Xu Hướng 2/2024 # Cảm Nhận Khi Đọc Tập Thơ: Sóng Ngầm Của Ngô Nguyễn # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Khi Đọc Tập Thơ: Sóng Ngầm Của Ngô Nguyễn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận khi đọc tập thơ: SÓNG NGẦM của NGÔ NGUYỄN

Cảm nhận khi đọc tập thơ:

Nhận được tập thơ Sóng Ngầm cũng đã mươi ngày nhưng bận quá nên chiều nay tôi mới “lôi” Sóng Ngầm ra đọc. Giở đi giở lại, cứ vẩn vơ ý nghĩ: thơ tình của nhà thơ tuổi đã xấp xỉ 80 không biết cái “khoản yêu” kia có được ” hùng hục như trâu húc bờ” hay chỉ ” lả lướt” vài ba nét nhấn nhá cho có chút vị gọi là hương yêu? Nghĩ thế nên tôi chưa vội đọc mà lẩn thẩn ngồi đếm xem tập thơ có bao nhiêu bài. Vâng. Tập thơ nho nhỏ, xinh xinh với 80 bài, đa phần là những bài thơ ngắn, số đông là thơ tình. Đúng như tiêu đề của tập thơ: SÓNG NGẦM – Thơ tình ** Ngô Nguyễn đã trình làng.

Cũng lâu rồi, tôi lười đọc, lười viết nên hôm nay sẽ chịu khó ghi lại vài dòng cảm nhận khi đọc Sóng Ngầm, vừa để luyện trí nhớ, chống lão hóa, vừa có bài đưa lên trang blog cá nhân. Vâng! Tiện cả đôi đường! Rất thực dụng đấy ạ!

Đọc Sóng Ngầm, với những câu: Ngỡ như/ mắc bả bùa yêu/ Bốn con mắt/ cứ vụng về tìm nhau (Mắt chạm mắt), chắc sẽ có ai đó nhăn mặt: Thơ gì mà xưa cũ thế? Ờ thì… Đứng trước người mình “thích”, mình “si mê”, ai chẳng có những phút giây ” vụng về” khi đưa mắt ” tìm nhau“. Tình huống đấy quen lắm nhưng không hề cũ, mà luôn luôn mới. Tình yêu với những rung cảm của trái tim thì làm gì có chuyện cũ? Yêu là yêu! Thế thôi! Phải yêu, phải ” thèm yêu” thì mới có những hình ảnh đẹp, lãng mạn, đầy chất thơ: Lâu nay/ khô cạn ước mong/ Dập dờn cánh bướm/ uốn cong dáng chiều...(Thèm yêu) chứ? Khi yêu, ai lại lôi khái niệm cũ mới ra để so đo?!

Ở tuổi gần 80 mà tình yêu (đôi lứa) trong ông vẫn đằm những khát khao trẻ trung, bạo dạn: Áo em/ cháy đỏ lũy tre/ Ngỡ là bó đuốc/ đốt hè nóng ran… (Áo đỏ), vẫn như những “khối tình” đượm sẵn lửa: Môi em/ diềm phải bao diêm/ Môi anh vừa chạm/ bật lên cháy bùng… (Nụ hôn đầu), vẫn thòm thèm những trận yêu được “cuồng loạn”: Nụ hôn/ cuồng loạn bão mưa/ Hạn lâu/ cơn lũ chỉ vừa mát cây! (Hạn hán). Đấy! Gần 80 tuổi, tưởng thi sĩ đi lại còn khó khăn, thở còn đã nhọc, đã khó, ấy vậy mà thi sĩ Ngô Nguyễn vẫn hừng hực “máu lửa” như thế, kém sung sức so với thanh niên cũng đâu có nhiều.

Tuy là nói vui như thế, nhưng thật lòng, thơ Ngô Nguyễn ít có những giằng xé dữ dội của tâm trạng, của những ham muốn yêu đương xác thịt mà thường là những chuyển biến rất nhẹ nhàng, những xáo trộn tình cảm vẫn còn nằm trong sự “kiểm soát” và “giữ gìn” của lý trí, kiểu: Ừ thì,/ gió thoảng mây bay/ Ừ thì,/ chỉ cái chau mày/ nhếch môi….(Ừ thì)… của những nỗi buồn chơi vơi, của những xâm chiếm nhẹ nhàng hồn cốt: Được lời/ em đến thăm nhà/ Ngó cau/ cau mới đang hoa/ bao giờ (Mùa cau)… Tình yêu đấy “sạch” quá, “lành” quá. Ôi! Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả hê… thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán… Vâng! Tôi quan niệm tình yêu phải vậy. Có lẽ do tuổi tác, do “tạng người” mà tình yêu trong thơ thi sĩ Ngô Nguyễn mới mang mang gam trầm?

Tuy không nhiều, dù ” hiếm hoi” gặp sự ” nổi loạn” của Ngô Nguyễn trong tình yêu như ở “Em – Áng mây chiều”: Gió tứ phía/ Thốc bập bùng/ Cánh diều nổi loạn/ bứt tung dây giằng!, hay như trong “Bão gần”: Bão nào đến/ tự nơi xa/ Từ cô hàng xóm/ thốc qua nhà mình… nhưng sự ” nổi loạn ” chỉ thoảng qua “bấy nhiêu” thôi cũng đã “thổi” vào “hồn yêu” của ông thêm sắc diện, khiến thơ Ngô Nguyễn đậm thêm chút hương vị của tình yêu.

