Xu Hướng 2/2023 # Cảm Nhận Đoạn Thơ “Quê Hương” Của Đỗ Trung Quân # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cảm Nhận Đoạn Thơ “Quê Hương” Của Đỗ Trung Quân # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Đoạn Thơ “Quê Hương” Của Đỗ Trung Quân được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

CẢM NHẬN VỀ ĐOẠN THƠ QUÊ HƯƠNG

 CỦA ĐỖ TRUNG QUÂN

          Kỳ trước ta được xem phân tích bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, Quê hương luôn là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ, nhà văn. Hôm nay ta thử cảm nhận đoạn thơ “Quê hương” của Đỗ Trung Quân của một bạn đọc, bài thơ đã được phổ nhạc và đi vào lòng người (ĐP)

                                                    Quê hương là chùm khế ngọt                                                    Cho con trèo hai mỗi ngày                Quê hương là đường đi học                Con về rợp bướm vàng bay.                                                    Quê hương là con diều biếc                                                    Tuổi thơ con thả trên đồng                Quê hương là con đò nhỏ                Êm đềm khua nước ven sông.                                                    Quê hương là cầu tre nhỏ                                                    Mẹ về nón lá nghiêng che.              “Quê hương là chùm khế ngọt               Cho con trèo hái mỗi ngày                                                    Quê hương là đường đi học                                                    Con về rợp bướm vàng bay.”

              Quê hương với mỗi người thật giản dị, thân thương. Yêu quê là yêu con đường đến trường, yêu những mái nhà tranh, yêu cánh đồng lúa chín…Nhà văn Ê-ren-bua đã từng nói: suối chảy vào sông, sông chảy ra biển, tình yêu tổ quốc bắt nguồn từ lòng yêu với những thứ thân thuộc quanh mình. Tình yêu đất nước bao giờ cũng bắt nguồn từ tình yêu quê chân thành, giản dị như thế. Có những so sánh hình ảnh quê hương thật gần gũi. Nhà thơ Đỗ Trung Quân chắc hẳn yêu quê lắm mới có những hình ảnh so sánh đẹp và dễ đi vào lòng người đến thế. Đọc câu thơ nhiều người ngỡ ngàng khi nhận ra, quê hương sao gần quá. Nó ở trong tuổi thơ, trong câu chuyên bà kể, trong lời hát mẹ ru, trong trái cây dịu mát. Quê hương là chùm khế ngọt, quê hương là con đường đi học. Còn gì gần gũi hơn thế với mỗi người dân đất Việt. Quê hương là vô hình, khó định nghĩa và khó có thể gợi ra được cụ thể, rõ ràng. Thế nhưng nhà thơ đã đưa ra cho ta một định nghĩa thật giản dị, biến cái vô hình thành hữu hình. Quê hương có thể nhìn thấy, có thể cầm nắm, có thể thưởng thức được mỗi ngày. Với chùm khế ngọt con người cảm nhận quê hương đầy đủ nhất bằng mọi giác quan. Tuổi thơ ai cũng trải qua những năm tháng tới trường. Con đường đi học đã trở thành người bạn tri kỉ. Hình ảnh “rợp bướm vàng bay” gợi nên cho ta những gì thân thương và trong sáng nhất của tuổi học trò. Quê hương là thế đó. Nhắm mắt lại ta như thấy quê hương đã ở đó rồi, ở ngay bên trong trái tim mỗi con người.

