Xu Hướng 2/2024 # Cảm Nhận Về Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Về Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận về bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân Hương được biết đến là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương, tiếng nói khẳng định, tiếng nói tự ý thức về bản thân đầy bản lĩnh. “Bà chúa thơ Nôm” có chùm thơ “Tự tình” bao gồm ba bài, là tiếng nói của thân phận, là những khát khao, đau buồn của kiếp người. Trong đó, bài thơ “Tự tình II” đã thể hiện rõ tâm trạng, thái độ của nữ sĩ: vừa buồn đau, vừa phẫn uất trước nghịch cảnh éo le cùng khát vọng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch.

Bốn câu thơ mở đầu bài thơ đã cho thấy hoàn cảnh và tâm trạng của nữ sĩ:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Câu thơ gợi nên sự vắng lặng, tĩnh mịch của đêm khuya trong âm điệu buồn thương. Tiếng trống canh giữa đêm khuya cho thấy cảm nhận về bước đi dồn dập của thời gian. Trong thời gian và không gian đó, tác giả cay đắng nhận ra sự bẽ bàng của thân phận, được thể hiện qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ tinh tế, độc đáo. Những từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã được sử dụng để thể hiện tâm trạng: “Trơ” được đặt đầu câu kết hợp với biện pháp đảo nhấn mạnh cảm giác tủi hổ, chai lì. Hai chữ “hồng nhan” lại đi với từ “cái” đặc trưng cho phong cách nghệ thuật vừa trữu tình vừa trào phúng của tác giả, gợi lên ý thức về sự rẻ rúng, mỉa mai của thân phận. Bi kịch về tâm trạng càng được xoáy sâu thêm. Câu thơ: “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” vừa miêu tả ngoại cảnh vừa diễn tả tâm cảnh, thể hiện sự thống nhất giữa thiên nhiên và con người. “Vầng trăng bóng xế” (trăng sắp tàn) mà vẫn “khuyết chưa tròn” trở thành hình ảnh ẩn dụ, nhấn mạnh hai lần bi kịch của cuộc đời nữ sĩ: tuổi xuân trôi qua mà nhân duyên vẫn không trọn vẹn, thậm chí chỉ là sự dang dở.

Ý thức sâu sắc về bi kịch tình duyên, tác giả không chỉ cảm thấy bẽ bàng, tủi hổ mà còn phẫn uất:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Bức tranh thiên nhiên hiện lên với những nét chấm phá về rêu và đá. “Rêu” và “đá” là những sinh vật vô tri vô giác, bé nhỏ nhưng vẫn không chịu khuất phục mà vẫn hiên ngang tồn tại một cách mạnh mẽ: “xiên ngang mặt đất”, “đâm toạc chân mây”. Biện pháp đảo ngữ đưa những động từ mạnh lên đầu câu đã làm nổi bật sức sống mãnh liệt của cỏ cây, cũng chính là ẩn dụ cho tâm trạng phẫn uất muốn vượt lên trên nghịch cảnh éo le của tác giả. Nữ sĩ tuy nhận ra sự ngang trái, éo le của phận mình nhưng không hề cam chịu mà luôn muốn vùng vẫy, vượt lên trên hoàn cảnh bằng những hành động phản kháng.

Bài thơ mở đầu bằng cảm thức về thời gian: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”, và kết thúc cũng bằng cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng chán chường, buồn tủi:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Hai câu thơ tiếp tục thể hiện tài năng trong việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả. “Ngán” mang sắc thái chỉ sự chán ngán, ngán ngẩm. Từ “xuân” được điệp lại hai lần mang những sắc thái ngữ nghĩa khác nhau: vừa chỉ mùa xuân, vừa chỉ tuổi xuân. Mùa xuân của đất trời luôn lặp đi lặp lại theo quy luật tuần hoàn: xuân, hạ, thu, đông nhưng với con người thì tuổi xuân chỉ đến một lần duy nhất, và không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” cũng được sử dụng với hai sắc thái ý nghĩa khác nhau: từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, trong khi đó, từ “lại” thứ hai có nghĩa là quay trở lại, gợi lên sự tuần hoàn, lặp lại. Tất cả đã làm nổi bật ý thức sâu sắc về bi kịch của bản thân và nỗi chán chường khi phải sống trong cuộc sống eo le, ngang trái.

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật tăng tiến ở câu thơ “Mảnh tình- san sẻ- tí- con con” nhấn mạnh bi kịch tình duyên éo le của nhân vật trữ tình. Mảnh tình vốn nhỏ bé lại còn không trọn vẹn, thậm chí là phải “san sẻ”. Câu thơ đã gợi lên hoàn cảnh đầy ngang trái của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa khi phải sống trong cảnh chung chồng, và mang thân đi làm lẽ.

Bài thơ “Tự tình II” đã thể hiện một cách sâu sắc, mãnh liệt khát vọng sống, khát vọng tự do và khát vọng hạnh phúc của tâm hồn một người phụ nữa vừa dịu dàng, đằm thắm vừa mạnh mẽ. Tất cả đã được thể hiện thông qua tài năng trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ và xây dựng hình tượng của “Bà Chúa thơ Nôm”.

Cảm Nhận Về Bài Thơ Tự Tình 2 Của Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương

I. Sơ lược về tác giả, tác phẩm 1. Tác giả

Trước hết, bài cảm nhận về bài thơ Tự tình 2 xin dành vài dòng để giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương. Cho đến hiện tại giới nghiên cứu vẫn chưa đưa ra tài liệu chính xác về năm sinh và năm mất của Hồ Xuân Hương – một nữ sĩ tài danh của làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mặc dù quê của bà ở Nghệ An nhưng bà lại sống gắn bó với mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến. Hồ Xuân Hương may mắn có cơ hội được đi đến nhiều nơi và kết thân với nhiều danh sĩ thế nhưng có một điều không may mắn với bà là cuộc đời, tình duyên lại có lắm ngang trái, éo le.

Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” vì đã đóng góp cho đời những bài thơ chữ Nôm giàu giá trị (sáng của Hồ Xuân Hương bao gồm thơ chữ Hán và chữ Nôm, nhưng thơ Nôm có phần nổi bật hơn). Theo các tài liệu lưu truyền thì tên tuổi của Hồ Xuân Hương gây được tiếng vang là bởi trên dưới 40 bài thơ Nôm. Ngoài ra, Hồ Xuân Hương còn có tập “Lưu hương kí” gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài chữ Nôm. Hồ Xuân Hương để lại ấn tượng trong lòng độc giả nét phong cách trào phúng mà trữ tình, đậm chất văn học dân gian. Với phong cách ấy, bà thường chọn nội dung về người phụ nữ để thể hiện tiếng nói thương cảm, đồng thời cũng khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ.

Nguồn: Internet

2. Bài thơ Tự tình 2

Khi cảm nhận bài thơ Tự tình 2, chúng ta còn cần giới thiệu đôi nét về tác phẩm. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và nằm trong chùm thơ gồm ba bài thơ Tự tình. Chùm thơ nói chung và bài thơ này nói riêng chính là dịp để nhà thơ bày tỏ nỗi niềm của mình trước duyên phận hẩm hiu.

II. Cảm nhận về bài thơ Tự tình 2 1. Hai câu đề

Hai câu đề đã diễn tả nỗi niềm buồn tủi của nhà thơ trong khung cảnh vắng lặng về đêm. Thời điểm ấy được gợi lên rất rõ qua các từ “đêm khuya”, “văng vẳng” và càng trở nên dồn dập hơn khi tiếng “trống canh dồn” hối thúc liên hồi. Tiếng điểm nhịp của thời gian cũng chính là tiếng trống của tâm trạng. Chính tiếng trống ấy đã gợi ra phần nào sức tàn phá của thời gian vì được cảm nhận bằng chính tâm trạng mang cảm thức cô đơn và lo ngại trước bước đi của thời gian.