Tập thơ Sóng Ngầm với những bài thơ “ấn tượng”: Tiếng Kinh, Mùa Cau, Lưng Lửng… với những câu thơ có thể gọi là tinh tế, như: Mắt nàng/ nào phải lưỡi dao/ Liếc mòn vẹt đá/ chém nhào ngã cây…(Mắt), Gặp em/ nửa lạ/ nửa quen/ Nửa vồ vập/ nửa mon men rụt rè (Nửa), Nỗi sầu/ thấm ướt trang kinh/ Gió lùa hoang lạnh/ rùng mình/ kinh rơi! (Tiếng Kinh), Ngắn dài/ chân vẫn chân thôi/ Miễn là/ đỡ được thân người thẳng ngay! (Chân dài),… tuy không mới, chưa thật sự đặc sắc nhưng như thế cũng đã có sức nặng đủ để níu giữ Sóng Ngầm đọng lại trong tâm trí người đọc.

Gập tập thơ lại, tôi cứ tiếc: Giá nhà thơ Ngô Nguyễn “máu lửa” thêm chút nữa, bạo liệt “xác thịt” thêm chút nữa… Nhưng rồi tôi lại thần người với suy nghĩ: Gần 80 tuổi rồi mà vẫn yêu được như thế là nhà thơ vẫn còn sung sức lắm, oách lắm, còn hơn chán vạn kẻ… Vài chục năm nữa, không biết tôi (kẻ đang than thở) có “máu lửa” bằng nửa của nhà thơ không? Hay lúc đấy có cố lê lết nụ cười cũng đã là quá khó…

Hà Nội, chiều 27 tháng 09 năm 2024

Cảm Nhận Khi Đọc Tập Thơ Sóng Ngầm Của Ngô Nguyễn

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TẬP THƠ SÓNG NGẦM CỦA NGÔ NGUYỄN

Nhận được tập thơ Sóng Ngầm cũng đã mươi ngày nhưng bận quá nên chiều nay tôi mới “lôi” Sóng Ngầm ra đọc. Giở đi giở lại, cứ vẩn vơ ý nghĩ: thơ tình của nhà thơ tuổi đã xấp xỉ 80 không biết cái “khoản yêu” kia có được “hùng hục như trâu húc bờ” hay chỉ “lả lướt” vài ba nét nhấn nhá cho có chút vị gọi là hương yêu? Nghĩ thế nên tôi chưa vội đọc mà lẩn thẩn ngồi đếm xem tập thơ có bao nhiêu bài. Vâng. Tập thơ nho nhỏ, xinh xinh với 80 bài, đa phần là những bài thơ ngắn, số đông là thơ tình. Đúng như tiêu đề của tập thơ: SÓNG NGẦM – Thơ tình Ngô Nguyễn đã trình làng.

Cũng lâu rồi, tôi lười đọc, lười viết nên hôm nay sẽ chịu khó ghi lại vài dòng cảm nhận khi đọc Sóng Ngầm, vừa để luyện trí nhớ, chống lão hóa, vừa có bài đưa lên trang blog cá nhân. Vâng! Tiện cả đôi đường! Rất thực dụng đấy ạ!

Đọc Sóng Ngầm, với những câu: Ngỡ như/ mắc bả bùa yêu/ Bốn con mắt/ cứ vụng về tìm nhau (Mắt chạm mắt), chắc sẽ có ai đó nhăn mặt: Thơ gì mà xưa cũ thế? Ờ thì… Đứng trước người mình “thích”, mình “si mê”, ai chẳng có những phút giây “vụng về” khi đưa mắt “tìm nhau”. Tình huống đấy quen lắm nhưng không hề cũ, mà luôn luôn mới. Tình yêu với những rung cảm của trái tim thì làm gì có chuyện cũ? Yêu là yêu! Thế thôi! Phải yêu, phải “thèm yêu” thì mới có những hình ảnh đẹp, lãng mạn, đầy chất thơ: Lâu nay/ khô cạn ước mong/ Dập dờn cánh bướm/ uốn cong dáng chiều…(Thèm yêu) chứ? Khi yêu, ai lại lôi khái niệm cũ mới ra để so đo?!

Ở tuổi gần 80 mà tình yêu (đôi lứa) trong ông vẫn đằm những khát khao trẻ trung, bạo dạn: Áo em/ cháy đỏ lũy tre/ Ngỡ là bó đuốc/ đốt hè nóng ran… (Áo đỏ), vẫn như những “khối tình” đượm sẵn lửa: Môi em/ diềm phải bao diêm/ Môi anh vừa chạm/ bật lên cháy bùng… (Nụ hôn đầu), vẫn thòm thèm những trận yêu được “cuồng loạn”: Nụ hôn/ cuồng loạn bão mưa/ Hạn lâu/ cơn lũ chỉ vừa mát cây! (Hạn hán). Đấy! Gần 80 tuổi, tưởng thi sĩ đi lại còn khó khăn, thở còn đã nhọc, đã khó, ấy vậy mà thi sĩ Ngô Nguyễn vẫn hừng hực “máu lửa” như thế, kém sung sức so với thanh niên cũng đâu có nhiều.

