thiếu nữ” trước. Chúng ta thử thay thế một từ khác, đảm bảo luật bằng trắc, xem cái hồn câu thơ sẽ như thế nào:

“Sơn thôn lão bá ma bao túc”

Hay:

“Sơn thôn thiếu phụ ma bao túc”

Không cần phải phân tích, nếu dùng những từ như đã nêu thì bài thơ thì bài thơ đâu còn lung linh nữa. Vậy, “thiếu nữ” xứng đáng được xem là nhãn tự. Từ “hồng” ở cuối bài thơ như một dấu son đỏ của người họa sĩ đóng vào bức tranh ký họa mực tàu mới vừa vẽ xong.

Một điểm đặc sắc không thể không nói tới, đó là sự vận động của bài thơ. Cả bốn câu thơ trong bài, câu nào cũng có sự vận động nhưng mức độ khác nhau. Hai câu đầu tả cảnh chiều nơi rừng núi đang chầm chậm vào đêm. Khác với cánh chim mỏi đang vội vã của Bà huyện Thanh quan, cánh chim của Bác không còn vội vã nữa khi đã gần đến đích, trực giác mách bảo chúng ta như vậy là do âm hưởng “mạn mạn” ở câu sau lan tỏa. Suy ngẫm sâu hơn, chúng ta thấy cái vẻ buồn, cô đơn chỉ là vỏ bọc tâm trạng bên ngoài của Bác, thực chất cốt cách vẫn là phong thái ung dung, tự tại của con người nắm vững quy luật thiên nhiên, xã hội. Cảm nhận như vậy chúng ta mới thấy sự thống nhất trong mạch thơ.

Hai câu sau của bài thơ tả cảnh sinh hoạt của con người. Sự vận động ở hai câu thơ này gắn kết, liên tục, không ngưng nghỉ trong những vòng xay quay cối ngô của thiếu nữ. Công việc hoàn thành khi ánh hồng lò than tỏa rực trong màn đêm.

Toàn bài thơ là sự vận động liên tục với hàng loạt động từ như: mỏi, về, tìm, trôi, xay, rực nhưng tuyệt đối tĩnh lặng, không có âm thanh. Khung cảnh núi rừng chiều tối được miêu tả, cảm nhận hoàn toàn bằng thị giác. Không một từ “hoàng hôn”, “tối” hay đêm nhưng đọc bài thơ chúng ta thấy cảnh chiều đang trôi chầm chậm vào đêm rất rõ; rồi nữa câu thơ nào cũng có sự vận động nhưng cảm nhận của người đọc đây là bức tranh tĩnh lặng, yên bình đến lạ thường. Chỉ khi tâm hồn, tài năng người nghệ sĩ hòa làm một mới viết được bài thơ như thế.

Kết bài:

Bài thơ Chiều tối có sự hài hòa giữa phong cách cổ điển với hiện đại, giữa thiên nhiên với tâm hồn. Bài thơ đã cho người đọc thưởng thức bức tranh thiên nhiên đẹp và cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn lớn. Một tâm hồn phong phú, giàu cảm xúc, một tình cảm hồn hậu, thiết tha với thiên nhiên, cuộc sống con người; luôn hướng về sự sống và ánh sáng, một tinh thần lạc quan trong gian khổ. Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui… đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở trong những tháng ngày đau khổ nhất.

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Bài Thơ Chiều Tối Của Hồ Chí Minh

Cảm nhận vẻ đẹp bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh

Khi đọc tập thơ Nhật ký trong tù, nhà thơ Hoàng Trung Thông viết:

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹpÁnh đèn tỏa rạng mái đầu xanhVần thơ của Bác vần thơ thépMà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Đó là một nhận xét rất đúng, bởi vì, ngoài cái cứng cỏi cần phải có để chống lại cái ác trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, thơ Bác còn “Mênh mông bát ngát tình”. Bài thơ “MỘ” (Chiều tối) thể hiện rất rõ điều đó:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên khôngSơn thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”

Bản dịch: CHIỀU TỐI

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa từng khôngCô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng”.

Bài thơ “Chiều tối” (Mộ) là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật ký trong tù”; bài thứ 3 trong 5 bài thơ sáng tác trong chặng đường Bác bị giải đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa đã trở thành ước lệ. Đó là “cánh chim mỏi”, “cô vân”:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa từng không.”

Hình ảnh cánh chim chiều bao giờ cũng gợi nỗi buồn:

“Chim hôm thoi thóp về rừngĐóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành”

(Nguyễn Du)

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn”

(Bà huyện Thanh quan)

Trong thơ mới, Huy Cận cũng đã sử dụng thi liệu cổ rất tinh tế: dùng hình ảnh cánh chim để miêu tả nỗi buồn với không gian và thời gian gắn kết:

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”

Hình ảnh “cô vân” lại gợi cho người đọc sự cô đơn:

“Chúng điểu cao phi tậnCô vân độc khứ nhàn.”