Từ khung cảnh ấy, nhà thơ gửi gắm chút cảm nhận về sự bẽ bàng của duyên phận. Nếu từ “trơ” có tác dụng nhấn mạnh thì sự kết hợp giữa “hồng nhan” và từ “

cái” ở sau đó lại hàm ẩn sự cay đắng, xót xa. Thế nhưng bên cạnh đó, “trơ” còn được hiểu là sự thách thức, bản lĩnh của những người phụ nữ cá tính như nhân vật trữ tình.

Nguồn: Internet

2. Hai câu thực

Hai câu tiếp theo diễn tả rõ hơn cảnh và tình của nhân vật. Trong thời khắc về khuya mà chủ thể trữ tình còn thao thức hẳn phải có ít nhiều tâm sự. Hình ảnh “chén rượu hương đưa” chính là một sự xác nhận cho điều đó bởi chén rượu nhấm nháp khi trời về khuya là chén rượu chất chứa vô vàn suy tư. Cụm từ “say lại tỉnh” như gợi lên sự luẩn quẩn, rối bời không thể giải tỏa.

Hình ảnh “vầng trăng” vào thời điểm “bóng xế” với tính chất “khuyết chưa tròn” như thấp thoáng trong đó thân phận của người con gái. Với cô, tuổi xuân hình như đã dần trôi qua nhưng tình duyên vẫn còn dang dở, hẩm hiu.

3. Hai câu luận

Cặp câu thứ ba của bài đã bộc bạch niềm khát khao mãnh liệt của con người. Những sinh vật bé mọn như “rêu”, “đá” phải mọc “xiên ngang mặt đất” và “đâm toạc chân mây” như một cách để phản kháng lại ngoại cảnh mà sinh tồn. Dường như tác giả đã mượn hình ảnh ấy để nói thay tâm trạng của mình.

Cặp câu có sử dụng những hình ảnh mạnh mẽ, từ ngữ độc đáo đã gián tiếp thể hiện một tâm hồn tràn đầy sức sống và niềm khao khát mãnh liệt của nữ sĩ họ Hồ. Dù trong nghịch cảnh, dù chịu sự đè nén, vùi dập nhưng vẫn kiên cường, bản lĩnh.

4. Hai câu kết

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Nguồn: Internet

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Hai câu thơ cuối chính là điểm nhấn của việc cảm nhận bài thơ Tự tình một sự thể hiện rõ rệt tâm trạng chán ngán, sầu tủi trước cuộc đời. Trong khi “xuân đi” rồi “xuân lại lại”, tạo hóa vẫn xoay vần như ngàn đời vẫn thế nhưng tuổi xuân với con người một khi đã qua thì không bao giờ trở lại nữa.

Câu thơ cuối cùng giúp người đọc dễ hình dung là bài thơ mang tâm trạng của một thân phận làm lẽ. Nói thế là bởi vì “mảnh tình” đã bé lại còn phải “san sẻ” rồi trở thành “tí con con” thì thật chua cay, đáng thương. Câu thơ kết lại khiến người đọc cảm thấy xót xa, mủi lòng của những “cái hồng nhan” trong xã hội phong kiến xưa khi phải chịu cảnh chồng chung. Đối với họ, có lẽ hạnh phúc thật hẹp, người này đủ đầy thì kẻ khác lại lạc lõng, bơ vơ.

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Riêng Của Hai Bài Thơ “Thương Vợ” (Tú Xương) Và “Tự Tình” (Hồ Xuân Hương)

Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

Bài làm:

” Thế giới không phải được tạo lập một lần mà mỗi một lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện là một lần thế giới được tạo lập” . Sáng tạo luôn là yêu cầu sống còn của văn chương nghệ thuật. Cùng viết về đề tài người phụ nữ nhưng mỗi nhà thơ, nhà văn lại có những nét riêng. Khám phá “Tự tình” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Tú Xương, ta thấy rõ được điều đó. Nếu “Tự tình” là nỗi buồn đau xót , phẫn uất của Hồ Xuân Hương trước duyên phận hẩm hiu thì “Thương vợ” là những yêu thương trân trọng đanh cho người vợ của mình.

Trong lịch sử VHVN, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độc đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữu tình, đậm chất dân gian từ đề tài cảm hứng đến ngôn ngữ hình tượng. Nổi bật trong sáng tác của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm với người phụ nữ, là sự đề cao, khẳng định vẻ đẹp của họ. Tiêu biểu cho tác phẩm về đề tài phụ nữ là bài thơ “Tự tình” – tiếng lòng được nói lên từ trái tim thi sĩ, bộc lộ cảnh éo le ngang trái cùng những nỗi niềm u hòa xót. Nếu Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm, nữ sĩ nổi loạn thì Tú Xương được mệnh danh là ông Hoàng thơ Nôm. Tú Xương là một trong những đại diện xuất sắc trong VHVN cuối thế kỉ XIX. Thơ của Tú Xương gồm hai nhánh: trữ tình và trào phúng. Một trong những tác phẩm nổi bật về vẻ đẹp trữ tình của thơ ông Hoàng là bài thơ “Thương vợ’ – áng thơ hay và cảm động nhất mà Tú Xương dành tặng cho người bạn đời của mình, người mà ông hết lòng yêu thương.

“Tự tình” và “Thương vợ” ra đời trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau nhưng cả hai đều diễn tả một cách chân thực, thấm thía, cảm động thân phận bất hạnh, bi kịch cùng những nét đẹp tâm hồn cao quý của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình riêng tư. Cùng hướng đến sỗ phận bất hạnh và những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ nhưng mỗi bài thơ là một sáng tạo về nội dung, một khám phá về tư tưởng. Đến với “Tự tình” là đến với tiếng nói của người con gái về duyên phận hẩm hiu, éo le, bẽ bàng mang thân đi làm lẽ. Còn đến với “Thương vợ” lại là đến với sự lam lũ, vất vả, nhọc nhằn trước gánh nặng mưu sinh của người vợ, người mẹ qua lăng kính đầy yêu thương, trân trọng của đức ông chồng Nho sinh. Ở “Tự tình’, người phụ nữ sáng lên với khát vọng hạnh phúc cháy bỏng, nghị lực mạnh mẽ, bản lĩnh cứng cỏi, dám nổi loạn, muốn lật nhào mọi luật lệ khắt khe, hà khắc của chế độ phong kiến. Khác với “Tư tình”, hình ảnh bà Tú trong “Thương vợ” là sự hội tự bao phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ VIệt Nam: đảm đang, tháo vát, tần tảo, chịu thương, chịu khó, hết lòng yêu thương và sắn sàng hi sinh tất cả cho chồng con.

