Xu Hướng 12/2022 # Cảm Nhận Về Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết) / 2023 # Top 15 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Cảm Nhận Về Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết) / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Về Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết) / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận về bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (dàn ý và bài làm chi tiết)

I, Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm, phạm vi phân tích

1, Tác giả:

– Là lá cờ đầu của phong trào thơ ca Cách Mạng Việt Nam

– Các sáng tác của ông luôn gắn liền với sự nghiệp Cách Mạng

– Là nhà thơ trữ tình chính trị,

– Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc

2, Tác phẩm:

-Bài thơ “Từ ấy” rút từ phần “Máu lửa” trong tập thơ cùng tên “Từ ấy”. “Từ ấy” là tập thơ đầu tay của Tố Hữu, tập hợp những sáng tác của ông từ năm 1937 đến năm 1946

3, Nội dung phân tích: bài thơ là khúc hát say mê, hứng khởi của người chiến sĩ trẻ tuổi khi bắt gặp lý tưởng cộng sản

1, Khái quát:

– Hoàn cảnh sáng tác: tháng 7 năm 1938, ra đời nhân một sự kiện có ý nghĩ quan trọng với nhà thơ. Đó là khi Tố Hữu được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản.

2, Phân tích:

a, Khổ 1: Tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lý tưởng cộng sản (trích thơ)

-Thời điểm “Từ ấy”: là khi Tố Hữu được giác ngộ Cách Mạng, được dẫn dắt vào con đường giải phóng dân tộc

– Hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ”, “mặt trời chân lý”: thể hiện niềm vui khi tìm thấy lẽ sống cao đẹp cho cuộc đời trong buổi đầu đến với Cách Mạng

– Những từ ngữ “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” khẳng định lý tưởng cộng sản mở ra cho thế giới tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới

b, Khổ 2: Lý tưởng cộng sản làm thay đổi nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình (trích thơ)

-Đại từ nhân xưng “tôi”: bộc lộ sâu sắc ý thức cá nhân

– Từ “buộc”, “trang trải”: thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của nhà thơ với quần chúng cần lao

– Các từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ”: chỉ đối tượng là quần chúng lao khổ trên mọi miền đất nước

– Hình ảnh ẩn dụ “khối đời”: khiến khái niệm về cuộc đời vốn trừu tượng trở nên hữu hình

c, Lý tưởng cộng sản giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm ích kỉ, hẹp hỏi để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ

– Kết cấu định nghĩa “tôi…là” được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp điệu khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của nhà thơ khi gắn kết với cộng đồng

– Điệp từ “của” kết hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”, “em”, “con”: tình cảm của nhà thơ với quần chúng nhân dân gần gũi, khăng khít như anh em ruột thịt

– Điệp từ “vạn” kết hợp với các hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”: thể hiện những số phận cơ cực, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Từ đó nói lên tình nhân ái bao la, mang tính giai cấp

3, Đánh giá:

a, Nghệ thuật:

– Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc

– Nhịp điệu thơ dồn dập, da diết

– Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cộng sản

b, Nội dung:

– “Từ ấy” là bản tuyên ngôn về nhận thức và quan điểm sáng tác của Tố Hữu

+ Tuyên ngôn về nhận thức: nhà thơ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó với quần chúng lao khổ

+ Tuyên ngôn về nghệ thuật: sáng tạo văn học không mơ mộng, viển vông, người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, gần gũi với quần chúng nhân dân

+ Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình chính trị

III, Kết bài: Tóm gọn nội dung vấn đề và nêu suy nghĩ của bản thân

Bài thơ “Từ ấy” được sáng tác vào tháng 7 năm 1938, nhân một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời nhà thơ. Đó là thời điểm nhà thơ được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản. Khổ thơ đầu mở ra bằng tâm trạng vui sướng của tác giả khi bắt gặp lý tưởng cộng sản:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”.