          Khi ta còn nhỏ, những vần thơ về quê hương đã luôn theo ta   qua lời ngâm của bà, của mẹ. Quê hương theo ta khi ta chơi, khi ta cười, khi ta ăn, khi ta ngủ. Quê hương là gì? Xưa nay chưa có ai định nghĩa nổi. Nhưng với một phong cách rất Việt Nam, Đỗ Trung Quân đã khiến những người con xa quê phải bật khóc.            Quê hương mỗi người chỉ một              Như là chỉ một mẹ thôi              Quê hương nếu ai không nhớ              Sẽ không lớn nổi thành người.           “Quê hương” hai từ “thiêng liêng” nhất của một đời người. Nó là mảnh đất chào đón sự khởi đầu của cuộc đời, một sinh linh. Con người ta không thể có hai quê hương cũng như không thể có hai người mẹ. Mảnh đất quê hương yêu dấu mà nơi ấy cho ta hạt gạo ta ăn, ngụm nước ta uóng, là nơi đã đón nhận những bước chân chập chững đầu đời. Quê hương ấm áp, ngọt ngào như dòng sữa mẹ, nuôi lớn ta từng ngày, từng ngày. Với Đỗ Trung Quân “Quê hương” thân thương là thế. “yêu dấu là thế. Từ “chỉ một” như muốn nhắc nhở chúng ta, quê hương là duy nhất, nếu ai mà không nhớ quê hương, người đó sẽ không thể lớn nổi thành người”. “không lớn nổi không phải là cơ thể không lớn lên, không phải là con người ta cứ bé mãi, mà “không lớn nổi” có nghĩa là không trưởng thành một con người thật sự. Người mà không nhớ về cội nguồn, gốc rễ, ăn cháo đá bát thì người đó không có đạo đức, không xứng đáng là một con người.           Với tất cả chúng ta, quê hương là một thứ gì đó gần gũi đến kỳ lạ. Như khi ta ăn một trái lê, ngửi một bông hoa, vị thơm ngọt của nó gợi nhắc ta về với quê hương; nơi có những cánh đồng trải dài xa mãi, những bãi cỏ xanh thơm mùi thảo mộc, những chiều hoàng hôn bình yên, ta ngồi nhìn gió hát. Dù có đi đâu xa, hơi thở của quê hương vẫn bên ta, để ta luôn có một góc nhỏ bình yên với tâm hồn. Khi ta lớn lên, ta ra đi, bon chen, lặn lội trên đường đời. Bao nhiêu mệt mỏi, bao nhiêu tủi hờn, ấm ức, ta vẫn cố chịu, để rồi khi trở về nhìn thấy rặng tre đầu làng, con đê trước sông và nhận ra mái nhà thân quen của ta đâu đó trong xóm, ta lại bật khóc, tiếng khóc vỡ òa ra vì để trú hết tủi hờn, đau buồn, tiếng khóc vờ vì một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Ôi ! Sao mà yêu thương thế!

             Về với quê hwong, như về với kí ức, như về với bản chất con người thuần túy, quê hương cho ta sự yên ả, tĩnh lặng, sự bình dị, thanh tịnh. Ta như điên cuồng muốn ôm lấy quê hương mà hôn, mà yêu. Ta như muốn chạm tay vuốt ve tất cả mọi thứ, rồi hét lên rằng “Quê hương ơi! Con đã về”. Ta chỉ muốn nhìn hết, thu hết mọi sự yêu thương ấy để vào trong tim, cho nó cùng sống, cùng chết với ta. Như vậy ta sẽ chẳng còn cô đơn, chẳng con thương nhớ nữa.             Mọi sự vật nơi đây đều có một linh hồn riêng biệt. Linh hồn ấy mãi mãi chẳng đổi thay. Mọi linh hồn ấy đều sẵn sàng dang tay chào đón ta trở về. Cái đụn rơm này, cái cây đa già này, cả cái mùi ẩm mốc của đất quê này… Tất cả, tất cả đều vây lấy ta, trò chuyện với ta, hơn hết chúng đã giúp ta chữa lành mọi vết thương lòng.              Với ta, quê hương luôn gắn với vòng tay của bà, của mẹ, là nụ hôn, là giọt nước mắt. Quê hương thơm mùi canh cà chua, tròn như quả cà, xanh như màu rau muống luộc. Đâu phải vì chưa từng ăn những thứ đó, mà sao giờ đây, nó lại ngon đến thế!. Quê hương sôi nổi và mộc mạc trong những câu chuyện vui rôm rả của làng xóm láng giếng mỗi buổi tối trăng sáng, là nụ cười ngây thơ đến mê hồn của lũ trẻ con. Ta muốn yêu, yêu hết tất cả mọi thứ của mảnh đất này.Quê hương là một cái gì đó như ràng buộc, như một thứ kỳ diệu khiến ngày ta phải ra đi, tiến một bước nhưng muốn lùi hai bước. Phải ra bến xe nhưng lại chạy ra sông ngồi ngẩn ngơ một lúc, ngắm nhìn dòng suối bạc lấp lánh đến chói mắt khi mặt trời chiếu xuống. Quê hương ơi là quê hương!              Lại một lần nữa – ta khóc – ngày ta phải ra đi – đến giờ, ta còn quyến luyến. Kì lạ sao ta đi chậm như thế, cứ hay ngoảnh lại như thế, cây đa đầu làng đã xã mờ lắm rồi mà ta vẫn ngờ nó chỉ mới kia thôi. Trong lòng bỗng thấy bâng khuâng, xao xuyến lạ! Ta ngạc nhiên vì thấy sao lá vẫn xanh, nắng vẫn vàng ươm trùm lên cảnh vật.Thật thế, quê hương như máu thịt ta, kể từ khi lọt lòng, ta đã trao cho nó nửa linh hồn của mình vì vậy đi đâu cũng nhớ, cũng thương.              “ Quê hương là con diều biếc              Tuổi thơ con thả trên đồng”              Quê hương luôn hiện ra trong làn nước mắt nhớ nhung trong các đêm.              “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng              Cúi đầu nhớ cố hương”.       Quê hương vẫn mãi mãi yêu thương như thế!, Như thế!!