“Tự tình” mở đầu với cảnh đêm khuya thanh vắng cùng những nỗi bẽ bàng tủi hổ của người thi sĩ:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non

Từ láy “văng vẳng” diễn tả tiếng trống điểm canh vừa dồn dập, vừa gợi không gian mênh mông, vắng lặng đến rợn ngợp. Đêm khuya, không ai lại đánh trống dồn dập liên hồi trừ trống bao động. Tiếng trống điểm canh lại càng không thể. Thế mà nữ sĩ lại nghe thấy tiếng trống điểm canh dồn dập. Tại sao vậy? Phải chăng lắng qua tâm tình của người phụ nữ? Phải chăng lắng qua tâm tình của người đàn bà luôn khát khao hạnh phúc ngập tràn mà phải chịu cảnh chăn đơn gối chiếc, tiếng trống cầm canh bỗng đổi nhịp trở nên nhanh mạnh? Âm thanh ấy là sự nhắc nhở một cách quái ác về sự trôi chảy của thời gian. Đồng thời, đó cũng là sự giật mình thảnh thốt, hốt hoảng của người đàn bà phận ẩn duyên ôi. Ở câu thơ thứ hai, nữ sĩ dùng đến hai chữ “hồng nhan”, điều đó có nghĩa là thiếu nữ xuân sắc vẫn còn, vậy mà cứ phải trơ ra không kẻ đoái hoài, người quan tâm. Từ “trơ” đắt giá được đảo lên đầu câu, lại tách riêng ra đi nhịp lẻ 1/3/3 khiến nỗi bẽ bàng, chua xót càng hằn sâu nhức nhối. Cô đơn, buồn tủi, nữ sĩ đã tìm đến rượu để giải sầu:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xưa nay những người đàn ông tìm đến rượu giải sầu đã là chuyện bất đắc dĩ. Đằng này, nữ sĩ lại một mình uống rượu suốt đêm thâu, dưới trăng khuyết tàn lạnh là việc cực chẳng đã, uống rượu mà như uống sầu, uống tủi. Có thể thấy rượu và tình đều làm cho người ta say. Bởi thế câu thơ: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh dồn dập, chồng chất bi kịch. Chữ “lại” trong say lại tỉnh ghìm nén một nỗi đắng cay chua xót. Tìm đến rượu chẳng thể giải sầu, thi sĩ chỉ còn biết tâm sự với trăng nhưng cũng chỉ thấy Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Một chuỗi từ ngữ cùng trường nghĩa hiện ra, hao khuyết cứ láy đi láy lại: xế – khuyết – chưa tròn càng khơi sâu thêm nỗi xót xoa trước duyên phận hẩm hiu của nữ sĩ. Từ nỗi xót ca, cay đắng đến uất hận, phẫn nộ. Đó là mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ “Tự tình”. Nỗi niềm phẫn uất dồn nén đã nhiều không chịu ở yên trong lòng nữa mà nó trào ra ùa vào cảnh vật:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đám ấy hòn

Nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với những động từ, tính từ mạnh đã làm đặc tả sự phản kháng mãnh liệt, dữ dội đến mức như muốn “nổi loạn” của tâm hồn nữ sĩ. Hai câu luận mang đậm dấu ấn, bản lĩnh Xuân Hương: đó là một cá tính mạnh mẽ, táo bạo, không bao giờ chịu gục ngã trước hoàn cảnh, không bao giờ cúi đầu trước số phận. Nhưng sau cùng, Tự tình vẫn kết lại trong tâm trạng chán trường ngao ngán:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con

Hai câu kết, Xuân Hương đã sử dụng tài tình từ đa nghĩa. Từ ‘xuân” vừa có nghĩa là mùa xuân vừa có nghĩa là tuổi xuân của con người. Hai chữ “lại” xếp cạnh nhau nhưng lại mang nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nếu chữ “lại’ thứ nhất mang nghĩa thêm một lần nữa thì chữ “lại” thứ hai mang nghĩa là sự trở lại tuần hoàn. Ngao ngán thay khi mùa xuân của đất trời cứ tuần hoàn còn tuổi xuân, tình yêu cứ một đi không trở lại. Nghịch cảnh éo le hơn qua nghệ thuật tăng tiến trong câu thơ: mảnh tình – san sẻ – tí con con. Câu thơ như một tiếng than chua xót được chắt ra từ sâu thẳm cõi lòng của ngừoi đàn bà mang thân đi làm lẽ.

Cùng viết về đề tài người phụ nữ, nhưng “Thương vợ” cũng có nét độc đáo rất riêng. Ngay từ những nét phác họa đầu tiên, sự vất vã, nhọc nhằn cùng sự tần tảo đảm đang của người phụ nữ đã hiện lên một cách xúc động qua tấm lòng yêu thương của Tú Xương:

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

Thơ trước là sự, sau là tình. Ẩn sau câu thơ tái hiện cuộc sống buôn bán nhọc nhằn , vất vả của bà Tú là ánh mắt dõi theo đầy xót thương của ông Tú. Cách nói ” nuôi đủ “ ẩn chứa í vị xâu xa. Nó chất chứa bao nỗi vất vả nhọc nhằn của bà Tú. Bằng cách nói này, Tú Xương đã hạ mình xuống hàng con, nhân lên nhiều lần công ơn to lớn của bà Tú. Ngoài bộ lộ niềm tri ân với vợ, cách nói ” nuôi đủ ” còn kín đáo thể hiện nỗi niềm cay đắng của người con đất Vị Hoàng. Đường đường là nam nhi sức dài vai rộng mà lại pahri ăn bám vào vợ. Câu thơ hằn lên nỗi niềm cay đắng, tủi hổ rất Tú Xương. Xót xa trước nỗi cơ cực, đắng cay của vợ, Tú Xương cứ miên man kể khổ, kể nhục :

Lặn lội thân có khi quẵng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Câu thơ của Tú Xương đã đưa người đọc về với miền ca dao, dân ca xưa cùng với hình ảnh : cái cò, thân cò,… Bắt nguồn từ cao dao, dân ca nhưng Tú Xương vẫn có sáng tạo rất tinh tế. Ca dao nói theo chiều thuận ” thân có lặn lội “ Tú Xương lại đảo ngược ” lặn lội thân cò “. Ca dao đặt hình ảnh cái cò trong không gian vắng lặng, lộng gió thì Tú Xương để ” thân cò ” trong không gian, thời gian khi quẵng vắng, mênh mông, heo hút, rợn ngợp. Cái cò trong cao dao ” nỉ non tiếng khóc “ còn bà Tú âm thầm, lặng lẽ, hi sinh. Tấm lòng của bà Tú thật cao đẹp và cảm phục biết bao. Bằng tất cả sự thấu hiểu, yêu thương xót xa, chân thành, ông Tú đã dựng nên bức chân dung người vợ tảo tần thấm vị mặn mồ hôi, vị cay đắng của nuóc mắt làm xúc động người đọc. Không chỉ đứng ngoài kể khổ mà Tú Xương còn nhập thân nói lên những tâm tình sâu sắc trong cõi lòng của người vợ thương yêu :

Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công

Phép đếm ” một …hai…năm…mười ” như sự cơ cực, cay đắng chồng chất mà bà Tú phải gánh chịu. Dẫu thế, bà Tú nào có oán trách, kêu ca. Bà Tú vẫn sẵn sàng sả thân, tự nguyện hi sinh. Đến đây, bức chân dung của bà Tú – một người hình mẫu lí tưởng cho người phụ nữ Việt Nam đã hoàn thiện trong nét vẽ yêu thương, kính trọng của Tú Xương. Bà Tú tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt : đảm đang, tháo vát, tảo tần, chịu thương, chịu khó, hết lòng yêu thương chồng con. Cao trào của tình thương vợ dội lên trong hai câu kết :

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Bài thơ kết lại bằng một tiếng chửi. Ông Tú chửi thói đời bất công, trọng nam khinh nữ đã sinh ra những đức ông chồng hờ hững, ăn ở bạc, có cũng như không. Ông Tú còn chửi xã hội đen bạc đã khiến bao đức lang quân dù ngày đêm dùi mài, kinh sử nhưng rút cục vẫn xôi hỏng bỏng không. Và Tú Xương cũng không quên chửi mình, kết tội mình là kẻ ăn bám, là người thừa, vô dụng, vô tích sự. Có thể nói, chửi đời và tự xỉ vả mình là cách thương vợ rất đặc biết của Tú Xương. Đằng sau tiếng chửi ấy là tâm trạng đau đớn, phẫn uất bi kịch của thi sĩ. Bởi thế lời chửi chẳng những thể hiện tấm lòng thương vợ chân thành, sâu sắc mà còn kết đọng bóng đen của thời đại,