Thời điểm “từ ấy” là khi Tố Hữu được giác ngộ Cách Mạng, được dẫn dắt vào con đường giải phóng dân tộc. Vì thế, hai tiếng “từ ấy” trở nên vô cùng thiêng liêng. Đó không chỉ là nhan đề, là tứ thơ mà còn là điểm tựa cho sự phát triển của cả bài thơ. Để thể hiện niềm vui dạt dào say mê khi tìm thấy lẽ sống cao đẹp, Tố Hữu đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp: “nắng hạ”, “mặt trời chân lý”. Hình ảnh “mặt trời chân lý” như một lời khẳng định lý tưởng cộng sản như ánh mặt trời đem lại sự sống cho khắp thế gian, từ đó bộ lộ thái độ thành kính, trân trọng của người thanh niên trẻ tuổi. Không chỉ vậy, nhà thơ còn so sánh tâm hồn mình với một khu vườn đầy hoa lá, rộn rã ấm thanh và rực rỡ sắc màu. Những từ ngữ “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” khẳng định lý tưởng cộng sản mở ra cho thế giới tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới. Khổ thơ đầu như một khúc nhạc rộn ràng , ngân vang niềm tin yêu, hứng khởi. Từ đây, một thế giới mới mở ra, một chân trời hồng trải rộng. Sang khổ thơ thứ hai, người đọc cảm nhận được sự tác động mạnh mẽ của lý tưởng cộng sản đã làm thay đổi nhận thức của nhân vật trữ tình:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồng tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”.

Khổ thơ bắt đầu bằng đại từ nhân xưng “tôi” bộc lộ sâu sắc ý thức cá nhân của tác giả. Từ “buộc”, “trang trải” thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của nhà thơ với quần chúng cần lao. Nhà thơ tự nguyện buộc lòng mình với mọi người để gắn kết, chia sẻ, để hòa nhập vào cái ta chung của toàn dân tộc. Các từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ” chỉ đối tượng là quần chúng lao khổ trên mọi miền đất nước. Trên con đường hòa nhập ấy là sự cảm thông chân thành với bao hồn khổ, là ý thức sâu sắc về sức mạnh của khối đời. Hình ảnh ẩn dụ “khối đời” khiến khái niệm về cuộc đời vốn trừu tượng trở nên hữu hình hơn bao giờ hết. Khổ thơ là sự gắn kết của cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng. Khi cái tôi hòa vào cái ta chung sẽ tạo nên một cuộc đời gắn bó, tạo nên một sức mạnh lớn lao. Sự biến đổi trong nhận thức ấy chính là tình nhân ái của chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, lý tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có lẽ sống mới, mà còn giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm cá nhân để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ:

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ”.

Kết cấu theo lối định nghĩa “tôi…là”được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp điệu khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của nhà thơ khi gắn kết với cộng đồng. Hơn thế nữa, điệp từ “của” kết hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”, “em”, “con” còn cho thấy tình cảm của nhà thơ với quần chúng nhân dân gần gũi, khăng khít như anh em ruột thịt. Điệp từ “vạn” kết hợp với các hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ” thể hiện những số phận cơ cực, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Lý tưởng Cách Mạng đã cho người cộng sản trẻ tuổi một tâm hồn lãng mạn Cách Mạng chứa chan tình yêu với cuộc sống và quần chúng lao động. Tố hữu tự nguyện chọn một chỗ đứng trong lòng dân tộc, coi mình là một thành viên ruột thịt trong gia đình quần chúng cần lao. Tất cả đã thể hiện rất rõtinh thần dân tộc, tính nhân đạo sâu sắc.

Về nghệ thuật, bài thơ đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc. Nhịp điệu thơ dồn dập, da diết, diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cộng sản. Về nội dung, tác phẩm không chỉ đánh dấu cột mốc quan trọng trong cuộc đời Cách Mạng mà còn là bản tuyên ngôn về nhận thức và quan điểm sáng tác của Tố Hữu. Nhà thơ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó với quần chúng lao khổ. Tố hữu sáng tạo văn học không mơ mộng, viển vông. Người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, gần gũi với quần chúng nhân dân. Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình chính trị.

“Từ ấy” được sáng tác trong những ngày đầu Tố Hữu đến với Cách Mạng nên bài thơ mang giọng điệu lạc quan, tin tưởng, tràn đầy hy vọng. Sự lạc quan, tin tưởng ấy đã giúp người thanh niên trẻ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc đời hoạt động Cách Mạng sau này. Bài thơ giúp các thế hệ sau có cơ hội hiểu rõ hơn về một thời khó khăn nhưng đáng tự hào của dân tộc.