Tuy là nói vui như thế, nhưng thật lòng, thơ Ngô Nguyễn ít có những giằng xé dữ dội của tâm trạng, của những ham muốn yêu đương xác thịt mà thường là những chuyển biến rất nhẹ nhàng, những xáo trộn tình cảm vẫn còn nằm trong sự “kiểm soát” và “giữ gìn” của lý trí, kiểu: Ừ thì,/ gió thoảng mây bay/ Ừ thì,/ chỉ cái chau mày/ nhếch môi….(Ừ thì)… của những nỗi buồn chơi vơi, của những xâm chiếm nhẹ nhàng hồn cốt:Được lời/ em đến thăm nhà/ Ngó cau/ cau mới đang hoa/ bao giờ (Mùa cau)… Tình yêu đấy “sạch” quá, “lành” quá. Ôi! Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả hê… thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán… Vâng! Tôi quan niệm tình yêu phải vậy. Có lẽ do tuổi tác, do “tạng người” mà tình yêu trong thơ thi sĩ Ngô Nguyễn mới mang mang gam trầm? Tuy không nhiều, dù “hiếm hoi” gặp sự “nổi loạn” của Ngô Nguyễn trong tình yêu như ở “Em – Áng mây chiều”: G ió tứ phía/ Thốc bập bùng/ Cánh diều nổi loạn/ bứt tung dây giằng, hay như trong “Bão gần”: Bão nào đến/ tự nơi xa/ Từ cô hàng xóm/ thốc qua nhà mình… nhưng sự “nổi loạn” chỉ thoảng qua “bấy nhiêu” thôi cũng đã “thổi” vào “hồn yêu” của ông thêm sắc diện, khiến thơ Ngô Nguyễn đậm thêm chút hương vị của tình yêu. Tập thơ Sóng Ngầm với những bài thơ “ấn tượng”: Tiếng Kinh, Mùa Cau, Lưng Lửng… với những câu thơ có thể gọi là tinh tế, như: Mắt nàng/ nào phải lưỡi dao/ Liếc mòn vẹt đá/ chém nhào ngã cây…(Mắt), Gặp em/ nửa lạ/ nửa quen/ Nửa vồ vập/ nửa mon men rụt rè (Nửa), Nỗi sầu/ thấm ướt trang kinh/ Gió lùa hoang lạnh/ rùng mình/ kinh rơi! (Tiếng Kinh), Ngắn dài/ chân vẫn chân thôi/ Miễn là/ đỡ được thân người thẳng ngay! (Chân dài),… tuy không mới, chưa thật sự đặc sắc nhưng như thế cũng đã có sức nặng đủ để níu giữ Sóng Ngầm đọng lại trong tâm trí người đọc. Gập tập thơ lại, tôi cứ tiếc: Giá nhà thơ Ngô Nguyễn “máu lửa” thêm chút nữa, bạo liệt “xác thịt” thêm chút nữa… Nhưng rồi tôi lại thần người với suy nghĩ: Gần 80 tuổi rồi mà vẫn yêu được như thế là nhà thơ vẫn còn sung sức lắm, oách lắm, còn hơn chán vạn kẻ… Vài chục năm nữa, không biết tôi (kẻ đang than thở) có “máu lửa” bằng nửa của nhà thơ không? Hay lúc đấy có cố lê lết nụ cười cũng đã là quá khó…

Hà Nội, chiều 27 tháng 09 năm 2024ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Em Là Gái Quê. Nguyễn Chính

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ EM LÀ GÁI QUÊ. NGUYỄN CHÍNH

Thứ 5, ngày 6 tháng 12 năm 2024 – 13:28

Bài thơ “Em là gái quê” trong tập thơ “Nơi gửi tình yêu” của nhà thơ Trần Thị Quỳnh Nga, Hội viên Hội VHNT tỉnh Tuyên Quang là bài thơ hay cả về tứ và nghĩa. Từng cung bậc cảm xúc của bốn khổ thơ trong bài đều có hình tượng, có nhạc điệu khắc họa được một chân dung thiếu nữ nông thôn dung dị, thanh cao, đẹp người, đẹp nết. Chính vì vậy nhạc sỹ Đinh Tiến Bình đã cảm nhận được ngôn từ trong sáng đó để phổ nhạc bài thơ với một âm hưởng sâu lắng, ngọt ngào, truyền cảm.

Trần Thị Quỳnh Nga sinh ra ở nông thôn, tuổi thơ vất vả lớn lên nhờ hạt lúa, củ khoai, con tôm, con cá. Và cũng thật ngẫu nhiên, khi tốt nghiệp đại học với tấm bằng kỹ sư nông nghiệp Quỳnh Nga trở thành cán bộ khuyến nông. Cả đời gắn bó với người nông dân, với đồng ruộng và trải nghiệm công việc nhà nông nên hình ảnh làng quê nông thôn Việt Nam, người phụ nữ nông thôn luôn in đậm trong thơ của Quỳnh Nga.