Là những sán tác của VHTĐ, ” Tự tình ” (Hồ Xuân Hươn), ” Thương vợ ” ( Tú Xương), là những ánh thơ Nôm được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu niêm luật chặt chẽ, gieo vần, đối ngẫu rất chỉnh. Hai tác phẩm còn gặp nhau ở ngôn từ giản dị trong sáng, tự nhiên, giàu sức biểu cảm và có sự kết hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn hiệu quả các biện pháp tư từ như đảo ngữ, ẩn dụ

” Thương vợ ” và ” Tự tình “, mỗi bài thơ không chỉ là một khám phá về nội dung mà còn là phát minh về hình thức. Là sản phẩm của những ông Hoàng, bà Chúa thơ Nôm, mỗi tác phẩm mang vẻ đẹp riêng. ” Tự tình ” của Xuân Hương thuần chất trữ tình. Ngoài cách bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình còn gián tiếp thể hiện qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, qua hình ảnh mang tính biểu trưng. Không giốn với ” Tự tình “, ” Thương vợ ” lại có sự hòa quyện giữa trữ tình và tự trào. Thêm vào đó, ngôn ngữ và hình ảnh của ” Tự tình ” in đậm cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của một nữ sĩ nổi loạn . Trái lại, hình ảnh ngôn từ của ” Thương vợ ” lại thấm đượm màu sắc dân gian với những thành ngữ quen thuộc, những hình ảnh trở đi trở lại trong bao áng cao dao, dân ca,…

Có thể thấy, Hồ Xuân Hương, Tú Xương đều là những bà Chúa, ông Hoàng thơ Nôm. ” Tự tình “, ” Thương vợ ” là những thi phẩm hội tụ vẻ đẹp của những cây bút tài hoa ấy. Cùng viết về người phụ nữ, nhưng hai nhà thơ lại có nét riêng không giống ai. Đó chính là phong cách của những người nghệ sĩ. Nếu ” Tự tình ” thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, quyết liệt, nổi loạn của nữ sĩ họ Hồ, thì ” Thương vợ ” lại thấm đẫm màu sắc văn học văn hóa dân gian. Tuy có những sự khác nhau, nhưng cả hai tác phẩm đều đã nhận được sự hoan nghênh của thế hệ đời sau và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Nguồn: [Văn học 11] Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

Soạn Văn 11 Tự Tình 2 Của Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương

I. Hướng dẫn soạn về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Đầu tiên, bài soạn văn 11 Tự tình 2 xin được giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương. Bà được sinh ra và lớn lên tại Nghệ An, cụ thể là ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu – đây cũng là nơi xuất thân của nhiều văn nhân mặc khách tài hoa. Đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nguồn tài liệu cung cấp thông tin xác đáng về năm sinh, năm mất của bà nhưng Hồ Xuân Hương là một trong số những tên tuổi lớn cùng với Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, Phạm Thái, Nguyễn Du,… 

2. Bài thơ Tự tình

Khi soạn bài Tự tình 2, chúng ta cần điểm qua một vài điều cơ bản về tác phẩm này. Đây là một tác phẩm trữ tình khá tiêu biểu cho tư tưởng và nghệ thuật của Hồ Xuân Hương. Tự tình 2 được viết dưới hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và là một trong số ba bài thơ Tự tình nổi tiếng của nữ sĩ. Bài thơ nói lên tư tưởng của nhà thơ về quyền được hưởng hạnh phúc tuổi xuân của người phụ nữ trong xã hội phong kiến; đồng thời là sự cảm thông và niềm trân trọng khát vọng giải phóng tình cảm của người phụ nữ trong xã hội ấy.

 

II. Hướng dẫn soạn văn 11 Tự tình 2 qua gợi ý trả lời câu hỏi SGK

Câu 1

Trong bốn câu thơ đầu, hình ảnh của nhân vật phần nào cho thấy tác giả đang ở trong một hoàn cảnh đặc biệt và tâm trạng đặc biệt. Có thể hình dung nhân vật ấy chính là người phụ nữ cô đơn đang nghe thấy văng vẳng tiếng trống trong đêm khuya tĩnh mịch, tiếng trống báo hiệu thời khắc dần qua. 

Người phụ nữ ấy có lẽ cảm nhận rất rõ rệt sự gấp gáp, dồn dập của bước đi thời gian vật lí và đồng thời cũng chính là bước đi thời gian tâm trạng của chính mình. Nỗi niềm lo ngại, e sợ và đầy hoang mang mang được bộc bạch rất rõ ở ngữ điệu và ngôn từ của câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non”. “Trơ” khi kết hợp với cụm “cái hồng nhan” đã diễn tả biết bào sự cay đắng, bẽ bàng của con người về phận hẩm duyên ôi nhưng bên cạnh đó cũng cho thấy sự bản lĩnh, nét cá tính độc đáo của nhân vật trữ tình như một lời thách thức với chính số phận của mình.

Câu 2

Bài soạn văn 11 Tự tình 2 sẽ tiếp tục với việc trả lời câu hỏi thứ hai trong SGK. Câu 5 và 6 của bài thơ cũng là một cặp câu độc đáo trong việc mượn hình tượng thiên nhiên, sự vật để diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận. Trong hai câu thơ nổi bật hai hình ảnh là “rêu” và đá. Đây là những hình ảnh có sức gợi rất hiệu quả về niềm khao khát mạnh mẽ của người phụ nữ – niềm khao khát được đương đầu một cách kiên cường với số phận.

Điều đó được thể hiện bởi vì hai hình ảnh nói trên được tác giả cho kết hợp với hàng loạt những động từ mạnh, “rêu” – “xiên ngang mặt đất”, “đá” – “đâm toạc chân mây”. Những hoạt động mang ý nghĩa phản ứng lại ngoại lực để tồn tại đã gián tiếp cho thấy một tâm hồn tràn đầy nhựa sống và mong muốn được dấn thân vào cuộc đời.

Câu 3

Ý nghĩa hai câu cuối có thể thấy được gói trong hàm ý của từ “xuân”, “lại” và nghệ thuật tăng tiến: “mảnh tình” – “san sẻ” – “tí” – “con con”. Dường như dù cho có đột phá và quyết liệt trong suy nghĩ và hành động như những gì được bộc bạch qua câu thơ 5 và 6 nhưng bây giờ, nỗi niềm và khao khát ấy lại có phần lắng dịu trong bất lực và chán chường. 

Câu thơ thứ 7 hiển hiện biết bao sự chán ngán: thời gian tuổi xuân con người không thể đo song song đồng thời cùng thời gian mùa xuân của đất trời. Trong khi bốn mùa xuân – hạ – thu – đông vẫn xoay vần thì con người chỉ được hạnh phúc của tuổi xuân trong một giới hạn nào đó. 

Đặc biệt, ở câu thơ cuối cùng, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm đến người đọc một lời thở than thầm kín của người phụ nữ khi phải chịu cảnh lẻ loi, cô đơn. “Mảnh tình” nàng có vốn đã bé mọn, nhưng cũng không có quyền được giữ riêng cho mình mà phải “san sẻ” để rồi chỉ có thể nhận về “tí con con”. Đó cũng chính là số phận chung của những “cái hồng nhan” phải chịu cảnh chồng chung trong xã hội phong kiến.