                                                                                            Sưu tầm

Cảm Nhận Đoạn Thơ Từ Câu 43

(Kenhvanmau.com) – Anh(Chị) hãy cảm nhận đoạn thơ từ câu 43 – câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu.(Bài làm văn của học sinh giỏi trường THPT Bình Giang) Đề bài: Cảm nhận đoạn thơ từ câu 43 – câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu Bài làm:

Việt Bắc dạt dào nỗi nhớ thương:

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Câu trên là lời nhắn nhủ, ướm hỏi người ở lại. Câu dưới là lời giãi bày bộc bạch lòng mình lúc chia tay. Dù nhắn nhủ, ướm hỏi hay giãy bày, bộc bạch thì lời người về xuôi vẫn hằn lên nỗi bùi ngùi, xúc động một chút bâng khuâng, ngập ngừng, một nỗi thẫn thờ. Điệp ngữ ” ta về ” tách riêng thành một nhịp đã kín đáo diễn tả tâm trạng người đi. Bao trùm lên tất cả là nỗi nhớ da diết, khôn nguôi. Chia xa Việt Bắc, cán bộ về xuôi không bao giờ quên những gì đẹp nhất của mảnh đất này.

Bốn cặp lục bát tiếp theo là những hoài niệm đẹp về ” hoa và người ” Việt Bắc trong bốn mùa tạo nên bộ tranh tứ bình độc đáo. Cứ câu sáu gợi tả thiên nhiên thì câu tám lại tái hiện vẻ đẹp con người Việt Bắc. Bắt đầu có lẽ là cảnh sắc mùa đông :

Rừng xanh hóa chuối đỏ tươi

Dèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Theo dòng chảy của thời gian, đông qua rồi xuân đến :