Mở đầu bài thơ tràn đầy niềm tin, tự hào:

Em là con gái nhà nông

Lưng thon tóc búi thơm nồng hương chanh

Tươi như cánh lá trên cành

Thắm như hoa hẹ hoa hành chân quê 

Quỳnh Nga có cách nhìn riêng phát hiện ra cái đẹp, cái duyên của một cô gái nhà quê chân chất, còn nguyên khôi những vẻ đẹp đáng ngợi ca. “Lưng thon” chắc chắn người con gái ấy phải thắt đáy lưng ong, một mẫu người không chỉ đẹp, còn đảm đang vừa khéo nuôi con lại khéo chiều chồng. Cỏ cây hoa lá, những sản vật của chân quê như “hương chanh” “hoa hẹ, hoa hành” được nhà thơ hòa quện khéo léo trong từng câu miêu tả rõ nét một thôn nữ đằm thắm yêu thương, hồn nhiên, tươi rói.

Cái nết đánh chết cái đẹp, vì cái đẹp không mài ra ăn được. Muốn hoàn thiện nhân cách vừa hồng vừa chuyên chỉ có hăng say trong học tập, lao động mới trưởng thành, nên tác giả viết tiếp:

Bốn mùa vất vả sớm khuya

Chân bùn tay lấm gió mưa nắng tràn

Em như cô tấm trong làng

Đẹp xinh hiếu thảo dịu dàng thiết tha

“Cô Tấm trong làng” và hình tượng con gái nhà quê là một. Lớn lên vừa đẹp, vừa xinh phải nhờ dòng sữa mẹ – đó là sự biết ơn người đã sinh thành dưỡng dục. Còn tuổi thơ có khoảng lặng trong không gian yên tĩnh với hương đồng gió nội, nhưng vất vả nhọc nhằn trong sương gió, lớn lên nhờ rau cháo, vại cà, chĩnh tương.

Từ dòng sữa mẹ nuôi ta

Từ rau cháo với vại cà chĩnh tương

Hương đồng cỏ nội thân thương

Tuổi thơ ướt đẫm gió sương nhọc nhằn

Tuổi thơ vất vả, tuổi trưởng thành vất vả hơn để thực hiện trách nhiệm bổn phận thiên chức của người phụ nữ tần tảo nuôi con và báo hiếu cha mẹ nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp người con gái thôn quê trong trắng ngọc ngà. Đoạn kết bài thơ đã nói lên điều đó với một cách viết rất khéo tự hỏi, tự trả lời và câu kết của bài thơ nghĩa giống với câu mở đầu là sự khẳng định của niềm tự hào.

Hết đồng xa lại đồng gần

Bờ xôi ruộng mật tảo tần mẹ cha

Giờ em trong trắng ngọc ngà

Phải chăng cũng bởi em là gái quê

Đọc hết bài thơ và lại được nghe bài hát “Em là gái quê” làm cho chúng ta càng thấy niềm tin yêu, tin tưởng vào lớp người phụ nữ ở vùng nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa họ luôn gìn giữ được phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ trung hậu, đảm đang góp phần xây dựng nông thôn mới – một xã hội văn minh.

N.C

Lượt xem:1965

Bản in

Trình Bày Cảm Nhận Đoạn 1 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Gợi ý mở đề cảm nhận đoạn 1 2 Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Mở bài 1: Tinh thần yêu nước đã trở thành sợi dây nối kết và xuyên thấu các thời đại lịch sử vẻ vang Việt Nam. Chính tình yêu nước đã tạo nên động lực tạo nên sự những chiến công vang dội của dân tộc bản địa. Đó cũng là tinh thần chung mà Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Tinh thần yêu nước, luận đề chính nghĩa được Nguyễn Trãi làm rõ qua đoạn 1, 2 của tác phẩm.

Mở bài 2: “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được mệnh danh như bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của dân tộc bản địa, áng văn chính luận mẫu mực của non sông và cũng là áng thiên cổ hùng văn còn vang mãi nghìn đời. Đại cáo Bình Ngô được Nguyễn Trãi viết vào năm 1428 bố cáo với thiên hạ về nền độc lập tự cường, về chủ quyền của đất nước ta. Mỗi phần của tác phẩm đều chứa đựng ý nghĩa thâm thúy, đặc biệt quan trọng phần đầu của bài Cáo đã cho thấy tư tưởng nhân nghĩa sáng ngời, lòng tự hào tự tôn dân tộc bản địa cùng với việc tàn bạo của quân Minh khi giày xéo lên mảnh đất nền dân tộc bản địa. Cảm nhận đoạn 1 2 bình ngô đại cáo sẽ thể hiện rất rõ ràng điều đó.

Tìm hiểu và cảm nhận đoạn 1 2 Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo để công bố cho mọi người biết về việc nghiệp đánh tan giặc Minh xâm lược. Từ những buổi đầu khởi nghĩa khó khăn nơi vùng rừng núi hiểm trở đến những ngày chiến công rực rỡ là cả một giai đoạn gian khổ nhưng đầy hào hùng của dân tộc bản địa.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Ngay từ nhan đề “Bình Ngô đại cáo” đã gợi ra nhiều suy nghĩ. “Bình Ngô” đó chính là dẹp yên giặc Minh xâm lược. Gọi giặc Minh là Ngô vì Nguyễn Trãi muốn nhắc đến nguồn gốc, quê cha đất tổ của Chu Nguyên Chương – người đứng đầu và lập nên nhà Minh. Bởi lẽ trong xuyên thấu chiều dài lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa đã có nhiều lần giặc phương Bắc kéo đến xâm lược tất cả chúng ta nhưng kết quả đều là thất bại. Điều này đã minh chứng rõ cho tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của nhân dân Đại Việt.