Câu 4

Có thể thấy, bài thơ vừa là tiếng nói ca thán cho một duyên phận bi kịch, nhưng cũng là khúc ca cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Một cách cụ thể, tác giả đã bộc lộ tâm trạng, thái độ vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận nhưng nổi bật hơn cả vẫn là khát vọng sống, sự gắng gượng vươn lên để bày tỏ thái độ không cam chịu, không khuất phục trước cuộc đời. Cũng cần nói thêm, với những nội dung trên, Hồ Xuân Hương đã chuyển tải trong tám câu thơ nhưng lại cụ thể và đi vào lòng người. Đây chính là cơ sở phần nào khẳng định tài năng độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm” trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng. Đây cũng là câu hỏi cuối cùng trong bài soạn văn 11 Tự tình 2 mà chúng ta cần phải tìm hiểu và trả lời trước khi tìm hiểu văn bản này trên lớp.

Phân tích bài thơ tự tình (áp dụng trong kiểm tra và thi)

Cảm nhận về bài thơ tự tình (áp dụng trong bài kiểm tra và thi)

Soạn bài câu cá mùa thu ngắn gọn, đủ ý

Như vậy qua bài soạn văn 11 Tự tình 2, Kien Guru  đã giúp các bạn học sinh có thêm gợi ý để trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài học trong SGK. Mong rằng, đội ngũ biên tập đầy nhiệt huyết của Kien Guru sẽ có thể tiếp tục đồng hành và hỗ trợ các bạn trong việc chuẩn bị những bài soạn thật tốt trước khi đến lớp.

2 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương

2 bài văn mẫu Nghị luận bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng lạ, độc đáo trong văn học Việt Nam, những vần thơ bà viết về phụ nữ rất lạ và táo bạo thể hiện những khao khát hết sức nhân bản của con người. Bài thơ Tự tình II đã nói lên nỗi lòng của người phụ nữ trong cảnh lấy chồng chung, đồng thời cũng bộc lộ khát vọng bứt phá, tự do hết sức mãnh liệt.

Bài thơ mở đầu bằng lời bộc bạch đầy u sầu:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Trong đêm khuya thanh vắng, không gian càng trở nên tĩnh mịch hơn, nỗi khắc khoải ngóng đợi chồng trở về lại càng mãnh liệt hơn. Nhưng càng mong lại càng không thấy. Tiếng trống như thúc giục, như làm cho nỗi buồn chồn, lo lắng càng sâu đậm hơn. Đồng thời tiếng trống ấy cũng là sự thông báo về thời gian tâm trạng của người phụ nữ. Nỗi khắc khoải, thảng thốt của người đàn bà. Tâm trạng đơn côi ấy đã được Hồ Xuân Hương khắc họa rõ nét chỉ qua duy nhất một từ “trơ”. Trơ được đảo lên đầu câu, trơ ở đây chính là nỗi niềm cô đơn, trơ trọi, người con gái ấy trơ “cái hồng nhan” với trời với nước một cách buồn tủi, bẽ bàng. Không chỉ vậy hồng nhan kết hợp với từ cái lại khiến cho nó thêm phần rẻ rung, mỉa mai và tội nghiệp. Người phụ nữ cô đơn lặng lẽ đếm thời gian trôi và ý thức sâu sắc hơn nỗi bất hạnh, sự bẽ bàng, tủi hổ của bản thân.

Vậy, họ phải làm gì, phải bằng cách nào mới có thể thoát khỏi tâm trạng sầu muộn tột cùng ấy. Có lẽ cách đơn giản nhất chính là tìm đến với rượu, để giúp con người ta quên đi thực tại phũ phàng:

Chén rượu đưa hương say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Nhưng thực tại lại trớ trêu hơn, tìm đến rượu tưởng say, tưởng quên được nhưng càng uống người phụ nữ lại càng tỉnh ra, càng nhận rõ hơn sự cô đơn của mình. Đau đớn hơn nàng nhìn vầng trăng đã xế, nghĩ đến thân phận mình đã lớn tuổi mà hạnh phúc vẫn chưa trọn vẹn, nhân duyên vẫn “khuyết chưa tròn”. Tình cảnh của Hồ Xuân Hương không phải là hiện tượng cá biết, ta bắt gặp nàng Kiều cũng có nỗi niềm tương tự: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

Đôi mắt Hồ Xuân Hương tiếp tục hướng ra ngoại cảnh, có lẽ bài đang tìm kiếm sự sẻ chia, mong muốn bày tỏ nỗi lòng mình:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Hai động từ “xiên” “đâm” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh trạng thái, sự chuyển biến của thiên nhiên nhưng đây đồng thời cũng chính là tâm trạng của con người. Thiên nhiên cũng mang trong mình nỗi niềm phẫn uất của con người, cỏ cây không mềm yếu mà mạnh mẽ xiên ngang mặt đất; đá cũng tự gọt mình, trở nên rắn chắc hơn để đâm toạc đám mây. Tất cả các sinh vật đều cố gắng, gồng mình vươn lên không chấp nhận những cản trở để vươn tới ánh sáng, vươn tới hạnh phúc. Câu thơ phản ánh nỗi phẫn uất đến tận cùng của Hồ Xuân Hương nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phản kháng, muốn bứt phá, chối bỏ những luật lệ phong kiến hà khắc để được sống và có một hạnh phúc thực sự cho riêng mình. Câu thơ thể hiện nét tính cách mạnh mẽ, táo bạo của Hồ Xuân Hương.

Khép lại bài thơ, Hồ Xuân Hương viết:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con.

Đọc hai câu thơ ta cảm nhận thấy rõ nỗi chán ngán đến tột cùng của Hồ Xuân Hương. Vậy nàng đang ngao ngán điều gì? Nỗi chán ngán của nàng chính là “xuân đi xuân lại lại” , nghĩa là thời gian trôi đi, hết mùa xuân này đến mùa xuân khác, cũng đồng nghĩa với việc tuổi thanh xuân trôi qua mà hạnh phúc người con gái vẫn chưa được tròn vẹn, niềm mong ngóng hạnh phúc dường như ngày một bị thời gian đẩy ra xa hơn. Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 cho thấy tình cảm vốn mong manh, bé nhỏ này lại bị chia năm sẻ bảy, chỉ còn lại tý con con. Câu thơ đầy chán ngán, xót thương, oán thán, tủi hờn. Cũng bởi vậy mà, đã có lần phẫn uất, Hồ Xuân Hương đã lớn tiếng chửi cái kiếp lấy chồng chung: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Hạnh phúc luôn bé nhỏ như chiếc chăn hẹp với khao khát yêu thương to lớn của con người.

Bài thơ cho thấy tài năng nghệ thuật độc đáo của Bà chúa thơ nôm đó là nghệ thuật sử dụng từ ngữ, các động từ mạnh (xiên, đâm), đảo ngữ, dùng những từ ngữ mới lạ độc đáo (trơ cái hồng nhan). Ngoài ra nghệ thuật xây dựng hình ảnh đặc sặc cũng đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

Qua bài thơ, người đọc có thể cảm nhận được tâm trạng đầy tủi hơn, uất hận của Hồ Xuân Hương cho duyên phận hẩm hiu của mình. Đồng thời cũng thể hiện khát vọng vượt thoát và nhu cầu hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của bà. Tiếng thơ của Hồ Xuân Hương cũng là tiếng lòng của biết bao phụ nữ trong xã hội cũ.

Trong nền thơ ca dân tộc đã có rất nhiều những nhà văn, nhà thơ viết về người phụ nữ như Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”, Đặng Trần Côn với “Chinh phụ ngâm” hay Nguyễn Dữ với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” rồi đến những vần thơ của bà Huyện Thanh Quan… nhưng có lẽ tiếng thơ của Hồ Xuân Hương trong bài “Tự tình II” là nỗi lòng tự bộc bạch, tình cảm chân thật của người phụ nữ trong sâu thẳm tâm hồn.