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Xuân về, những cánh rừng Việt Bắc khoác lên mình tấm áo choàng được đặt đệt bởi muôn ngàn tấm hoa mơ trắng muốt. Với tấm óa áo choàng tinh khôi ấy, núi rừng Việt Bắc bỗng trở nên hư ảo chẳng khác gì chốn thần tiên. ” Trắng rừng ” là một sáng tạo độc đáp của Tố Hữu. Tính từ ” trắng ” đã được nhà thơ động từ hóa (hoa làm trắng cả khu rừng). Chữ thơ ấy vừa gợi sự bừng sáng đột ngột củ núi rừng mùa xuân, vừa ghi lại cảm giác thích thú của người ngắm cảnh. Sắc trắng của núi rừng dường như đã hút hồn Tố Hữu. Cảnh xuân mơ mộng, con người giữa mùa xuân cũng thật duyên dáng : Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Nếu chữ ” chuốt ” đặc tả sự khéo léo tái hoa thì chữ ” từng ” lại gợi sự cần mẫn, tỉ mỉ của những người thiếu nữ Việt Bắc. Hình ảnh chuốt từng sợi giang giản dị mà hội tụ bao vẻ đẹp đáng quý của người chăm chỉ, tài hoa, cần mẫn , khéo léo, tài hoa. Những con người đó khác nào những người nghệ sĩ đang tô điểm sắc màu làm bức tranh xuân nên thơ hơn.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Nếu như sắc màu chủ đạo của mùa đông Việt Bắc là sắc xanh của rừng già, sắc đỏ tươi của hoa chuối ; mùa xuân là sắc trắng của hoa nở thì màu sắc nổi bật của mùa hè Việt Bắc là màu sắc vàng sáng chói lọi của rừng phách trong tiếng ve râm ran dưới nắng hè rực rỡ. Ai đã từng một lần gắn bó với Việt Bắc làm sao quên được hình ảnh rừng phách vào mùa hè. Cuỗi xuân, nụ phách còn náu mình trong kẽ lá ấm áp kín đáo. Thế mà khi những tiếng ve đầu tiên báo hiệu hè sang thì những nụ hoa vươn mình khỏi kẽ lá trổ bông vàng rực rỡ. Như một họa sĩ tài ba, Tố Hữu phối màu một cách khoéo léo, tinh tế. Thiên nhiên mùa hề được vẽ bằng những gam màu nắng chói gắt. Hìn hảnh con người được điểm xuyết nhẹ nhàng trong gam màu dịu mát giúp cân bằng cảm xúc người xem tranh. Đọc hai câu thơ của Tố Hữu ra có cảm giác đang giãi mình như cái nắng chói gắt bỗng được bước vào khu rừng ngập tràn sắc xanh của tre trúc : Nhớ cô em gái hái măng một mình. Hình ảnh thơ gợi vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng của thiếu nữ Việt Bắc. Lời thơ như nét trầm xao xuyến xen giữa bản nhạc hè sôi động khiến lòng người bân khuâng.

Khép lại bộ tranh tứ bình là bức tranh đêm thu yên bình, mơ mộng :

Rừng thu trăng rôij hòa bình

Nhớ ai tiếnh hát ân tình thủy chung.

Đêm trăng Việt Bắc thơ mộng hữu tình từ bao giờ đã du vỗ hồn người trong men say. Dưới ngòi bút của Tố Hữu, cảnh trăng bỗng mang vẻ đẹp lạ thường. Trăng đâu chỉ tỏa ánh vàng lấp lánh khoác lên cảnh vật áo choàng hư ảo mà trăng còn đem đến ước vọng hạnh phúc, hòa bình, niềm tin chiến thắng. Giữa đêm thu mộng ảo ấy bỗng vút lên tiếng hát của người Việt Bắc. Tiếng hát ấy chứa chan bao ân tình thủy chung, nghĩa tình sâu nặng. Tiếng hát ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đi và trong tâm trí người đọc, Đại từng phiếm chỉ ” ai ” được dùng tinh tế, hòa quyện t cảm riêng chung của tác giả. Có lẽ chỉ có Tố Hữu mới biết chính xác người con gái cất lên tiếng hát ấy là ai. Nhưng với cách sử dụng đại từ phiếm chỉ ” ai “, người con gái mà nhà thơ thầm thương trộm nhớ đã trở thành người con gái Việt Bắc.