“Đại cáo” nhằm chỉ quy mô rộng lớn và tính chất trọng đại của bài cáo. “Bình Ngô đại cáo” là bản cáo lớn mang tính quy mô toàn dân tộc bản địa thông báo cho nhân dân biết về chiến thắng chống quân Minh xâm lược, đồng thời để khẳng định tuyên bố độc lập của dân tộc bản địa. Phần một và phần hai là cơ sở tiền đề cho cuộc kháng chiến. Thứ nhất đó là tư tưởng nhân nghĩa. Thứ hai là bản cáo trạng tội ác của giặc.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đã xác lập luận đề chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa.

“Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng luôn có”.

Tư tưởng nhân nghĩa là một tư tưởng được những nước phương Đông mặc nhiên thừa nhận. “Nhân nghĩa” là quan hệ giữa người với những người được xây dựng trên cơ sở tình thương và đạo đức. Nếu tư tưởng nhân nghĩa trong quan niệm Nho giáo là cách đưa con người vào các quan hệ khuôn khổ phạm trù đạo đức để phục vụ cho mục đích quản lí xã hội của nhà cầm quyền.

Nhưng tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã trở thành mục đích của cuộc kháng chiến. Bởi đặt trong hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, nhân nghĩa được cụ thể hóa thành yên dân. Nghĩa là làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no niềm hạnh phúc. Muốn nhân dân được ấm no thì phải diệt trừ bạo ngược, đặc biệt quan trọng đó đó chính là quân Minh xâm lược. Từ tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, Nguyễn Trãi đã chuyển hóa vào thực tiễn đất nước ta. Và này cũng đó chính là mục đích chiến đấu, là lý tưởng cao đẹp mà suốt cuộc đời Nguyễn Trãi theo đuổi.

Khi phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo, ta thấy sau thời điểm nêu cơ sở chính nghĩa của cuộc kháng chiến, Nguyễn Trãi đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ bằng những địa thế căn cứ lịch sử vẻ vang vô cùng xác đáng kết phù hợp với lời văn dõng dạc hào hùng đầy tự tin.

Việc liệt kê các triều đại của nước Đại Việt song song với những triều đại Trung Hoa đã thể hiện rõ điều đó. Ta không thua kém cạnh Trung Hoa. Ta cũng luôn có những nhà nước tự trị ngay từ buổi rạng đông lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa. Ta có chủ quyền lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán, có tổ chức nhà nước với những người đứng đầu là vua. Việc xưng đế đã thể hiện ý chí tự tôn dân tộc bản địa. Bởi lẽ trong quan niệm xa xưa, chỉ có Trung Hoa được xưng đế còn vua của nước nhỏ chỉ được xưng chư hầu không được xưng đế. Việc xưng đế đã khẳng định cứng ngắc một điều ta và Trung Hoa là những nước độc lập đồng đẳng với nhau. Chính vì vậy không có lí do gì để Trung Hoa kéo quân xâm lược nước ta.

“Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi”.

Điều quan trọng tạo nên sự sự thịnh vượng của một vương triều không thể không nói đến yếu tố nhân tài. Nhân tài đó chính là vận mệnh đất nước. Trong cả một quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã có biết bao nhiêu vị anh hùng làm rạng danh non sông cũng như có biết bao nhiêu thế hệ với ngàn ngàn lớp lớp người vô danh đã ngã xuống để bảo vệ độc lập đất nước. Giọng thơ hào hùng, lập luận mạnh mẽ chặt chẽ thuyết phục từ những chứng cứ lịch sử vẻ vang xác đáng không thể chối cãi. Thông qua đó ta thấy được ý thức dân tộc bản địa thâm thúy của Nguyễn Trãi.

Cảm nhận đoạn 1 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

“Chương Dương cướp giáo giặc. Hàm Tử bắt quân thù”

Sau lúc khẳng định tiền đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến cũng như khẳng định chủ quyền dân tộc bản địa, Nguyễn Trãi đã nêu ra những chứng cứ lịch về việc thất bại nhục nhã của giặc khi sang xâm lược nước ta.

Nguyễn Trãi đã lần lượt nêu ra những tên tướng giặc chiến bại trong những trận chiến phi nghĩa xâm lược Đại Việt. Đó là Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã. Chúng thất bại bởi lẽ đây là một trận đấu phi nghĩa không nhằm bảo vệ cuộc sống nhân dân mà chỉ vì “tham công”, “thích lớn”, chỉ để thỏa mãn khát vọng bành trướng quyền lực của kẻ đứng đầu mà gieo tai vạ cho biết thêm bao người dân vô tội.

“Nhân họ Hồ chính vì sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa, Bọn gian tà bán nước cầu vinh”.