Phạm Ngọc Khuê

Lớp 11S3 – Trường THPT Kim Liên, Hà Nội

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Mẫu 2) / 2023

Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Dàn ý mẫu 2)

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

3. Nội dung cảm nhậna. Từ ấy là lúc, là khi nhà thơ được giác ngộ cách mạng, một kỉ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một số bài thơ: “Mẹ không còn nữa, con còn Đảng – Dìu dắt con đi chửa biết gì” (Quê mẹ)“Mặt trời chân lí” là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lí tưởng cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa Cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã “chói qua tim” đem lại ánh sáng cuộc đời như “bừng” lên trong nắng hạ – một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng.Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timLí tưởng cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự kiện biến đổi kì diệu mà lí tưởng cách mạng đem lại.Hồn ta là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim“Hồn” đã trở thành “vườn hoa lá” một vườn xuân đẹp ngọt ngào hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ Tố Hữu. Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ (mặt trời chân lí), tác giả lựa chọn sử dụng từ ngữ rất chính xác, hình tượng và gợi cảm” bừng”, “chói”, “đậm”, “rộn” để diễn ta thay hay niềm say mê lí tưởng “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” (Agagông – Pháp)b. Hai khổ thơ (2,3) nói lên sự gắn bó với nhân dân, những người nghèo khổ (buộc, trang trải, gần gũi) yêu thương nhân dân bằng một tình yêu giai cấp (là con…, là em.., là anh…). Cũng là một cách nói nồng nàn của một hồn thơ trẻ trung, sôi nổi. Tố Hữu nay đã già nhưng bài thơ Từ ấy vẫn trẻ và đẹp mãi.

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023

Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, sự nghiệp và thơ ca của ông gắn liền với cách mạng. Thơ của ông gắn bó và phản ánh chân thật những chặn đường cách mạng đầy gian khổ và hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi đầy vẻ vang. Bài thơ Từ ấy đã ghi lại bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Tố Hữu với những cảm nhận và suy tư sâu sắc.

” Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ … Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Bài thơ nằm trong phần máu lửa của tập Từ ấy được viết vào ngày mà Tố Hữu được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim”.

“Từ ấy” là chỉ cái mốc thời gian đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và trong cuộc đời thơ Tố Hữu. Đó là khi Tố hữu 18 tuổi đang hoạt động rất tích cực trong ĐTNCS Huế. Được giác ngộ lý tưởng cộng sản, Tố Hữu vô cùng vui sướng, ông đã hoạt động cách mạng một cách say mê và sau một năm ông được kết nạp vào Đảng. Tức là được đứng vào hàng ngũ danh dự của những con người tiên phong.

Hai câu thơ sau tác giả viết bằng bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh rất sinh động, giàu hình tượng để diễn tả niềm vui sướng vô hạn của buổi đầu tiếp xúc với lí tưởng cộng sản:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Hình ảnh “vườn hoa lá” và “rộn tiếng chim” là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho một thế giới tươi sáng, rộn rã, tràn đầy sức sống. Nhà thơ so sánh hồn tôi như vườn hoa lá, một cách so sánh lấy hình ảnh cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Để từ đó bạn đọc chúng ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ khi đến với cách mạng. Đối với Tố Hữu, lí tưởng cách mạng không chỉ khơi dậy một sức sống mới mà còn mang lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ. Đó là nhà thơ say mê ca ngợi nhân dân, ca ngợi đất nước, say mê hoạt động cống hiến cho cách mạng. Như vậy, khổ thơ mở đầu bài thơ diễn tả niềm vui, niềm say mê và hạnh phúc tràn ngập trong tâm hồn nhà thơ từ khi được giác ngộ lí tưởng cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Những câu thơ trên được viết bằng cảm xúc dạt dào diễn tả tâm trạng, tâm hồn bằng những hình ảnh cụ thể và sinh động đã tạo được một ấ tượng độc đáo, mới lạ so với thơ ca cách mạng đương thời và trước đó. Xong cái hấp dẫn lớn nhất trong thơ Tố Hữu là con người chân thành, tâm hồn trong trẻo, nồng nhiệt đã tìm được một cách diễn đạt rất phù hợp.