(Lý Bạch)

Đối chiếu với nguyên tác chúng ta thấy ở câu thứ hai bản dịch chưa lột tả được thần thái câu thơ giữa “cô vân”/chòm mây; “mạn mạn”/trôi nhẹ. Chính những hình ảnh ấy gợi cho người đọc âm hưởng cổ thi. Thực ra, hai câu đầu là những cảnh rất thực lúc chiều tối nơi núi rừng. Ở miền núi, có đặc điểm khác biệt chiều tối là tối từ mặt đất tối lên. Vào thời điểm ấy, ánh sáng mặt trời gần như tắt hẳn, lúc ấy chỉ còn chút ánh sáng của ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh cao của bầu trời. Khi ngước nhìn lên chút ánh sáng còn sót lại đó, con mắt nhà thơ nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn (“cô vân”) chầm chậm trôi qua.

Cảnh vật buồn, cô đơn, phù hợp với tâm trạng người làm thơ. Nếu ta nghĩ đến hoàn cảnh người tù nơi đất khách, qua một ngày bị giải đi rất mệt nhọc, trong lòng luôn nhớ về quê hương…thì với mạch cảm xúc ấy, những câu thơ sau có lẽ càng buồn hơn. Nhưng không, thơ Bác có một điểm độc đáo là kết thúc thường rất bẩt ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng)

Khung cảnh được chuyển một cách tự nhiên. Màn đêm buông con người ta thường hướng tới những nơi có ánh sáng, Bác của chúng ta cũng không ngoại lệ. Đó là hình ảnh sáng hồng trong lò than nhà ai nơi xóm núi soi tỏ hình ảnh cô gái xay ngô để chuẩn bị cho bữa ăn chiều.

Một điều làm người đọc trăn trở là bản dịch không giữ nguyên”thiếu nữ” mà lại dùng “cô em”. Từ “thiếu nữ” cho ta thấy chính xác độ tuổi người con gái, độ tuổi trăng tròn. Độ tuổi đẹp nhất, tràn đầy sức sống nhất của đời người phụ nữ. Rất nhiều bức tranh vẽ thiếu nữ khuê các đề thơ, đánh đàn, thổi sáo, nhưng ‘thiếu nữ” trong bài thơ này của Bác lại là một con người đang miệt mài lao động ngay cả khi màn đêm buông. Hình ảnh thiếu nữ ấy kết hợp với từ “sơn thôn” làm cho câu thơ khỏe khoắn, hiện đại.

Về nghệ thuật tả cảnh, bài thơ “Chiều tối” có góc nhìn từ cao xuống thấp, chuyển đổi màu sắc từ tối sang sáng. Thiên nhiên mỏi mệt, nghỉ ngơi nhưng con người vẫn đang làm nốt công việc của mình. Chỉ vài nét chấm phá thôi nhưng bức tranh chiều tối miền sơn cước hiện ra rất yên bình, tĩnh lặng. Nếu không biết đây là bài thơ trong tập Nhật ký trong tù, người đọc sẽ lầm tưởng rằng của một tác giả nổi tiếng nào đó thời Đường.

Thành công của bài thơ là cảnh, tình hòa quyện nhau được thể hiện dưới ngòi bút người nghệ sĩ bậc thầy. Bài thơ là một minh chứng tuyệt vời cho ý kiến: “Thi trung hữu họa”. Toàn cảnh bài thơ như một bức tranh ký họa mực tàu với mấy nét chấm phá: một cánh chim, một chòm mây, một sơn thôn, một ngôi nhà, một thiếu nữ, một bếp lửa.

Đặc trưng của ký họa là càng ít nét vẽ mà khi xem tranh người xem nhận biết được đối tượng, cảm nhận được cái hồn trong tranh thì đó mới là bức tranh tuyệt bích. Tài hoa của nhà thơ là tinh tế trong chọn lọc chi tiết, chọn lọc hình ảnh.

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ là chuẩn mực để các nhà thơ học tập. Người ta xem chữ “hồng” là nhãn tự, đó là điều không phải tranh cãi. Nhưng “mạn mạn”, “thiếu nữ” cũng đáng được xem là nhãn tự lắm chứ. Từ “mạn mạn” sẽ nói ở sau, bây giờ xét từ “thiếu nữ” trước. Chúng ta thử thay thế một từ khác, đảm bảo luật bằng trắc, xem cái hồn câu thơ sẽ như thế nào:

“Sơn thôn lão bá ma bao túc”

Hay:

“Sơn thôn thiếu phụ ma bao túc”

Không cần phải phân tích, nếu dùng những từ như đã nêu thì bài thơ thì bài thơ đâu còn lung linh nữa. Vậy, “thiếu nữ” xứng đáng được xem là nhãn tự. Từ “hồng” ở cuối bài thơ như một dấu son đỏ của người họa sĩ đóng vào bức tranh ký họa mực tàu mới vừa vẽ xong.