Vậy là bằng nhưng sợ tơ lòng, bằng nỗi nhớ da diết, mênh mang, người về xuôi đã dệt nên bức tranh bốn mùa rõ rệt với những màu sắc thẩm mĩ, đầy quyến rũ: Thiên nhiên Việt Bắc sống động, trong màu sắc, đường nét, âm thanh, tươi tắmn. Nổi bật trên nền thiên nhiên là vẻ đẹp con người la động với nhiều màu sắc, dáng vẻ. Cảnh và người quấn quýt tạo nên bức tranh tươi đẹp, quyểnũ đến lạ thường. Khúc thơ thấm đẫm tình người, nỗi nhớ da diết thấm vào cảnh vật, trong lòng kẻ ở, người đi. Điệu thơ lục bát với giai điệu ngọt ngào, uyể n chuyển, nhịp nhàng , tình tứ những câu giao duyên “mình – ta” thuở nào. Hình ảnh thơ trong sáng, gợi cảm. Chữ thơ nhiều sáng tạo tinh tếm tài hoa. Tất cả tạo nên dư âm sâu lắng, sự lôi cuốn và sức sống lâu bên trong lòng người đọc

Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Trao Duyên

Đề bài: Cảm nhận về đoạn thơ Trao duyên

Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ “cậy” được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy” khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể thoái thác được và phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn chuẩnbị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việcmà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị:

Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du muốndiễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa kết trái”, mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽđược lâu bền lại cho Thúy Vân:

“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại “đứt gánh” còn đâu. Tơduyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ từa”. Chị hiểu em tuổi còn trẻ có thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này màđáp nghĩa cùng chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiêm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mìnhnơi Vân.

Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.”Sự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” “Sóng gió bất kì” là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Những biến cố xảy ra liên tục, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc, là người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để gia đình được đoàn tụ, êm ấm, bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.Chữ Hiếu là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì hiếu con người ta phải dẹp bỏ tình riêng, là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng không bao giờ cho phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình cảm riêng tư để báo hiếu cho cha mẹ:

Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự thấy mình là người phản bội, không xứng đáng với chàng:

Ở đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Là người ai chẳng khát khao được gắn bóvới người mình yêu. Và ở người con gái đa sầu đa cảm như Kiều thì khát vọng ấy lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả lễ giáo p hong kiến khắc khe nhất để “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật đau đớn xiết bao! Nhưng vì:

Có lẽ chỉ có những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều mới đủ sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế! Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng cùng em:

Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ giữa nàng và Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao duyên” cho em, nghe thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là một việc không khó hiểu trong xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em. Thât đau xót thay! Chữ* Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:

Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì đó là một cái ơn lớn* đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình. Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”.Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình. Thuý Vân dù có vô tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ vì thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối”. Cuộcđời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm dứt. bởi lẽ mất đi tình yêu là nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh hồn nàng như tê dại và đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ở ngày mai.Xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.”Đau đớn thay phận đàn bàHỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”kiếp số của họ:”Trăm năm trong cõi người taChữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự là một bậc đại tài trong việc thấu hiểu từngkhía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu sâu sắc ấy cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du* tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải rơi nước mắt khóc than cho số phận nàng Kiều:

Ngàn năm sau nhớ Nguyễn DuTiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)Hay như Mộng Liên Đường cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu rỏ lên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy”, quả thật không ngoa chút nào!Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên.

Cảm Nhận Đoạn Thơ Việt Bắc Và Từ Ấy

Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi… Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

(Ngữ văn 12, Tập một, tr.111, NXB Giáo dục – 2009)

Gợi ý làm bài:

Mở bài:

– Tố Hữu là nhà thơ chính trị, giác ngộ lí tưởng Cách mạng từ rất sớm và là lá cờ đầu trong phong trào văn nghệ cách mạng.

– Là một nhà thơ lớn có số lượng tác phẩm giá trị đồ sộ, thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống và tình cảm đối với Cách mạng, nhân dân. “Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ, càng về sau các xác định rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng động dân tộc”. Điều ấy thể hiện rõ qua hai bài thơ Từ Ấy và Việt Bắc.