Khi giác ngộ lí tưởng Tố hữu đã khẳng định quan niệm mới về lẽ sống. Đó là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với muôn nơi”

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Động từ “buộc” thể hiện một ý thức tự nguyện và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người. “Buộc” còn có nghĩa là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng. Mọi người ở đây là những người lao khổ, những con người cùng chung giai cấp vô sản. Từ “trang trải” khiến ta liên tưởng tới tâm hồn của nhà thơ đang trải rộng với cuộc đời: tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể. “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” là tác giả nói đến tinh thần đoàn kết. “Khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung một cảnh ngộ, cùng chung một lí tưởng, đoàn kết với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng phấn đấu vì một mục đích chung: đấu tranh giành lại quyền sống và quyền độc lập dân tộc. Như vậy, toàn bộ khổ thơ trên bằng lối sử dụng những từ ngữ chính xác, giàu ẩn ý, nhà thơ đã gửi gắm một cách sâu sắc về tư tưởng, tình cảm của mình. Đó là tình yêu thương con người của Tố Hữu gắn với tình cảm hữu ái giai cấp. Nó thể hiện niềm tin của tác giả vào sức mạnh đoàn kết, câu thơ trên cũng là một lời khẳng định: khi cái tôi chan hòa với cái ta, khi cá nhân hòa vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh nhân lên gấp bội. Những câu thơ cũng là biểu hiện nhận thức mới về lẽ sống chan hòa cá nhân và tập thể, giữa cái tôi và cái ta. Trong lẽ sống ấy con người tìm thấy niềm vui và sức mạnh. Sự thay đổi nhận thức ấy, nó bắt nguồn sâu xa từ sự tự giác ngộ lí tưởng cảu nhà thơ Tố Hữu.

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Ở khổ thơ này, nhà thơ tiếp tục ghi nhận những chuyển biến trong nhận thức và hành động thể hiện trong quan hệ với các tầng lớp khác nhau của quần chúng lao động. Ở đây, tác giả đã khẳng định tình cảm gắn bó với “vạn nhà” (Tôi đã là con của vạn nhà: “vạn nhà” là một tập thể lớn lao, rộng rãi, nhưng rộng hơn là toàn thể quần chúng nhân dân lao động, “vạn kiếp phôi pha” là những người sống nghèo khổ, sa sút, vất vả, cơ cực, “vạn đầu em nhỏ” là những em bé lang thang vất vưởng nay đây mai đó). Tình cảm của tác gải thể hiện qua cách xưng hô: con, anh và em, cho ta thấy tình hữu ái giai cấp, tình yêu thương ruột thịt. Điệp từ “đã là” là một điểm nhấn, nó giúp tác giả thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó của mình với quần chúng nhân dân lao khổ. Tác giả đã xác định mình là một thành viên trong đại gia đình quần chúng lao khổ. Tình cảm ấy trở nên cao quý hơn khi ta hiểu được Tố Hữu vốn là một trí thức tiểu tư sản, có lối sống đề cao cái tôi cá nhân, ích kỉ, hẹp hòi. Nhà thơ đã vượt qua giai cấp của mình đế đến với giai cấp vô sản với tình cảm chân thành và điều này chứng tỏ sức mạnh cảm hóa mạnh mẽ lí tưởng cách mạng đối với những người trí thức tiểu tư sản.

Với cách sử dụng linh hoạt các bút pháp tự sự, trữ tình và lãng mạn, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, ngôn ngữ rồi sử dụng từ ngữ giàu tình cảm, giàu hình ảnh. Bài thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc, tinh tế sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một thanh niên ưu tú khi được giác ngộ lí tưởng cách mạng và được vinh dự đứng trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng. Bài thơ cũng thể hiện những nhận thức mới về lẽ sống, đó là lẽ sống gắn bó hài hòa giữa cái tôi riêng với cái ta chung của mọi người. Cũng như sự chuyển biến sâu sắc của nhà thơ, bài thơ cũng có ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thơ ca của Tố Hữu. Nó là tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng và cũng là tuyên ngôn của nhà thơ chiến sĩ. Bài thơ cũng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và chính trị, sử dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ ca truyền thống nhưng giàu hình ảnh và giàu nhịp điệu lời thơ giản dị khiến nó dễ đi vào lòng người đọc.

Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận (Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết) / 2023

Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận (dàn ý và bài làm chi tiết)

I, Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, phạm vi phân tích

1, Tác giả:

-Là một trong những trụ cột của phong trào thơ mới

– Trước Cách Mạng, ông thường viết về thiên nhiên, vũ trụ với nỗi buồn của con người gắn bó với quê hương, đất nước.

– Sau Cách Mạng, hồn thơ lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động.

2, Tác phẩm:

-Trích trong tập thơ đầu tay “Lửa thiêng” (1939)

3, Nội dung phân tích: bài thơ là nỗi lòng của một cá thể cô đơn trước vũ trụ vô tận, trước dòng đời mênh mang

1, Khái quát:

a, Hoàn cảnh sáng tác: Trích trong tập thơ đầu tay “Lửa thiêng” (1939)

-Cảm hứng sáng tác: Cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu, khi tác giả một mình đứng ở bờ Nam bến Chèm, nhìn cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước

b, Nhan đề:

+ Phép điệp âm “ang” à gợi hình ảnh con sông lớn, rộng mênh mông

+ Là một từ Hán Việt cổ nên gợi hình ảnh con sông cổ kính, lâu đời.

c, Lời đề từ:

+ Thâu tóm nội dung của cả bài thơ

+ Các hình ảnh “trời rộng”, “sông dài” gợi những phạm vi, không gian khác nhau

+ Cảm xúc của nhà thơ: nỗi buồn nhớ nhẹ nhàng, man mác

2, Phân tích:

a, Khổ 1: “Tràng giang” mở ra bằng hình ảnh dòng sông mang nỗi sầu nhân thế (Trích 4 câu thơ)

-Câu 1:

+ Gợi sự vận động hết sức nhỏ bé, nhẹ nhàng của sóng

+ Từ láy “điệp điệp” khiến nỗi buồn trở nên cụ thể, chồng chất lên nhau

+Trên dòng tràng giang mênh mông, nổi bật hình ảnh một con thuyền lẻ loi, trôi vô định

+ Cụm từ “thuyền về nước lại” đọc lên nghe như có gì đó chia lìa đôi ngả.

+ Cụm từ “sầu trăm ngả”: nỗi sầu vô hướng, tỏa rộng khắp không gian

-Câu 4:

+ Hình ảnh “củi một cành khô” gợi cái cô đơn, nhỏ bé, phù du

+Số từ “một” gợi sự ít ỏi, “cành khô” gợi sự khô héo, “lạc” mang nỗi sầu vô định, vô hướng

b, Khổ 2: Huy Cận như vẽ thêm cảnh qua một cái nhìn bao quát hơn (trích 4 câu thơ)

-Câu 1,2:

+ Từ láy “lơ thơ” với biện pháp đảo ngữ: nhấn mạnh cái trống trải, thưa thớt của cảnh vật trên cồn cát

+ Từ “đâu” có thể hiểu là đâu có hoặc đâu đó. Nhưng hiểu theo cách nào thì âm thanh nhỏ nhoi-biểu tượng cho dấu vết con người cũng quá mỏng manh, mờ nhạt

-Câu 3,4

+ Huy Cận đã thể hiện được sự vận động, mở rộng về mọi hướng của không gian

+ Cụm từ “sâu chót vót” khiến không gian được mở rộng theo 3 chiều: dài, rộng, cao

c, Khổ 3: Nỗi buồn của cảnh vật gắn với nỗi sầu nhân thế (trích thơ)

-Câu 1,2

+ Hình ảnh “bèo dạt về đâu hàng nối hàng”: gợi sự bấp bênh, trôi nổi của những kiếp người vô định

+ Hình ảnh “bờ xanh tiếp bãi vàng”: thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, không có bóng dáng của con người

-Câu 3,4

+ Cấu trúc phủ định “không….. không” phủ nhận hoàn toàn những kết nối của con người

d, Khổ 4: Nỗi cô đơn được mở lên chiều cao với những hình ảnh đối lập (trích thơ)

-Câu 1,2

+ Bút pháp chấm phá: mở ra hình ảnh những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc

+ Câu thơ thứ 2 có thể hiểu theo 2 nghĩa: chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều sa xuống tràng giang hay chính bóng chiều đè nặng lên cánh chim làm cánh chim nghiêng lệch