Một điểm đặc sắc không thể không nói tới, đó là sự vận động của bài thơ. Cả bốn câu thơ trong bài, câu nào cũng có sự vận động nhưng mức độ khác nhau. Hai câu đầu tả cảnh chiều nơi rừng núi đang chầm chậm vào đêm. Khác với cánh chim mỏi đang vội vã của Bà huyện Thanh quan, cánh chim của Bác không còn vội vã nữa khi đã gần đến đích, trực giác mách bảo chúng ta như vậy là do âm hưởng “mạn mạn” ở câu sau lan tỏa. Suy ngẫm sâu hơn, chúng ta thấy cái vẻ buồn, cô đơn chỉ là vỏ bọc tâm trạng bên ngoài của Bác, thực chất cốt cách vẫn là phong thái ung dung, tự tại của con người nắm vững quy luật thiên nhiên, xã hội. Cảm nhận như vậy chúng ta mới thấy sự thống nhất trong mạch thơ.

Hai câu sau của bài thơ tả cảnh sinh hoạt của con người. Sự vận động ở hai câu thơ này gắn kết, liên tục, không ngưng nghỉ trong những vòng xay quay cối ngô của thiếu nữ. Công việc hoàn thành khi ánh hồng lò than tỏa rực trong màn đêm.

Toàn bài thơ là sự vận động liên tục với hàng loạt động từ như: mỏi, về, tìm, trôi, xay, rực nhưng tuyệt đối tĩnh lặng, không có âm thanh. Khung cảnh núi rừng chiều tối được miêu tả, cảm nhận hoàn toàn bằng thị giác. Không một từ “hoàng hôn”, “tối” hay đêm nhưng đọc bài thơ chúng ta thấy cảnh chiều đang trôi chầm chậm vào đêm rất rõ; rồi nữa câu thơ nào cũng có sự vận động nhưng cảm nhận của người đọc đây là bức tranh tĩnh lặng, yên bình đến lạ thường. Chỉ khi tâm hồn, tài năng người nghệ sĩ hòa làm một mới viết được bài thơ như thế.

Bài thơ “Chiều tối” có sự hài hòa giữa phong cách cổ điển với hiện đại, giữa thiên nhiên với tâm hồn. Bài thơ đã cho người đọc thưởng thức bức tranh thiên nhiên đẹp và cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn lớn. Một tâm hồn phong phú, giàu cảm xúc, một tình cảm hồn hậu, thiết tha với thiên nhiên, cuộc sống con người; luôn hướng về sự sống và ánh sáng, một tinh thần lạc quan trong gian khổ. Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui… đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở trong những tháng ngày đau khổ nhất.

Cảm Nhận Bài Thơ Chiều Tối Lớp 11 (Mộ) Của Hồ Chí Minh

[Văn mẫu lớp 11] – Anh chị hãy nêu cảm nhận về bài thơ Chiều tối – Hồ Chí Minh

Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh – Bác luôn luôn quan niệm rằng “Văn chương phải là thứ vũ khí chiến đấu trên mặt trận văn hóa văn nghệ”. Bác luôn trăn trở rằng viết cho ai , viết cái gì, viết như thế nào, viết để làm gì.

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Nói đến sự nghiệp sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta biết đến ngoài việc là Bác là Bác Hồ kính yêu của chúng ta, là chủ tịch vĩ đại của đất nước Việt Nam. Khi nói đến tên Người – Hồ Chí Minh có một sự nghiêp sáng tác vô cùng đồ sộ và Bác có rất nhiều tác phẩm phục vụ cho cách mạng, phục vụ cho kháng chiến. Nói đến văn chính luận, ta biết đến những tác phẩm đặc sắc như: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Di chúc của Bác” “Tuyên ngôn độc lập”…những tác phẩm này được ra đời trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” của dân tộc. Nói đến “Truyện và kí” , ta biết rằng những bài báo được đăng lên trên những tờ báo của Pháp, đó là việc Bác sử dụng rất nhiều những tác phẩm viết theo cách châm biếm, đả kính, phê phán, lên án…Bác viết những bài này để vạch trần những bộ mặt quỷ dữ và khát máu của Pháp trước toàn thể cộng đồng quốc tế. Với những tác phẩm như là “Những trò lố như là Va-ren và Phan Bội Châu”, “Vi hành” ,…Khi nói đến thơ ca của Hồ Chí Minh, gồm hai mảng chính: Thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Tiêu biểu là bài thơ “Chiều tối” viết về cảnh chuyển lao , khi Bác bị áp tải đi bộ trong một buổi chiều.

Trong bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt thì kết cấu của nó bao giờ cũng là “Khai – thừa – chuyển – hợp” . Đọc tác phẩm ta thấy có sự kết hợp nhuần nhị, đó là vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ phương Đông và ở đó là chất thép cao thường của một người tù cộng sản. Đó là sức chiến đấu trong thơ ca của Bác.