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến bấy lâu phải chịu nhiều thiệt thòi, họ mất đi quyền làm chủ cá nhân, quyền quyết định hạnh phúc cho riêng mình bởi những quan niệm, lễ giáo khắt khe là “Tam tòng tứ đức”, “Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”…Trong xã hội xưa thân sinh làm kiếp đàn bà đã khổ, Hồ Xuân Hương lại còn mang thân phận của người vợ lẽ chịu nhiều thiệt thòi càng đau lòng hơn. Đó là cảm hứng, là nỗi đau xuất phát từ trái tim, tâm hồn người phụ nữ mang trong mình nhiều bất hạnh.

Bài thơ “Tự tình II” tả cảnh đêm khuya thanh vắng, người đàn bà một mình cô đơn lẻ loi không ngủ mà tự ngẫm thương xót cho thân phận, tình cảm của mình. Cảnh vật trong đêm thanh tĩnh, u tịch với “Văng vẳng” của tiếng trống canh dồn. Ta đã từng bắt gặp âm thanh ấy trong bài “Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan: “Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn” dù chỉ là buổi chiều nhưng cũng đủ gợi buồn sâu thẳm huống chi là đêm khuya vắng vẻ chỉ với một thân một mình trong cô đơn. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công tiếng trống dồn canh từ xa vọng lại như thúc giục thời gian trôi qua nhanh, làm cho không gian càng thêm vắng lặng, buồn bã.

Con người hiện lên trên nền cảnh không gian, thời gian ấy là một tấm thân cô độc “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Hồng nhan là sắc mặt hồng cách hoán dụ lấy bộ phận để chỉ toàn bộ ý nói đến người con gái đẹp. Từ “cái” cụ thể hóa đối tượng được nói đến. Từ “trơ” đặc tả trạng thái trơ lì, chai sạn về một phương diện nào đó, ở đây là “trơ” với “nước non” tức là với thế giới tự nhiên và xã hội, nó được đặt ở đầu câu càng nhấn mạnh thêm nỗi xót xa, đau đớn đến không còn cảm giác của tác giả.

Khi buồn, sầu, đau, cô đơn con người ta thường hay tìm đến rượu để tiêu sầu, thi sĩ cũng vậy nhưng bà càng uống lại càng tỉnh:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Người ta nói khi say là khi sống thật với chính mình, với tâm hồn của một thi sĩ uống rượu ngắm trăng là lúc cảm xúc thăng hoa nhất nhưng Hồ Xuân Hương càng uống lại càng tỉnh, tỉnh bao nhiêu thì buồn đau cho thân phận mình bấy nhiêu. Bà ngắm trăng thấy ánh trăng đã tàn mà chưa có một khoảnh khắc nào tròn. Bà ngẫm cho mình thanh xuân cuộc đời người phụ nữ đã trôi đi già nửa mà chưa một lần được hưởng hạnh phúc trọn vẹn yêu thương. Càng hy vọng, càng chờ bao ngày tháng càng thất vọng buồn tủi bấy nhiêu đau. Đó chính là bi kịch của người phụ nữ tài sắc mà duyên phận lại hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã từng cất lên tiếng chửi của thân phận làm lẽ:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”

hạnh phúc là một tấm chăn hẹp trong hoàn cảnh của nhà thơ người vợ lẽ luôn phải chịu thiệt hơn bởi tình cảm không những không được san sẻ mà bị cướp sạch sẽ bởi vợ cả. Nguyễn Du từng cất tiếng khóc thương cho thân phận của kiếp đàn bà:

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Hồ Xuân Hương tuy là số phận hẩm hiu nhưng bà là một con người có cá tính mạnh mẽ. Dù bi thương nhất nhưng vẫn không cam chịu, chấp nhận mà phản kháng mạnh mẽ, dữ dội được thể hiện qua ý chí trong hai câu thơ:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” được sử dụng, các động từ mạnh xiên, đâm với bổ ngữ ngang và toạc nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên. Rêu và đá là hai sự vật nhỏ bé, yếu ớt so với mây trời, mặt đất rộng lớn bao la mà có sức mạnh vô cùng. Nhà thơ vốn là một con người tự tin yêu đời nên nhìn rêu nhìn đá trong vũ trụ bao la vẫn hoạt động mạnh mẽ, sức sống mãnh liệt qua đó cũng cho thấy bản sắc, phong cách của Hồ Xuân Hương: Luôn cảm nhận sự vật dưới cái nhìn mạnh mẽ, hàm chứa một sức sống dào dạt. Dù trải qua nhiều bi kịch, đau thương với đời nhưng bà luôn gắng gượng phản kháng. Hồ Xuân Hương đã có lần tự khẳng định cái tôi cá nhân của mình:

“Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Tuy là mạnh mẽ cứng rắn nhưng một mình bà vẫn không thể thay đổi cho cả xã hội, con người bà không thể thắng được số phận. Bà cất lên tiếng nói nhằm đấu tranh cho quyền lợi hạnh phúc của người phụ nữ nhưng chính bà cũng đang phải chịu nỗi bất hanh. Tuy nhiên tiếng thơ ấy là một hiện tượng mới lạ trong thơ ca trung đại, là khúc ca mở đầu cho những nhà thơ đứng về phụ nữ, bảo vệ và đòi quyền hạnh phúc cho họ.

Bà đau đớn, xót xa than ngẫm cho hoàn cảnh, thân phận chính mình:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở cũng là mùa của tuổi trẻ, thanh xuân người con gái. Mùa xuân của thiên nhiên đi rồi lại đến còn mùa xuân của con người thì đi mãi không trở về “Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha”. Tuổi xuân năm lần bảy lượt qua đi nhưng mảnh tình chỉ có một tí mà vẫn phải san sẻ để rồi chỉ còn tí con con. Từng câu từng chữ thấm đẫm nỗi uất ức, xót xa, ấm ức bởi chưa bao giờ tình cảm được trọn vẹn chẳng khác gì ánh trăng trên trời cao kia đã xế khi chưa tròn. Nghệ thuật tăng tiếng “tí con con” được sử dụng thành công càng làm cho bi kịch của người phụ nữ càng thêm cao, một từ tí con con cực tả nỗi niềm chua xót ngán ngẩm của nhà thơ.

“Tự tình II” là bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự nói lên nỗi lòng của một người phụ nữ lận đường tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn xứng đáng với tấm chân tình của mình. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ cho thấy tài năng thi ca của tâm hồn thi sĩ với việc sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động từ mạnh kết hợp nghệ thuật đảo ngữ và các từ láy “văng vẳng”, “con con” với nghệ thuật tăng tiến càng làm cho bài thơ trở nên sâu sắc, thẫm đượm cái ý cái tình của người phụ nữ có nhiều nét độc đáo, mới lạ trong nền thơ ca văn học dân tộc.

Những hình ảnh giản dị với tâm trạng vừa buồn tủi, xót xa lại vừa uất ức cho thân kiếp làm lẽ, đồng thời cũng là bi kịch và khát vọng hạnh phúc cá nhân của Hồ Xuân Hương. Bài thơ truyền tải ý nghĩa nhân văn sâu sắc tới độc giả dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng con người vẫn cố gắng vươn lên muốn thay đổi số phận, thay đổi nghịch cảnh mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn với hạnh phúc lứa đôi và tình duyên trọn vẹn.