Thân bài:

– Khái quát về bài thơ và đoạn thơ:

+Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Miền Bắc được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Nhà nước chuyển từ Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Sự lưu luyến giữa kẻ ở và người ra đi đã khơi nguồn cảm xúc lớn cho nhà thơ sáng tác “Việt Bắc”

+ Đoạn trích thuộc phần đầu của bài thơ

– Cảm nhận nội dung, nghệ thuật về đoạn thơ:

* Về nội dung: tấm lòng thủy chung, son sắt cũng như tình cảm chân thành của người đi và kẻ ở. Song song với nỗi nhớ là cảnh vật, con người, kỉ niệm sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến hiện ra một cách chân thật.

+Hai dòng thơ đầu: cặp từ “đây – đó” kế bên nhau tạo mối quan hệ khăng khít gắn bó tuy hai mà một của người dân Việt Bắc với chiến sĩ. Cụm từ “đắng cay ngọt bùi” là ẩn dụ chỉ những khó khăn, gian khổ mà các chiến sĩ và nhân dân đã cùng trải qua, đó cũng là những khoảnh khắc kỉ niệm ngọt ngào, sâu lắng.

Hai câu thơ đầu diễn tả sự đồng cam cộng khổ của người Việt Bắc và chiến sĩ.

+Hai câu tiếp: Nhiều hình ảnh chân thật của thiên nhiên miền núi “củ sắn lùi, bát cơm, chăn sui” kết hợp với các động từ “chia, sẻ, cùng” tái hiện những thiếu thốn, khó khăn trong buổi đầu cuộc chiến. Đối mặt với những thiếu thốn ấy, nhân dân cùng với chiến sĩ luôn bên nhau, chia sẻ, đoàn kết, tương trợ.

Mối quan hệ quân và dân gắn bó như cá với nước. Những ngày tháng gian khổ ấy luôn ghi khắc trong lòng người nhắc nhở người đi nhớ từng kỉ niệm, từng gương mặt.

+Hai câu thơ tiếp theo: “người mẹ nắng cháy lưng”, “địu con” là hình ảnh thật tả những người mẹ miền cao vừa chăm con vừa lao động. Đó cũng là hình ảnh người mẹ quê hương tảo tần, chắt chiu bằng mồ hôi, nước mắt để nuôi cách mạng.

Cái nhìn đi từ cụ thể đến khái quát: Việt Bắc là cái nôi cách mạng, là người mẹ nuôi nấng đứa con từ lúc tượng hình đến khi khôn lớn.

+Bốn câu cuối: Nhớ Việt Bắc là nhớ những buổi sinh hoạt rộn ràng tinh thần kháng chiến: “lớp học i tờ” lớp bình dân học vụ đêm ánh sáng tri thức đến mọi người; “ngày tháng cơ quan, gian nan núi đèo” là ngày tháng hoạt động cách mạng trong lòng nhân dân, giữa rừng núi Việt Bắc; nhớ nơi đây là nhớ về những âm thanh quen thuộc đã nằm lòng “tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối..”

Nỗi nhớ Việt Bắc là nỗi nhớ dạt dào và trùng điệp vang mãi trong tấm lòng mỗi con người kháng chiến.

Về nghệ thuật:

Sự hài hòa thống nhất giữa các cung bậc cảm xúc: nhớ người, nhớ thiên nhiên và nhớ cuộc sống Việt Bắc

Thể thơ lục bát, lối đối đáp mình ta, hệ thống từ láy, điệp từ…khiến câu thơ mang tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.

Cái tôi trữ tình là sự thể hiện quan điểm thẩm mỹ, tình cảm của cá nhân một nhà thơ trước thiên nhiên, đất nước, con người…

Cái tôi của Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ vì Tố Hữu luôn sống hết mình vì nghĩa lớn đối với nhân dân, cách mạng.

Phân tích, chứng minh thông qua bài thơ Từ Ấy:

+ Bài thơ là một sự đánh dấu cho bước chuyển biến trên con đường nghệ thuật của Tố Hữu, cũng là tên tập thơ đầu của ông.