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ”

Ở câu thơ thứ nhất, sức mạnh của văn chương dồn đổ lên từ “quyện” thể hiện sự mệt mỏi, sống như những nhà thơ phương Đông Bác Hồ cũng sử dụng hình ảnh “cánh chim” để gọi về buổi chiều . Thế nhưng sự khác biệt ở đây đó là từ “quyện” nó thể hiện sự mệt mỏi.

“Là một trái tim yêu từ ngọn cỏ nhành hoa

Chỉ biết quên mình cho tất cả

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Ở đây Bác nhìn thấu vào trong từng sự vật hiện tượng, đó là sự mệt mỏi sau một ngày dài lam lũ kiếm sống. Cánh chim của chủ tịch Hồ Chí Minh rất khác trong thơ ca phương Đông. Trong thơ ca phương Đông luôn luôn là hình ảnh bầy chim bay về nơi vô định để gợi tả cảnh buổi chiều. “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” . Cánh chim trong tác phẩm lại không bay về chỉ để đơn thuần gợi tả cảnh chiều mà lại bay về rừng đang “quy lâm” để “tầm túc thụ”, đang bay về rừng để tìm chốn ngủ. Đó cũng là khát vọng được đoàn viên của Bác. Bác chạnh lòng nhớ nhà trong một ngày dài bị áp tải ở nơi đất khách quê người. Đó là vẻ đẹp của câu thơ thứ nhất, vừa cổ điển lại rất hiện đại.

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Ở đây , “cô vân” là chỉ sự cô đơn , cô quạnh trong một ngày dài buổi chiều bị áp tải. Từ nhà lao này sang nhà lao khác, năm ba cây số một ngày. “Mạn mạn” có nghĩa là chậm chậm nó mang hai dấu nặng đi liền keeff, không chỉ đơn thuần là miêu tả chòm mây bay mà ở đây nó thể hiện bước đi nặng trịch của người cộng sản. Cổ đeo gong, chân tay vướng xiềng xích trong một ngày dài bị áp tài. Vì vậy mà ở đây tác giả viết “Cô vân mạn mạn độ thiên không” một chòm mây trôi châm chậm giữa một bầu trời cao rộng.

Khi ta đọc bài thơ này, ta sẽ thấy một nghịch lý, nghĩa là Bác luôn luôn phê phán thơ xưa:

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp, Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”

Bác thường lên án , phê phán thơ xưa vì thơ xưa “thiên nhiên” bao giờ cũng là chủ thể còn con người thì nhỏ bé côi cút

“Lang thang trên núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Vậy mà nay trong thơ của Bác cũng có hình ảnh “cánh chim” hình ảnh “khu rừng” “bầu trời cao rộng” và cả hình ảnh “chòm mây” . Vậy rõ ràng, điều này có gì là nghịch lý không? Mới nghe qua ta tưởng là nghịch lý, nhưng đọc kĩ ngẫm nghĩ lại thì nó vô cùng hợp lí. Bởi, hai câu trên là viết về thiên nhiên thì hai câu thơ sau lại viết về con người. Vậy, thiên nhiên và con người là song hành , ngang bằng nhau. Thậm chí, thiên nhiên chỉ là nền cảnh để con người xuất hiện. Bác Hồ khép lại cảnh trời chiều và mở ra đó là cảnh trời tối

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Mới nghe qua ta tưởng câu thơ ấy là trong sáng, trong trẻo. Một người tù cộng sản, cổ đeo gong, chân tay vường xiềng xích. Vậy mà lại dành tình thương của mình cho người khác, thế nhưng, khi đọc kĩ, ta thấy đây là một sự phê phán lớn. “Ma bao túc” “Bao túc ma hoàn” ở đây nó thể cái vòng quay đều đặn và luẩn quẩn của cái cối xay ngô. Tối rồi mà vẫn còn phải lao động vất vả, đó thể hiện là một xã hội áp bức bất công dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Ta tưởng rằng, bài thơ này mở ra là cảnh buổi chiều và khép lại là cảnh buổi tối. Nhưng không, nhãn tự của bài thơ này chính là hình ảnh “lô dĩ hồng” . Trời đã tối đi thì lò than càng bừng sáng. Một nửa đánh bật bóng đen thui, một nửa cân bằng cả hai âm tiết còn lại. Phải chăng Bác là người tay nắm chắc chân lí, mắt nhìn thấu cõi tương lai. Mặc dù bài thơ này được viết vào những năm 1942 – 1943 của thế kỉ trước, nhưng Bác nhìn thấy màu hồng, thấy cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam nhất định thành công thắng lợi. Đó là vẻ đẹp chất thép cao thường của người cộng sản. Đó cũng là lí do khi người ta nói đến chất thép trong thơ Bác, người ta nói rất rõ ra rằng:

“Khi Bác nói trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép, mới có tinh thần thép”

Hay Hoàng Trung Thông đã từng viết

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh Vần thơ của Bác, vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Rõ ràng, không một loại nhạc cụ nào có thể giam cầm được trái tim, tâm hồn của người tù cộng sản. Đó chính là sức chiến đấu trong thơ Bác. Bác không nói chuyện thép, không lên giọng thép. Thế nhưng trong thơ của Bác ngập tràn “tinh thần thép” .

Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Tâm Hồn Hồ Chí Minh Qua Bài Thơ “Chiều Tối”

Nhắc đến thơ Hồ Chí Minh có lẽ ta sẽ nghĩ ngay đến những vần thơ đầy trăng của Bác nhưng đọc “Chiều tối” mới thấy, Bác không chỉ viết hay về những buổi đêm ngập tràn ánh trăng mà, dưới tư cách là một nhà thơ, Bác còn mang một phong cách “thơ chiều” vô cùng riêng biệt. “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ ghi lại cảm xúc thiên nhiên và cuộc sống lúc ngày tàn của Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao vào khoảng cuối thu năm 1942, hình ảnh người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác vừa cổ kính, vừa trữ tình. Qua bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh với một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, con người cùng với ý chí kiên cường và tinh thần thép của người Cộng sản.

Mỗi bài thơ trong “Nhật kí trong tù” lại là một nét phác họa vẻ đẹp con người và tinh thần của Hồ Chí Minh: vẻ đẹp của trái tim, khối óc, vẻ đẹp của tinh thần, ý chí, nghị lực, của lòng khiêm tốn, đức hi sinh cao cả…. Được viết vào một hoàn cảnh đặc biệt: Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, bài thơ là sự tỏa sáng của tâm hồn, nghị lực và trí tuệ của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh ngục tù.

“Chiều tối”, đúng như tiêu đề của nó, là một bức tranh thiên nhiên về cảnh chiều muộn ở nơi rừng núi được người tù Hồ Chí Minh ghi lại trên hành trình chuyển lao. Vì lẽ đó, vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh thể hiện trong bài thơ trước hết là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ với những rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống của con người:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không ;”

Bác nâng niu, trân trọng biểu hiện của sự sống, tinh hoa của thiên nhiên, bởi vậy, ta luôn cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng chiếm vị trí nổi bật trong thơ Bác. Thiên nhiên mở ra trước mắt người đọc với những hình ảnh quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim – chòm mây – bầu trời  cùng với chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời đem lại cảm nhận về một không gian giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn. Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một nỗi buồn trong cảnh, và ngay trong cách nhìn cảnh ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đã thực sự hài hòa với thiên nhiên. Một cách rất tự nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và một chòm mây cô đơn lặng lẽ trôi, nhìn cảnh như thế, dường như Bác đã xóa nhòa đi cái ranh giới giữa người tù và du khách tự do, để tâm hồn mình gắn liền với thiên nhiên, dễ dàng hòa nhập, quyến luyến. Có ai ngờ, ngay cả trong hoàn cảnh bị áp giải mà thiên nhiên lại vẫn hiện lên trong thơ Bác một cách tuyệt đẹp như thế.

Không chỉ thiên nhiên mà cho dù là hoàn cảnh nào Bác cũng không quên nghĩ đến con người:

“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Cô thiếu nữ mải miết xay ngô, ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng hòa với khung cảnh lao động bình dị ấy, như đang reo vui cùng với âm thanh than hồng cháy tí tách. Hai câu thơ sau còn thể hiện được cảm nhận tinh tế của Bác trước hành động của con người trong không gian chiều tối. Không giống như trong thơ cổ, con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật mà lại đem sức sống truyền vào thiên nhiên, khiến khung cảnh chiều tối vốn man mác buồn lại bỗng tràn ngập sinh khí, sự ấm cúng cùng với nhịp sống, lao động của con người. Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người là Người lại tìm thấy được niềm vui. Bài thơ không khép lại cảm giác về bóng đêm đang dần xuống mà lại chan hòa ánh sáng, ánh sáng tạo nên cuộc sống đời thường giản dị, thân thuộc. Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người hiện lên ở trung tâm của bức tranh đã tỏa hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn tắt của cảnh chiều tối nơi núi rừng, khiến người tù cũng thoát khỏi xiềng xích mà quyện mình với cuộc sống hạnh phúc của con người nơi xóm núi nhỏ.