3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương

2 bài văn mẫu Phân tích hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

– Giới thiệu về hình tượng người phụ nữ trong thơ ca trung đại: đã đi vào thơ văn của các tác giả trung đại với niềm cảm thông sâu sắc

– Giới thiệu nữ sĩ Hồ Xuân Hương và hình tượng người phụ nữ trong Tự tình (II): Hồ Xuân Hương đặc biệt bởi bà được mệnh danh là “nhà thơ nữ viết về phụ nữ”, trong bài thơ, Tự tình (II), hình tượng người phụ nữ với bi kịch tình yêu, hạnh phúc hay rộng ra là bi kịch thân phận đã được khắc họa rõ nét

Hình tượng người phụ nữ với tình cảnh lẻ loi, cô đơn

Người phụ nữ với tình cảnh lẻ loi giữa:

– Thời gian: Đêm khuya (quá nửa đêm) → Yên tĩnh, con người đối diện với chính mình, sống thật với mình

– Không gian: Yên tĩnh vắng lặng (nghệ thuật lấy động tả tĩnh)

– Âm thanh: “Văng vẳng” → từ láy miêu tả âm thanh từ xa vọng lại (nghệ thuật lấy động tả tĩnh) ⇒ gợi nhắc con người về bước đi của thời gian

+ ” Trống canh dồn” → tiếng trống dồn dập, liên hồi, vội vã

⇒ Người phụ nữ một mình trơ trọi, đơn độc trước không gian rộng lớn:

Người phụ nữ với nỗi cô đơn, buồn tủi và bẽ bàng về duyên phận

– Trơ”: Trơ trọi, lẻ loi, cô đơn nhưng đồng thời cũng là trơ lì: thách thức bền gan

+ Kết hợp từ ” Cái + hồng nhan”: vẻ đẹp của người phụ nữ bị rẻ rúng

+ Nghệ thuật đảo ngữ → nhấn mạnh vào sự trơ trọi nhưng đầy bản lĩnh của người phụ nữ ⇒ điều này càng làm tăng sự xót xa, chua chát

⇒ Nỗi cô đơn khủng khiếp của con người

Hình tượng người phụ nữ với nỗi niềm buồn tủi

– Chén rượu hương đưa: Người phụ nữ buồn tủi tìm đến rượu để giải sầu trong đêm

– Say lại tỉnh: Vòng luẩn quẩn không lối thoát

⇒ Người phụ nữ càng say lúc tỉnh càng đớn đau cho số phận mình

– Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn: Hiện tượng thiên nhiên nhưng đồng thời nói lên nỗi buồn khi tuổi xuân sắp qua đi mà hạnh phúc vẫn còn chưa trọn vẹn

⇒ Thân phận hẩm hiu của người phụ nữ

Hình tượng người phụ nữ với niềm phẫn uất và sự phản kháng trước số phận hẩm hiu

Người phụ nữ với bản lĩnh không cam chịu, như muốn thách thức số phận được bộc lộ thông qua những hình ảnh thiên nhiên:

+ Rêu: không chịu mềm yếu mà “xiên ngang” mặt đất

+ Đá: phản kháng mạnh mẽ mà “đâm toạc chân mây”

+ Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh

+ Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt

⇒ sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng

⇒ Sự phản kháng mãnh liệt của người phụ nữ, một sức sống mãnh liệt ngay trong những tình huống bi thảm nhất

Hình tượng người phụ nữ cuối cùng quay trở lại với tâm trạng chán trường trước số phận hẩm hiu

– Bi kịch của người phụ nữ ở chỗ : Họ phản kháng, không cam chịu thua cuộc nhưng kết quả lại thua cuộc

+ Ngán: ngán ngẩm, chán chường

+ xuân đi xuân lại lại: Mùa xuân trôi qua rồi mùa xuân quay trở lại nhưng tuổi xuân người phụ nữ trôi qua sẽ không bao giờ quay trở lại được nữa

⇒ Người phụ nữ ngán ngẩm lẽ đời éo le khiến bản thân phải chịu số phận hẩm hiu, sự trở lại của màu xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân

– Nghịch cảng của người phụ nữ càng éo le hơn bởi:

+ Mảnh tình: vốn đã là tình tảm không trọn vẹn

+ San sẻ tí con con: Vậy mà phải san sẻ để cuối cùng chỉ còn “tí con con” ⇒ xót xa, tội nghiệp

⇒ Đây có thể là tâm trạng của một người mang thân đi làm lẽ ⇒ Nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa khi với họ “tình yêu là một chiếc chăn quá hẹp”

III. Kết bài

– Khái quát những nét đặc sắc nghệ thuật góp phần thể hiện thành công hình tượng người phụ nữ với bi kịch cá nhân: ngôn ngữ điêu luyện, khả năng sử dụng hình ảnh giàu sức tạo hình, đảo ngữ, đối…

– Trình bày suy nghĩ bản thân về hình tượng người phụ nữ trong xã hội cũ và liên hệ thực tế

Trong xã hội phong kiến với những lễ giáo khắt khe người phụ nữ luôn phải chịu nhiều cay đắng, thiệt thòi. Họ bị ràng buộc bởi “Tam tòng tứ đức”, bởi “Công dung ngôn hạnh” mà mất đi quyền làm chủ, quyền hạnh phúc. Đó là nguồn cảm hứng cho các nhà văn nhà thơ luôn có tấm lòng nhân đạo đồng cảm, xót thương cho con người. Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ có nhiều tác phẩm viết về đề tài người phụ nữ cũng là để than ngẫm, thương xót cho chính thân phận của mình. Chùm thơ Tự tình của bà gồm ba bài là sự phản ánh đặc sắc tâm tư, tình cảm của nhà thơ. Trong đó Tự tình bài II được coi là bài thơ hay nhất khắc họa hình ảnh người phụ nữ “hồng nhan bạc phận” đường tình duyên không trọn vẹn, quá lứa lỡ thì nhưng luôn khao khát có một hạnh phúc bình dị, đời thường.

Người phụ nữ xuất hiện trong hoàn cảnh không gian, thời gian là đêm khuya thanh vắng con người trở nên cô đơn, bé nhỏ, lạc lõng cùng với biết bao những đắng cay, tủi hờn cho thân phận bẽ bàng của mình.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Người phụ nữ ấy có nhan sắc “hồng nhan” vẻ đẹp bên ngoài cũng là để nói đến cái phẩm hạnh, đức hạnh “tấm lòng son” ở bên trong nhưng lại phải chịu số phận bất hạnh, dở dang. Từ “Trơ” đứng ở đầu câu càng nhấn mạnh thêm nỗi đau. Nếu xét về phương diện tính cách của Hồ Xuân Hương có cá tính mạnh mẽ, táo bạo thì đó lại là sự thách thức, trơ lì ra của một con người chịu quá nhiều tủi hờn, đau buồn mà trơ ra với “nước non”. “Cái hồng nhan”gợi sự rẻ rúng bị coi khinh. Người phụ nữ đầy đủ vẻ đẹp hình thể và tâm hồn nhưng phải sống một cuộc đời khổ đau, hẩm hiu về duyên phận.

Hồ Xuân Hương ý thức được số phận của người phụ nữ sống trong chế độ phong kiến thối nát phải chịu nhiều ngang trái nên bà muốn mượn chén rượu, mượn chút hương nồng để quên đi nỗi sầu. Nhưng càng uống càng tỉnh càng ý thức rõ ràng hơn về thực tại khổ đau, bà luôn luẩn quẩn trong vòng xoáy nghịch cảnh của cuộc đời.

Bà chúa thơ Nôm không phải là người phụ nữ cam chịu, chấp nhận số phận mà bà luôn mang trong mình cá tính táo bạo kháng cự quyết liệt. Bà đã từng lên tiếng khinh bỉ, coi thường những bậc nam nhi vô dụng trong xã hội xưa mà nói rằng:

“Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Một con người tự tin dám khẳng định bản thân mình thì không bao giờ chịu chấp nhận nghịch cảnh mà thay vào đó là một ý thức phản kháng mạnh mẽ, muốn vượt lên số phận, mong mỏi một hạnh phúc đời thường. Bà nhìn thấy trong những sự vật nhỏ bé tưởng chừng như yếu ớt nhưng lại mang trong mình một sức sống dồi dào

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Trong đôi mắt của một tâm hồn mạnh mẽ thì những vật vô tri vô giác như rêu, đá cũng căng tràn nhựa sống mà “xiên ngang”, “đâm toạc” được cả những sự vật lớn lao, rộng lớn là “mặt đất”, là “chân mây”. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến không phải ai cũng ý thức và có được thái độ cứng rắn như Hồ Xuân Hương.