Ngay từ mục đích xâm lược đã phi nghĩa nên chắc chắn cuộc xâm lược này sẽ “thất bại”, “tiêu vong”. Những địa danh lịch sử vẻ vang gắn với những cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc bản địa ta cũng được Nguyễn Trãi nêu ra. Đó là cửa sông bạch Đằng đã giết chết hàng vạn quân Nam Hán xóa khỏi đi một ngàn năm đô hộ của ngoại xâm phương Bắc mở ra thời kì độc lập cho đất nước. Còn nhắc đến cửa Hàm Tử không thể không nhắc đến chiến công của quân dân nhà Trần đã từng được Trần Quang Khải nhắc đến.

Tuy không trực tiếp nhắc đến chiến thắng của quân ta nhưng trong cách nói đó ta vẫn thấy hiện lên vẻ đẹp sự oai hùng của những chiến công lịch sử vẻ vang vang dội. Đây đó chính là minh chứng lịch sử vẻ vang rõ nét nhất cho tư tưởng nhân nghĩa. Cuộc kháng chiến của tất cả chúng ta đó chính là cuộc kháng chiến vì chính nghĩa. Lẽ phải thuộc về nghĩa quân, thuộc về dân tộc bản địa Đại Việt nên chắc chắn chiến thắng sẽ thuộc về ta.

Sau lúc nêu ra tiền đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, Nguyễn Trãi đã vạch trần bộ mặt xâm lược của giặc Minh:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế, Gây binh kết oán trải hai mươi năm. Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng, Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi”.

Trong tình cảnh đất nước rối ren, nhân dân không đồng lòng dưới cơ chế nhà Hồ của Hồ Quý Ly. Tận dụng điều đó, núp dưới chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, giặc Minh đã xâm lược nước ta. Nhưng thực chất giặc Minh không hề có ý tốt mà đó chỉ là cái cớ để sở hữu cơ hội đặt chân xâm lược dân tộc bản địa. Điều này đã được thể hiện rõ qua các từ “nhân”, “thừa cơ gây họa” cho thấy rõ thái độ của Nguyễn Trãi so với những kẻ ngoại xâm này.

Chúng đến đây tấn công nước ta chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu bành trướng quyền lực, khát vọng bá chủ thiên hạ của chúng mà thôi. Không chỉ vạch trần bóc mẽ bộ mặt xâm lược của kẻ thù mà Nguyễn Trãi còn thể hiện thái độ so với những kẻ tà đạo thần lộng quyền vì tham vinh hoa phú quý mà đẩy đất nước vào tình cảnh rối ren, ngàn cân treo sợi tóc này.

Không chỉ vạch trần bộ mặt thật của giặc, tác giả còn nêu ra những tội ác trời không dung đất không tha của kẻ thù:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được?…”

Những tội ác giặc gây ra không thể kể hết. Biết bao nhiêu oán thương, uất hận chất chồng. Giặc đã tàn sát dã man những người dân dân vô tội, cướp đi mạng sống cướp đi niềm hạnh phúc của biết bao gia đình êm ấm. Hình ảnh “con đỏ”, “dân đen” ý chỉ nhân dân Đại Việt. Họ chỉ là những con người thấp cổ bé họng chỉ ước mong một cuộc sống giản dị đời thường nhưng kể cả cái ước mơ nhỏ bé ấy cũng trở nên vùi dập.

Quân Minh đã phá đi cuộc sống của họ, phá vỡ biết bao cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của biết bao gia đình. Không những thế chúng còn nêu ra nhiều thứ thuế vô lí bóp nghẹt dãy phố sống của những người dân dân lương thiện này. Lòng tham vô đáy của quân Minh còn được thể hiện ở việc chúng khai thác hết sạch tài nguyên tài nguyên. Để đổi lấy vàng ngọc châu báu chúng nhẫn tâm xem nhẹ sinh mạng con người. Hành động ấy còn tàn phá cả môi trường thiên nhiên sống, môi trường thiên nhiên tự nhiên bằng phương pháp vơ vét sản vật chim trả, hươu đen đến “cả giống côn trùng cây xanh”.

Quân Minh còn phá hoại cả sản xuất “nghề canh cửi”. Chúng đề ra những việc ép dân nhân trở thành nô lệ, bóc lột tận cùng sức lao động của nhân dân.Tội ác của quân Minh được nhìn nhận ở góc cạnh độ tác động đến cuộc sống của nhân dân. Từ đấy cũng cho thấy tấm lòng của Nguyễn Trãi giành riêng cho dân cho nước. Bên cạnh tình cảnh đáng thương của nhân dân, Nguyễn Trãi còn khắc họa hình ảnh của quân thù hiện lên một cách man rợ “thằng há miệng đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán”. Tội ác ấy khiến cho đất trời phẫn nộ”.

Những tội ác ấy chồng chất, những lời ai oán không thể giãi bày. Nhân dân rơi vào tình cảnh kêu trời không thấu kêu đất không nghe. Đây là hình ảnh phong đại mang tính biểu tượng cao. Tội ác ấy không sao có thể ghi chép lại được không thể rửa sạch được. Bởi lẽ không người nào có thể bù đắp những tổn thương về vật chất tinh thần và sinh mạng cho những người dân Đại Việt. Đất trời cũng ngùn ngụt tức giận trước tội ác của quân giặc.