Bên cạnh tình yêu, niềm say mê đối với thiên nhiên, con người, ở bài thơ, ta còn thấy nổi bật lên ý chí kiên cường, tinh thần sắt đá của Hồ Chí chúng tôi bắt gặp một thoáng buồn bã, cô đơn, ảm đạm “rất người” của Bác khi nhìn vào hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân” , thế nhưng, trước ngọn lửa hồng, Bác quên đi việc mình vẫn đang phải bước đi trên con đường đầy ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trang thơ xua tan cái lạnh lẽo của lòng người và cảnh vật. Với lộ trình “năm mươi ba cây số một ngày”, nơi dừng chân có thể là một nhà lao mới hay một nhà kho ẩm ướt, nhưng thật kì diệu là trong hoàn cảnh như vậy, Người vẫn làm thơ, vẫn để cho tâm hồn mình bay bổng lên với một cánh chim, một chòm mây, một làn hương rừng, một cảnh “làng xóm ven sông đông đúc thế”…Thử hỏi, nếu không có một tinh thần thép, một bản lĩnh thép, thơ của người làm sao có thể “bay cánh hạc ung dung” như vậy. Đó thực sự là một cuộc vượt ngục tinh thần của Bác, Người đã hoàn toàn chủ động trước mọi hoàn cảnh, đó chính là vẻ đẹp của ý chí, nghị lực, là tinh thần thép của người Cộng sản Hồ Chí Minh.

Đan xen giữa những câu thơ như một mạch cảm xúc ngầm chính là khát vọng thầm kín và đầy tính nhân văn của Bác. Người tù Cách mạng dù kiên cường, dũng cảm đến đâu cũng luôn mơ ước, khát khao về một tổ ấm, quanh quần bên bếp lửa gia đình. Hình ảnh cánh chim về rừng như đang tìm về tổ ấm của mình, cô thôn nữ xay ngô bên lò than rực hồng, tất cả làm hiện lên khung cảnh bình dị mà ấm cúng nơi quê hường, nơi mái nhà sum vầy, đoàn tụ. Nghĩ về những hình ảnh đời thường, yên bình ấy, ta có thể thấy được chất “người” vô cùng nhân bản trong Bác.

Trong thơ của Hồ Chí Minh, từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều vận động một cách rất tự nhiên, nhất quán, hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai. Ta thấy được một tâm hồn lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào Cách mạng, vào một tương lai tươi sáng, “Chiều tối” cũng không nằm ngoài quy luật đó:

“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng.”

Câu thơ kết thức bằng ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Có thể nói , chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng chói rọi ngược trở lại làm sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời. Những hình ảnh đối lập giữa niềm vui và nỗi cô đơn, buồn bã, giữa chiều tối và bình minh, mặt trời hồng đã thể hiện một phong cách thơ Hồ Chí Minh đầy tinh tế và nhạy cảm, một sứ kết hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại.

Chiều tối giống như bao bài thơ khác, thật nhỏ nhắn trong bố cục nhưng từng câu từng chữ đều như một nét phác họa bức chân dung con người, tinh thần Hồ Chí Minh: một tâm hồn nghệ sĩ dạt dào tình yêu với thiên nhiên, con người; một ý chí sắt đá vượt lên mọi hoàn cảnh, một tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Bức chân dung ấy là sự hòa hợp giữa chất thép và chất tình, thi sĩ và chiến sĩ, như trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Tâm Hồn Hồ Chí Minh Qua Bài Thơ “Chiều Tối”

Nhắc đến thơ Hồ Chí Minh có lẽ ta sẽ nghĩ ngay đến những vần thơ đầy trăng của Bác nhưng đọc “Chiều tối” mới thấy, Bác không chỉ viết hay về những buổi đêm ngập tràn ánh trăng mà, dưới tư cách là một nhà thơ, Bác còn mang một phong cách “thơ chiều” vô cùng riêng biệt. “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ ghi lại cảm xúc thiên nhiên và cuộc sống lúc ngày tàn của Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao vào khoảng cuối thu năm 1942, hình ảnh người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác vừa cổ kính, vừa trữ tình. Qua bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh với một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, con người cùng với ý chí kiên cường và tinh thần thép của người Cộng sản.

Mỗi bài thơ trong “Nhật kí trong tù” lại là một nét phác họa vẻ đẹp con người và tinh thần của Hồ Chí Minh: vẻ đẹp của trái tim, khối óc, vẻ đẹp của tinh thần, ý chí, nghị lực, của lòng khiêm tốn, đức hi sinh cao cả…. Được viết vào một hoàn cảnh đặc biệt: Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, bài thơ là sự tỏa sáng của tâm hồn, nghị lực và trí tuệ của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh ngục tù.