+ Bài thơ là tiếng lòng của một chàng trai khi bước vào cuộc đời đã tìm thấy lối đi đúng đắn cho mình. Trong niềm hân hoan bắt gặp lí tưởng sống, nhà thơ say sưa bộc lộ quan điểm của mình là sống gắn bó với cách mạng, nhân dân. Buộc cái tôi cá nhân vào cái ta chung của cộng đồng, sống đương đầu và chịu trách nhiệm trước cuộc đời.

Đó là những suy nghĩ, đường lối tích cực, mạnh mẽ mà thơ mới lãng mạn chưa hề biết đến.

Người thanh niên 17 tuổi rạo rực khát vọng của Từ Ấy dần trưởng thành trong hàng ngũ lãnh đạo của phong trào cách mạng. Lúc này ta bắt gặp hình ảnh nhà thơ chiến sĩ hòa mình và cộng đồng, đặt lòng mình với niềm tin của nhân dân để bày tỏ ân tình giữa người đi kẻ ở trong Việt Bắc.

Cái tôi trữ tình trong chặng đường thơ này nhập tôn vinh hình tượng những con người kháng chiến, bày tỏ sự biết ơn, cảm phục trước tấm lòng của nhân dân dành cho chiến sĩ.

Nhận định rất đúng đắn “Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc”.

Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ. Cảm nghĩ của bản thân về cái tôi trong thơ Tố Hữu qua 2 bài thơ.

Cảm Nhận 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trao Duyên

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-* 1820) tên chữ là Tố Như là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Truyện Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích “Trao duyên” đã nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy Kiều. Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu. Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất nghẹn ngào.

“Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ “cậy” được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy” khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể thoái thác được và phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn chuẩn bị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị:

“Hở môi ra những thẹn thùng Đề lòng thì phụ tấm lòng với ai”

Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du muốn diễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa kết trái”, mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽ được lâu bền lại cho Thúy Vân:

“Giữa đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại “đứt gánh” còn đâu. Tơ duyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ từa”. Chị hiểu em tuổi còn trẻ có thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiêm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân.

“Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề”

Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.

“Sự đâu sóng gió bất kì Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”

“Sóng gió bất kì” là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Những biến cố xảy ra liên tục, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc, là người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để gia đình được đoàn tụ, êm ấm, bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.

Chữ Hiếu là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì hiếu con người ta phải dẹp bỏ tình riêng, là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng không bao giờ cho phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình cảm riêng tư để báo hiếu cho cha mẹ:

“Nỗi riêng riêng những bàng hoàng Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn”

Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự thấy mình là người phản bội, không xứng đáng với chàng:

“Thề hoa chưa ráo chén vàng Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa”

Ở đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Là người ai chẳng khát khao được gắn bó với người mình yêu. Và ở người con gái đa sầu đa cảm như Kiều thì khát vọng ấy lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả lễ giáo phong kiến khắc khe nhất để “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật đau đớn xiết bao! Nhưng vì:

“Duyên hội ngộ, đức cù lao Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?”

Có lẽ chỉ có những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều mới đủ sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế!

Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng cùng em:

“Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…

Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ giữa nàng và Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao duyên” cho em, nghe thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là một việc không khó hiểu trong xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em. Thât đau xót thay! Chữ* Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:

“Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì đó là một cái ơn lớn* đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình. Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”.

Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình. Thuý Vân dù có vô tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉ ngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ vì thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.

Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối”. Cuộc đời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm dứt. bởi lẽ mất đi tình yêu là nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh hồn nàng như tê dại và đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ở ngày mai.

Xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.

“Đau đớn thay phận đàn bà Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”

kiếp số của họ:

“Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự là một bậc đại tài trong việc thấu hiểu từng khía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu sâu sắc ấy cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du* tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải rơi nước mắt khóc than cho số phận nàng Kiều:

“Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời ngàn thu Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” (Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)

Hay như Mộng Liên Đường cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu rỏ lên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy”, quả thật không ngoa chút nào!

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Đoạn Thơ “Quê Hương” Của Đỗ Trung Quân trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!