Càng kháng cự bao nhiêu càng cho thấy khao khát được hạnh phúc bấy nhiêu. Người phụ nữ cần và đáng được hưởng một mái ấm gia đình, được chồng yêu thương chăm sóc, tay ấp tay gối bên chồng chứ không phải cô đơn, giường đơn gối chiếc trong đêm khuya thanh vắng một mình xót xa, tủi hờn.

Nhưng càng ước vọng bao nhiêu lại càng thất vọng, thương xót cho thân phận mình bấy nhiêu khi

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Hồ Xuân Hương chán chường, ngán ngẩm khi ngày qua ngày hết năm này qua năm khác “xuân đi xuân lại lại” nhưng vẫn cô đơn lẻ bóng một mình, bà cũng xót xa cho tuổi xuân của mình qua đi, tuổi đời càng thêm nhưng tình yêu chưa bao giờ được trọn vẹn, được thương yêu với đúng nghĩa của một người làm vợ. Mảnh tình ấy đã mỏng manh, ít ỏi lại còn phải “chia năm sẻ bảy” để rồi chỉ còn “tí con con”. Mặc dù thi sĩ là người có tài năng, giỏi giang, xinh đẹp đức hạnh nhưng phải chăng vì lẽ “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” mà bà cũng không thể vượt qua được nghịch cảnh của số phận.

Thương thay cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa khiến cho Nguyễn Du thi hào nhân đạo chủ nghĩa của nhân loại cất lên tiếng khóc:

“Đau đớn thay thân phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Với tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc cùng với các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương đã khắc họa được hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn phải chịu nhiều bất hạnh, đắng cay nhưng chưa bao giờ thôi khao khát hạnh phúc gia đình, hôn nhân trọn vẹn, có thể làm chủ được số phận của mình. Bên cạnh đó càng điểm tô thêm vẻ đẹp và những phẩm chất, đức hạnh của người phụ nữ Việt Nam cần được gìn giữ và tiếp nối.

Hồ Xuân Hương một nữ sĩ đại tài của văn học Việt Nam, bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Các vần thơ của bà tập trung nói về người phụ nữ với sự ý thức cao độ về vẻ đẹp hình thức và nhân cách. Nhưng đằng sau những vần thơ ấy còn là nỗi đau thân phận bị rẻ rúng. Nỗi niềm đó được thể hiện trong rất nhiều bài thơ của bà, và một trong những bài thơ đó không thể không nhắc đến bài Tự tình II.

Văn bản nằm trong chùm thơ Tự tình gồm có ba bài. Cả ba bài đều thể hiện nhất quán nỗi tự thương mình trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi và khao khát hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt. Những vần thơ còn thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng.

Trước hết thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu đưa hương say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Trong đêm khuya tĩnh mịch, cái sự vật đều trở về trạng thái lặng thì tiếng trống “vắng vẳng” nghe càng trở nên da diết, dồn dập hơn, nó như thúc giục người phụ nữ về sự chảy trôi của thời gian, của thanh xuân. Câu thơ thứ hai diễn tả nỗi niềm trơ trọi, cô đơn của những người phụ nữ trong không gian quạnh hiu đó. Từ “trơ” được đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh hơn nữa vào thân phận bất hạnh của họ. Từ “hồng nhan” vốn được hiểu là người con gái xinh đẹp, có nhan sắc. Nhưng đến đầu thế kỉ XVIII chữ “hồng nhan” thường gắn liền với yếu tố “bạc mệnh”: để nói lên số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phon kiến: “Rằng hồng nhan tự thuở xưa/ Cái điều bạc mệnh có chưa ai đâu” hay “Hồng nhan quen thói má hồng đánh ghen”. Trong bài thơ này, Hồ Xuân Hương dùng từ “hồng nhan” với ý nghĩa hồng nhan bạc mệnh, diễn tả nỗi niềm chua xót trước thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Trong nỗi đau của kẻ hồng nhan bạc mệnh, nhân vật trữ tình tìm đến rượu để quên, đến trăng để bầu bạn nhưng chén rượu uống vào muốn say mà lại càng tỉnh, ngắm trăng lại càng nhận rõ thân phận bất hạnh của bản thân. Trăng sắp tàn mà vẫn khuyết, cũng như con người thanh xuân sắp qua mà tình duyên vẫn còn lận đận, lỡ dở.

Bốn câu thơ đầu, khung cảnh nhuốm màu tâm trạng của nhân vật trữ tình, kết hợp với thủ pháp tương phản: một bên là con người cô đơn, nhỏ bé với một bên là không gian rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ (hồng nhan/ nước non), thờ gian đêm mênh mông, quạnh vắng, lạnh lùng với sự bé nhỏ của người phụ nữ (vầng trăng, trống canh); rượu không thể làm con người khuây khỏa, say lại tỉnh,… tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nổi bật sự cô đơn, buồn chán của nhân vật trữ tình – người phụ nữ.

Không chỉ vậy, người phụ nữ còn ý thức về hạnh phúc và nỗi đau thân phận. ý thức về hạnh phúc ngày càng rời xa, nhân vật trữ tình có những phản ứng hết sức quyết liệt:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Hai câu thơ thể hiện một sức sống mạnh mẽ, khỏe khoắn bằng những hình ảnh thơ hết sức độc đáo: rêu, đá. Rêu vốn là loài cây mềm mại, nhỏ bé nhưng dưới con mắt của tác giả những đám rêu tưởng nhỏ bé, yếu đuối đó lại “xiên ngang mặt đất” mà trỗi dậy tìm sự sống; hòn đá tưởng chừng như chỉ đứng bất động trước sự chảy trôi của thời gian lại có thể “đâm toạc chân mây”. Dưới con mắt của Hồ Xuân Hương tất cả các sự vật tưởng như bất động, không có sự sống lại được tác giả cấp cho sức sống tràn trề, mạnh mẽ. Nhưng không dừng lại ở đó hình ảnh những sự vật đó kết hợp với cụm từ “xiên ngang” “đâm toạc” đã cho thấy sự bứt phá, không cam chịu số phận đau khổ, tủi hèn của nhân vật trữ tình. Đặt trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ khi người phụ nữ luôn được giáo dục với tinh thần cam chịu, nhẫn nhục, an phận thủ thường thì câu thơ mang nhiều ý nghĩa tích cực, tiến bộ. Người phụ nữ trong bài thơ không chấp nhận số phận mà bộc lộ niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc, mở ra khả năng đấu tranh để đạt được tình yêu hạnh phúc về cho chính mình. Ý thơ này thống nhất với những bài thơ khác trong chùm thơ Tự tình của bà: “Thân này đâu đã chịu già tom” – khát vọng tình yêu được thể hiện nhất quán.

Nhưng trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”, câu thơ cất lên đầy ai oán chua xót. Trong một bài thơ khác Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” để cho thấy rõ hơn số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Tuổi xuân người con gái có được là bao nhiều, xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy. Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ – càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.

Bằng khả năng điều khiển ngôn ngữ tài tình, Hồ Xuân Hương đã cho người đọc phần nào thấy được thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, tình yêu bị san sẻ, hạnh phúc không thể với đến. Nhưng đồng thời còn thấy được khát khao hạnh phúc mãnh liệt của họ. Qua những vần thơ đó Hồ Xuân Hương cũng lên án xã hội phong kiến đã kìm kẹp nhu cầu hạnh phúc chính đáng của con người.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Về Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!