“Chiều tối”, đúng như tiêu đề của nó, là một bức tranh thiên nhiên về cảnh chiều muộn ở nơi rừng núi được người tù Hồ Chí Minh ghi lại trên hành trình chuyển lao. Vì lẽ đó, vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh thể hiện trong bài thơ trước hết là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ với những rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống của con người:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không ;”

Bác nâng niu, trân trọng biểu hiện của sự sống, tinh hoa của thiên nhiên, bởi vậy, ta luôn cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng chiếm vị trí nổi bật trong thơ Bác. Thiên nhiên mở ra trước mắt người đọc với những hình ảnh quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim – chòm mây – bầu trời cùng với chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời đem lại cảm nhận về một không gian giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn. Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một nỗi buồn trong cảnh, và ngay trong cách nhìn cảnh ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đã thực sự hài hòa với thiên nhiên. Một cách rất tự nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và một chòm mây cô đơn lặng lẽ trôi, nhìn cảnh như thế, dường như Bác đã xóa nhòa đi cái ranh giới giữa người tù và du khách tự do, để tâm hồn mình gắn liền với thiên nhiên, dễ dàng hòa nhập, quyến luyến. Có ai ngờ, ngay cả trong hoàn cảnh bị áp giải mà thiên nhiên lại vẫn hiện lên trong thơ Bác một cách tuyệt đẹp như thế.

Không chỉ thiên nhiên mà cho dù là hoàn cảnh nào Bác cũng không quên nghĩ đến con người:

“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Cô thiếu nữ mải miết xay ngô, ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng hòa với khung cảnh lao động bình dị ấy, như đang reo vui cùng với âm thanh than hồng cháy tí tách. Hai câu thơ sau còn thể hiện được cảm nhận tinh tế của Bác trước hành động của con người trong không gian chiều tối. Không giống như trong thơ cổ, con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật mà lại đem sức sống truyền vào thiên nhiên, khiến khung cảnh chiều tối vốn man mác buồn lại bỗng tràn ngập sinh khí, sự ấm cúng cùng với nhịp sống, lao động của con người. Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người là Người lại tìm thấy được niềm vui. Bài thơ không khép lại cảm giác về bóng đêm đang dần xuống mà lại chan hòa ánh sáng, ánh sáng tạo nên cuộc sống đời thường giản dị, thân thuộc. Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người hiện lên ở trung tâm của bức tranh đã tỏa hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn tắt của cảnh chiều tối nơi núi rừng, khiến người tù cũng thoát khỏi xiềng xích mà quyện mình với cuộc sống hạnh phúc của con người nơi xóm núi nhỏ.

Bên cạnh tình yêu, niềm say mê đối với thiên nhiên, con người, ở bài thơ, ta còn thấy nổi bật lên ý chí kiên cường, tinh thần sắt đá của Hồ Chí chúng tôi bắt gặp một thoáng buồn bã, cô đơn, ảm đạm “rất người” của Bác khi nhìn vào hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân” , thế nhưng, trước ngọn lửa hồng, Bác quên đi việc mình vẫn đang phải bước đi trên con đường đầy ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trang thơ xua tan cái lạnh lẽo của lòng người và cảnh vật. Với lộ trình “năm mươi ba cây số một ngày”, nơi dừng chân có thể là một nhà lao mới hay một nhà kho ẩm ướt, nhưng thật kì diệu là trong hoàn cảnh như vậy, Người vẫn làm thơ, vẫn để cho tâm hồn mình bay bổng lên với một cánh chim, một chòm mây, một làn hương rừng, một cảnh “làng xóm ven sông đông đúc thế” …Thử hỏi, nếu không có một tinh thần thép, một bản lĩnh thép, thơ của người làm sao có thể “bay cánh hạc ung dung” như vậy. Đó thực sự là một cuộc vượt ngục tinh thần của Bác, Người đã hoàn toàn chủ động trước mọi hoàn cảnh, đó chính là vẻ đẹp của ý chí, nghị lực, là tinh thần thép của người Cộng sản Hồ Chí Minh.

Đan xen giữa những câu thơ như một mạch cảm xúc ngầm chính là khát vọng thầm kín và đầy tính nhân văn của Bác. Người tù Cách mạng dù kiên cường, dũng cảm đến đâu cũng luôn mơ ước, khát khao về một tổ ấm, quanh quần bên bếp lửa gia đình. Hình ảnh cánh chim về rừng như đang tìm về tổ ấm của mình, cô thôn nữ xay ngô bên lò than rực hồng, tất cả làm hiện lên khung cảnh bình dị mà ấm cúng nơi quê hường, nơi mái nhà sum vầy, đoàn tụ. Nghĩ về những hình ảnh đời thường, yên bình ấy, ta có thể thấy được chất “người” vô cùng nhân bản trong Bác.

Trong thơ của Hồ Chí Minh, từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều vận động một cách rất tự nhiên, nhất quán, hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai. Ta thấy được một tâm hồn lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào Cách mạng, vào một tương lai tươi sáng, “Chiều tối” cũng không nằm ngoài quy luật đó:

“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng.”

Câu thơ kết thức bằng ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Có thể nói , chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng chói rọi ngược trở lại làm sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời. Những hình ảnh đối lập giữa niềm vui và nỗi cô đơn, buồn bã, giữa chiều tối và bình minh, mặt trời hồng đã thể hiện một phong cách thơ Hồ Chí Minh đầy tinh tế và nhạy cảm, một sứ kết hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại.