-Câu 3,4:

+ Từ láy “dợn dợn”: thể hiện nỗi niềm cô đơn, bang khuâng

+ 2 chữ “nhớ nhà”: gợi hình ảnh một người lữ thứ xa nhà lẻ loi, dừng bước bên bờ tràng giang

+ Huy Cận không cần nhìn khói hoàng hôn cũng nhớ nhà bởi nỗi nhớ ấy không phụ thuộc vào ngoại cảnh mà xuất phát từ tâm can

3, Đánh giá:

a, Nghệ thuật:

– Sử dụng những chất liệu, thi liệu gần gũi với đời sống

– Bút pháp chấm phá, lấy cảnh để nói tâm trạng được sử dụng linh hoạt

– Tiếp thu và làm mới thơ cổ điển

b, Nội dung:

-Nỗi buồn, nỗi cô đơn của tác giả khi đứng trước quê hương nhưng quê hương đã không còn

– Mong muốn tìm kiếm hơi ấm của con người nhưng cái nhận lại chỉ là thất vọng cùng cô đơn

– Bộc lộ kín đáo lòng yêu nước sâu đậm

– Tổng kết lại vấn đề

– Nêu cảm nhận của bản thân

Bài thơ “Tràng giang” trích trong tập thơ đầu tay “Lửa thiêng” (1939), được lấy cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu, khi tác giả một mình đứng ở bờ Nam bến Chèm, nhìn cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước. Nhan đề “Tràng giang” sử dụng phép điệp âm “ang” gợi hình ảnh con sông lớn, rộng mênh mông. Bên cạnh đó, “tràng giang” còn là một từ Hán Việt cổ nên còn gợi hình ảnh con sông cổ kính, lâu đời. Không chỉ có nhan đề đặc biêt, bài thơ còn gây ấn tượng bởi lời đề từ đặc biệt. Lời đề từ tuy ngắn gọn nhưng thâu tóm nội dung của cả bài thơ. Các hình ảnh “trời rộng”, “sông dài” gợi những phạm vi, không gian khác nhau nhưng đều lớn lao, mênh mông, có tầm vũ trụ. Từ đây, nhà thơ muốn gửi gắm một nỗi buồn nhớ nhẹ nhàng, man mác.

Trước hết, khổ thơ đầu mở ra bằng hình ảnh dòng sông mang nỗi sầu nhân thế:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điêp