Định hình tác phẩm khi cảm nhận đoạn 1 2 Bình ngô đại cáo

Bằng những lí lẽ sắc bén, cách lập luận chặt chẽ tài tình, Nguyễn Trãi đã nêu ra tiền đề nhân nghĩa của cuộc kháng chiến. Ta chiến đấu là để bảo vệ đất nước, chiến đấu vì mục đích nhân nghĩa – bảo vệ cuộc sống ấm no của nhân dân, chiến đấu vì độc lập dân tộc bản địa – bảo vệ cơ đồ nghìn năm của dân tộc bản địa ta, và cuối cùng chiến đấu vì không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước tình cảnh của đất nước, của nhân dân. Những hình ảnh mạnh mẽ, kết phù hợp với các biện pháp nghệ thuật và thẩm mỹ đã tạo ra giọng điệu mạnh mẽ, đanh thép oai hùng cho bài thơ.

Gợi ý kết đề cảm nhận đoạn 1 2 Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Kết bài 1: Chỉ với hai đoạn đầu nhưng ta có thể cảm nhận được sự hào hùng cũng như bi thương của thời đại khởi nghĩa Lam Sơn. Thấy được tấm lòng của nghĩa quân thật đáng quý và trân trọng biết bao. Bởi họ mưu tính nghiệp lớn không phải để lưu danh sử sách mà là vì cuộc sống ấm no của nhân dân.

Khái quát dàn ý cảm nhận đoạn 1 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Sơ nét chính về tác giả Nguyễn Trãi cùng những điểm nổi bật.

Giới thiệu tác phẩm Đại cáo Bình Ngô cùng giá trị nội dung và ý nghĩa của tác phẩm.

Dẫn dắt vấn đề tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện thâm thúy qua việc cảm nhận đoạn 1 2 Bình Ngô đại cáo.

Đề cập đến nội dung chính của Bình Ngô đại cáo.

Tư tưởng nhân nghĩa trong tác phẩm của Nguyễn Trãi.

Nhấn mạnh vấn đề rõ ràng nền độc lập dân tộc bản địa và khẳng định chủ quyền.

Một số chứng cứ xác thực trong lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa qua cuộc kháng chiến.

Trận đấu tranh phi nghĩa qua sự tàn bạo của giặc Minh.

Thái độ căm phẫn uất hận của Nguyễn Trãi với những tội ác của giặc Minh.

Tóm lược nội dung của tác phẩm trong hai phần đầu.

Bộc bạch suy nghĩ khi cảm nhận đoạn 1 2 Bình Ngô đại cáo.

Phân tích Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi – Ngữ Văn lớp 10

Phú sông Bạch Đằng và Phân tích hình tượng nhân vật Khách

Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua một số tác phẩm

Cảm nhận Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – TOP 1 nội dung bài viết HAY NHẤT

Cảm Nhận Khi Đọc Bài Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh (1942-1988) nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ như Thuyền và biển; Sóng; Tiếng gà trưa… biểu lộ một hồn thơ nồng nàn, đằm thắm dào dạt thương yêu. Bài thơ tiếng gà trưa được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tiếng gà trưa là âm thanh, tiếng gọi của quê hương, gia đình, xóm làng còn in đậm trong lòng người lính ra trận, trở thành hành trang của người lính trẻ.

Tiếng gà nhà ai nhảy ổ cục…cục tác cục ta cất lên nơi xóm nhỏ. Tiếng gà là âm thanh rất bình dị, quen thuộc của làng quê bao đời nay. Với người lính, âm thanh quen thuộc ấy gây cho anh bao xúc động. Nó làm xao động cái nắng trưa trên đường hành quân. Âm thanh ấy làm cho anh như đang sống lại thời thơ ấu đẹp đẽ của mình, nó như tiếp thêm sức mạnh cho đôi chân anh bớt mỏi, cho lòng anh xúc động dạt dào:

Cục…cục tác cục ta

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ

Đến đoạn thơ thứ hai, trong hai mươi sáu câu thơ, câu thơ Tiếng gà trưa được nhắc lại ba lần, âm thanh ấy gọi về bao kỷ niệm thân yêu. Xa xa tiếng gà trưa vọng lại, người chiến sĩ nhớ về người bà thân yêu chắt chiu từng quả trứng hồng. Những quá trứng hồng, đàn gà chi chít đông đúc. Ta như thấy rất nhiều gà, rất nhiều màu sắc và lứa gà:

Tiếng gà trưa

Ổ rơm hồng những trứng

Này con gà mái mơ

Khắp mình hoa đốm trắng

Này con gà mái vàng

Lông óng như màu nắng.

Trong bức tranh gà mà Xuân Quỳnh miêu tả rất đặc biệt, ê rơm vàng óng lăn lóc những quá trứng hồng, con gà mái mơ có bộ lông đan sen các màu trắng, đen, hồng… trứng nó giống hình hoa văn mà người nghệ sĩ tạo hình chấm phá. Ánh vàng rực rỡ của con gà mái vàng, lông óng lên như màu nắng, bà cùng cháu vừa tung những hạt cơm, hạt gạo cho lũ gà ăn, quan sát những chú gà xinh đẹp đang nhặt thóc quanh sân. Cháu cùng bà đếm từng chú gà trong vườn nhà.