Chiều tối giống như bao bài thơ khác, thật nhỏ nhắn trong bố cục nhưng từng câu từng chữ đều như một nét phác họa bức chân dung con người, tinh thần Hồ Chí Minh: một tâm hồn nghệ sĩ dạt dào tình yêu với thiên nhiên, con người; một ý chí sắt đá vượt lên mọi hoàn cảnh, một tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Bức chân dung ấy là sự hòa hợp giữa chất thép và chất tình, thi sĩ và chiến sĩ, như trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Cảm Nhận Bài Chiều Tối Của Hồ Chí Minh

(Kenhvanmau.com) – Anh(Chị) hãy cảm nhận bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh. (Bài làm văn của học sinh lớp 11 trường THPT Bình Giang – Hải Dương).

Đề bài: Cảm nhận bài “Chiều tối” của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam, là một danh nhân văn hóa thế giới. Người không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn, Người đã để lại một kho tàng văn học đồ sộ với những tác phẩm có giá trị nhân văn to lớn. Tiêu biểu trong đó là bài Chiều tối.

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

Xay hết lò than đã rực hồng.

Bài thơ nằm trong tập “Nhật ký trong tù” được viết trong khoảng thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở nhà lao tỉnh Quảng Tây. Chiều tối là bài thơ thứ 31, được gợi cảm hứng trong lần chuyển lao từ Quảng Tây sang Thừa Bảo. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn từ tuyệt.

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không.

Ở hai câu thơ đầu bài thơ miêu tả cảnh chiều tối, và người đọc bắt gặp ở đây bút pháp chấm phá quen thuộc của Hồ Chí Minh. Chỉ vài nét nhỏ, mà người đọc có thể thấy được cả một không gian rộng mở. Trong bức tranh buổi chiều đấy, Hồ Chí Minh chỉ vẽ một con chim bay về rừng tìm chốn ngủ. Với những áng mây trôi nhẹ giữa tầng không. Cánh chim và áng mây đó luôn mang trong mình nét cổ thi, được Hồ Chí Minh sử dụng miêu tả cảnh chiều tối, đây là thi liệu quen thuộc, ám chỉ thời gian. Và chỉ cần bấy nhiêu đấy thôi, cũng đủ để gợi ra một bầu trời cao rộng, trong trẻo gợi nên nổi bâng khuâng xao xuyến của lòng người. Cánh chim nhỏ nhoi khiến cho bầu trời rộng thêm, vạn vật đang vận hành theo quy luật của muôn đời. Chim thì bay về tìm chốn ngủ sau một ngày kiếm ăn. Mây thì cứ lửng lơ trôi trên bầu trời chỉ có người đi là chưa được dừng chân, người tù ngục dường như đồng cảm trước sự mệt mỏi của cánh chim kia và cũng khao khát được dừng chân nghỉ lại sau một ngày dài đầy ải. Cảnh vậy đã làm cho con người trở nên xao xuyến bồi hồi. Câu thơ tả cảnh nhưng người đọc vẫn nhận ra một thoáng nao nao của lòng người mang nổi nhớ quê hương.

Xay hết lò than đã rực hồng

Bài thơ đã chuyển từ bức tranh thiên nhiên sang bức tranh đời sống một cách thật tự nhiên với hình ảnh cô em xóm núi xay ngô với anh lửa chiều hồng làm cho bức tranh không còn hưu quạnh nao nào buồn như trước mà nó mang hơi thở ấm áp của cuộc sống. Hình ảnh con người với công việc bình thường gợi nên một vẻ đẹp bình dị tươi tắn như cuộc sống hang ngày hết sức gần gũi, tạo nên một vẻ đẹp khỏe khoắn.

Bài thơ được tả theo hướng vận động từ chiều cho đến tối, từ ngày sang đêm nhưng không gợi sự tối tăm, bi quan, trái lại đầy hơi ấm và ánh sáng được hắt lên từ ánh lửa chiều hôm. Thể hiện nhịp sống của con người được toát lên từ trái tim lạc quan yêu đời của Hồ Chí Minh.

Bài thơ Chiều tối toát lên vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong trạng thái bị áp giải, bị đau đớn về thể chất nhưng vẫn vươn lên trên cảnh ngộ cũng để cảm nhận sự tươi đẹp của cuộc sống. Thể hiện tinh thần của Bác là tinh thần thép, nhưng trái tim vẫn bát ngát nghĩa tình. Từ đó mỗi bản thân chúng ta cũng học hỏi được từ Bác rất nhiều điều. Là cần phải biết sống có nghị lực, sống có quyết tâm, vươn lên, vượt khó để rồi từ đó ta mới cảm thấy yêu thương. Ta càng cảm thấy trân trọng hơn vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc- Hồ Chí Minh.

Tác giả: ANH ĐÀO

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Vẻ Đẹp Bài Thơ Mộ (Chiều Tối) Của Hồ Chí Minh trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!