Con thuyền xuối mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Hình ảnh “sóng gợn tràng giang” gợi sự vận động hết sức nhỏ bé, nhẹ nhàng của sóng. Đó là cái gợn rất khẽ, rất nhẹ của một dòng sông lớn như từ vạn kỉ đổ về. Cặp từ láy “điệp điệp” khiến nỗi buồn trở nên cụ thể, chồng chất lên nhau, nối tiếp nhau không dứt. Trên dòng nước tràng giang, nổi bật hình ảnh con thuyền lẻ loi đang xuôi mái như không hề có bóng người:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Cụm từ “thuyền về nước lại” đọc lên nghe như có gì đó chia lìa đôi ngả. Đặc biệt, ba chữ “sầu trăm ngả” đặt ở cuối câu khiến nỗi sầu trở nên thấm thía, lan tỏa khắp không gian. Chính bởi mang trong lòng nỗi sầu thương lớn mà nhà thơ sẵn sàng đồng cảm với một cành củi khô. Hình ảnh “củi một cành khô” gợi cái cô đơn, nhỏ bé, phù du. Số từ “một” gợi sự ít ỏi, “cành khô” gợi sự khô héo, “lạc” mang nỗi sầu vô định, vô hướng. Hình ảnh này đã phản chiếu trọn vẹn cảm nhận của nhà thơ về sự nhỏ nhoi, nổi trôi đến tê tái của kiếp người giữa dòng đời vô tận. Khổ thơ là những cảm nhận tinh tế trước thiên nhiên sông nước, qua đó bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng cô đơn của nhà thơ. Nếu khổ thơ đầu, tác giả chú ý đến cảnh mặt nước với bao chia lìa, thì ở khổ thơ thứ hai, Huy Cận như vẽ thêm cảnh qua một cái nhìn bao quát hơn:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Từ láy “lơ thơ” được đảo lên trước nhấn mạnh cái trống trải, thưa thớt của cảnh vật trên cồn cát. Từ láy “đìu hiu” theo chia sẻ của huy Cận rằng tác giả đã học được từ câu thơ trong bài “Chinh phụ ngâm” (Đoàn Thị Điểm). Điều đó đã làm sống lại không khí trống trải, thê lương của thơ xưa. Từ “đâu” có thể hiểu là đâu có hoặc đâu đó. Nhưng hiểu theo cách nào thì âm thanh nhỏ nhoi-biểu tượng cho dấu vết con người cũng quá mỏng manh, mờ nhạt. Cái nhìn của Huy Cận còn bao quát cả phạm vi không gian, từ cao đến thấp, từ gần đến xa:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Cụm từ “sâu chót vót” khiến không gian được mở rộng theo ba chiều: dài, rộng, cao. Không gian mở ra đến đâu thì nỗi buồn, sự cô liêu được mở theo đến đấy. Đó là cảm giác bơ vơ, lạc lõng của tác giả trước thiên nhiên, trời rộng, sông dài. Càng khao khát, mong mỏi tìm kiếm hơi ấm cho tâm hồn giá lạnh thì thiên nhiên lại đáp trả nhà thơ bằng những hình ảnh quạnh quẽ, đìu hiu. Dường như khi nhìn cảnh vật, ta thấy được một nỗi sầu nhân thế:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông thường được dùng trong thơ cổ điển, gợi sự bấp bênh, trôi nổi của kiếp người vô định. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một cánh bèo mà là “hàng nối hàng”, càng ợi lên cảm giác cô đơn. Hình ảnh “bờ xanh tiếp bãi vàng” cũng là minh chứng cho sự ngự trị của thiên nhiên, không hề có bóng dáng của con người. Cấu trúc phủ định “không… không” như phủ nhận hoàn toàn kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn bao trùm. Cuối cùng, khép lại những “nỗi buồn mang mang thiên cổ sầu” là sự cô đơn đến tha thiết qua những hình ảnh đối lập:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Bút pháp chấm phá với hình ảnh “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” mở ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Câu thơ “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” có thể hiểu theo hai cách. Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều sa xuống tràng giang hay chính bóng chiều đè nặng lên cánh chim làm cánh chim nghiêng lệch. Từ láy “dợn dợn” tương ứng với cụm từ “vời con nước” mang theo nỗi niềm cô đơn, bâng khuâng. Hai chữ “nhớ nhà” cuối bài đã khắc họa chân dung của một người lữ thứ xa nhà lẻ loi, dừng bước bên bờ tràng giang. Huy Cận không cần nhìn khói hoàng hôn cũng nhớ nhà bởi nỗi nhớ ấy không phụ thuộc vào ngoại cảnh mà xuất phát từ tâm can. Đây có lẽ cũng là nét tâm trạng chung của các nhà thơ lúc bấy giờ, là nỗi buồn của cả một thế hệ.

Về nghệ thuật, bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa thơ cổ điển và hiện đại. Tuy nhiên, nhưng chất liệu văn học mà tác giả sử dụng lại vô cùng giản dị, gần gũi. Bút pháp chấm phá, lấy cảnh để nói tâm trạng được sử dụng linh hoạt, tinh tế. Bài thơ được bao trùm bởi những nỗi buồn nối tiếp nhau không dứt. Đó là tâm trạng của con người đang đứng trên quê hương nhưng quê hương đã không còn. Nhà thơ mong muốn tìm kiếm hơi ấm, dấu vết của con người nhưng cái nhận lại chỉ là dấu vết ngự trị của thiên nhiên mà thôi.

“Tràng giang” là tác phẩm tiêu biểu cho tập “Lửa thiêng” cũng như phong cách thơ Huy Cận trước Cách Mạng. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại. Từ nỗi cô đơn, lẻ loi của kiếp người, nhà thơ đã tái hiện nỗi sầu nhân thế và từ đó bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận.

Phạm Ngọc Khuê

Lớp 11S3 – Trường THPT Kim Liên, Hà Nội

Từ khóa tìm kiếm:

dàn ý bài Tràng Giang

dàn ý tràng giang

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Về Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu (Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết) / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!