Tiếng gà trưa cất lên nơi xóm nhỏ, người chiến sĩ nhớ về người bà thần yêu. Tuổi thơ sống bên bà có biết bao kỷ niệm đáng nhớ, tính hiếu kỳ, tò mò của trẻ thơ quan sát con gà đẻ trứng. Rồi bị bà mắng, sợ mặt bị lang, trong lòng cháu hiện lên lo lắng:

Tiếng gà trưa

Có tiếng bà vẫn mắng

Gà đẻ mà mày nhìn

Rồi sau này lang mặt

Cháu về lấy gương soi

Lòng dại thơ lo lắng

Cháu còn làm sao quên được hình ảnh Tay bà khom, soi trứng… bà “tần tảo” “chắt chiu” từng quả trứng hồng cho con gà mái ấp là cháu lại nhớ đến bao nỗi lo của bà khi mùa đông tới:

Khi gió mùa đông tới

Bà lo đàn gà toi

Mong trời đừng sương muối

Để cuối năm bán gà

Cháu được quần áo mới.

Đoạn thơ nghe giản dị mà thật gần gũi nhường nào, những chi tiết tác giả miêu tả gắn bó thân thuộc với quê hương làng xóm, hơn thế nó là những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong tâm trí trẻ thơ. Nỗi lo của bà thật cảm động xiết bao, đàn gà kia sẽ bị chết nếu như sương muối giá lạnh và cháu bà lại chẳng được may áo mới.

Ôi cái quần chéo go,

Ống rộng dài quết đất

Cái áo cánh trúc bâu

Đi qua nghe sột soạt

Cháu nhớ mãi sau mỗi lần gà được bán, bà lại ra chợ chọn mua cho cháu yêu bộ quần áo thật đẹp. Tình cảm yêu thương nồng hậu bà luôn dành trọn cho cháu, cho con. Tuổi thơ sống bên bà đây là quãng đời đầy ắp những kỷ niệm khó quên.

Lần thứ tư Tiếng gà trưa lại cất lên. Tiếng gà gọi về những giấc mơ của người lính trẻ.

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiều hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.

Âm thanh xao động của tiếng gà trưa bình dị mà thiêng liêng, nó gợi tình cảm đẹp trong lòng người chiến sĩ hành quân ra trận. Âm thanh ấy như tiếng của quê hương, đất mẹ thân yêu.

Cháu chiến đấu hôm nay

Vì lòng yêu tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi, cũng vì bà

Vì tiếng gà cục tác

Ổ trứng hồng tuổi thơ

Trong bài thơ có ba câu thơ rất hay ổ rơm hồng những trứng; giấc ngủ hồng sắc trứng; ổ trứng hồng tuổi thơ cả ba câu thơ đều nói về hạnh phúc tuổi thơ, hạnh phúc gia đình làng xóm. Hình ảnh người bà hiện lên trong tâm trí người chiến sĩ hành quân ra trận thật đẹp. Lưu Trọng Lư khi nghe “Xao xác gà trưa gáy não nùng” đã nhớ về nét cười đen nhánh, màu áo đỏ của mẹ hiền đã đi xa. Bằng Việt khi xa quê đã nhớ về quê qua hình ảnh người bà kính yêu. Tiếng tu hú kêu gọi hè về, nhớ bếp lửa ấp iu nồng đượm bà nhen nhóm sớm hôm. Và bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh gợi nhớ về bà qua tiếng gà xao xác ban trưa.

Bài thơ Tiếng gà trưa là bài thơ hay tha thiết ngọt ngào. Tiếng gà cũng là tiếng gọi thân yêu của bà, của mẹ, của quê hương. Tiếng gọi thân yêu ấy như là niềm tin cho người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương yêu dấu.

Lê Văn Bình @ 21:46 21/09/2014 Số lượt xem: 1553

Cảm Nhận Khi Đọc Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà.

Bài làm

Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí- Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập.

Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tác như sau:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành than thủ bại hư.

Dịch thành:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vằng vặc sách trời chia xứ sở

Giặc dữ cớ sao phạm đến đây

Chúng bay nhất định phải tan vỡ.

(Theo Lê Thước – Nam Trân dịch)

Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát (hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt), bài thơ đã ngân vang lên.(Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần). Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt.

Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng: Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thơ thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự (mắt thần) của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay chỉ có Bắc đế, chứ không thể có Nam đế, hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Vì thế, khi xâm lược nước Nam, áp đặt được ách thống trị, chúng đã ngang nhiên trắng trợn biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc. Nền độc lập mà chúng ta giành lại được hôm nay thấm không ít máu của cha ông ta đã đổ suốt hơn một ngàn năm. Và nay nền độc lập ấy vẫn đang bị đe doạ bởi tư tưởng ngông cuồng kia.

Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế (Nam đế). Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình:

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời. Ai có thể thay đổi được?!

Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả: chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.

Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp:

Như là nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành than thủ bại hư.

Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược: Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo (nghịch lỗ), lẽ nào Trời đất dung tha! Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư.

Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận – một đặc điểm của thơ ca thời Lí – Trần, khiến người đọc rưng rưng! Và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Khi Đọc Tập Thơ: Sóng Ngầm Của Ngô Nguyễn trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!