Xu Hướng 2/2024 # Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Của Hồ Chí Minh # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Của Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh

Ánh trăng là một thi đề chưa bao giờ khuất sáng trên trang thơ của các thi nhân đông tây kim cô. Là một người yêu thiên nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ để trăng vắng bóng trên trang thơ của mình. Hơn thế, Bác còn có một bài thơ thật hay về ánh trăng đêm rằm tròn đầy viên mã: bài thơ “Nguyên tiêu”.

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên Yên ba, thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.

Bài thơ được dịch là:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

Hai câu thơ đầu vẽ nên cảnh đẹp tuyệt vời của đêm nguyên tiêu, vầng trăng mùa xuân vừa đúng độ tròn, xinh tươi, soi sáng khắp không gian. Bầu trời cao rộng, trong trẻo, thoáng đãng. Đất trời quê hương bao la, vô tận hòa vào hơi thở mãnh liệt của mùa xuân. Bầu trời và vầng trăng tưởng như không có giới hạn, dòng sông mùa xuân, màu nước mùa xuân nốì liền với bầu trời xuân: “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”. Câu thơ dịch đáng tiếc đã không chuyển tải được cái ý tưởng diệu kì đó của nguyên tác. Ba từ “xuân” liên tiếp nổì nhau vút lên trong một câu thơ mang âm điệu bay bổng, gợi cảm giác trong trẻo, rộng lớn, thảnh thơi, thanh bình, thú vị làm sao! Câu thơ cứ mở ra, mở ra như đến vô cùng, sông xuân – nước xuân – trời xuân, một mùa xuân, khí xuân lồng lộng, bát ngát. Chất liệu câu thơ là chất liệu cổ thi “nguyệt” nhưng tạo nên câu thơ lại là sự sáng tạo đặc biệt tài hoa của người nghệ sĩ. Điều đó đã làm nổi bật cái thần của bức tranh “nguyên tiêu”: tươi sáng, rực rỡ, tràn đầy sức sống của vạn vật, con người.

Trong hai câu thơ cuối bài, người đọc còn ngỡ ngàng hơn nữa trước sự hòa quyện tuyệt vời giữa sự cổ điển và hiện đại trong thơ Bác. Hai chữ “yên ba” – khói sóng gợi đến câu thơ Đường nổi tiếng “Yên ba tam nguyệt há Dương Châu”. Và bốn chữ “Dạ bán quy lai” gợi đến câu thơ của Trương Kế: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”. Hồ Chí Minh đã cố tình mượn câu chữ của cổ nhân để đưa vào đó những nội dung rất mới. Cũng là khói sóng trên sông nhưng người xưa vui với khói sóng tháng ba mờ ảo tĩnh lặng trên đất Dương Châu thì Người say với khói sống giữa dòng sông để “đàm quân sự” bàn việc nước. Người xưa bồi hồi với tiếng chuông chùa nửa đêm thì Người ngây ngất với hình ảnh “nguyệt mãn thuyền” – “trăng ngân đầy thuyền”. Hình ảnh con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, vầng trăng của sự viên mãn, vầng trăng của thành công và thắng lợi. Hình ảnh thơ tươi sáng, chứa đựng cái nhìn lạc quan của Hồ Chí Minh về cuộc cách mạng của toàn dân tộc. Hình ảnh cuối bài thơ mở ra cho ta một cánh cửa kỳ diệu khám phá con người Bác: nơi sâu thẳm mịt mù khối sóng rất đỗi thiêng liêng, bí mật mà đẹp như trong huyền thoại, nơi bàn chuyện hệ trọng sống còn của đất nước, vậy mà Người vẫn đắm say tận hưởng một vầng trăng đẹp, một vầng trăng viên mãn. Ớ đó, cái thực và cái ảo đan xen, hài hòa. Khói sóng hư ảo, vầng trăng lung linh đan xen với cái gấp gáp, hệ trọng của việc quân thần tốc. Đó chính là vẻ đẹp của con người Hồ Chí Minh: vừa mang phong cách, cốt each thi sĩ vừa mang phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ thê hiện tinh thần thời đại, khỏe khoắn, trẻ trung.

Bằng tâm hồn người nghệ sĩ luôn gắn bo với thiên nhiên, yêu đắm say thiên nhiên, bằng tấm lòng luôn đau đáu lo về việc nước kết hợp với tài năng bậc thầy của một ngòi bút tả cảnh, cảm nhận tinh tế, độc đáo và sự sáng tạo trong việc sử dụng chất liệu cổ thi, âm điệu cổ điển nhưng rất mới lạ, giàu sức sông, Hồ Chí Minh đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đầy ấn tượng “Nguyên tiê” – “Rằm tháng Giêng” để lại dấu ấn lâu bền trong lòng người đọc xưa và nay.

chúng tôi

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nhàn

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm là một vị quan lỗi lạc, một nhà thơ nổi tiếng của văn học Trung đại Việt Nam. Giữa cái xã hội phong kiến thối nát, đã có biết bao người lựa chọn cuộc sống bon chen nơi thành đô để mong vinh hoa phú quý. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm lại lựa chọn cuộc sống an nhàn nơi thôn quê dân giã. Bài thơ “Nhàn” là một sáng tác thể hiện rõ nhất tâm hồn thanh cao và lối sống tuyệt đẹp của một đấng quân tử.

Là một vị quan lỗi lạc, tài trí hơn người nhưng không gặp thời. Ông đã dâng sớ để vạch tộ mười tám quan thần lộng hành nhưng không được chấp nhận. Giữa sự biến động và phức tạp của triều đình với các cuộc giao tranh Lê-Mạc và Trịnh Nguyễn phân tranh, ước nguyện mong muốn đem đến cuộc sống ấm no, yên bình cho nhân dân không thành, ông chán ghét cảnh thành đô nên đã lựa chọn về quê nhà sống ẩn dật cùng thiên nhiên để bảo vệ tâm hồn và lối sống thanh cao, trong sạch, tránh sự nhem nhuốc, tối tăm của triều đình phong kiến.

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Hiện lên trước mắt bạn đọc là một bức tranh thanh bình với bóng dáng an nhàn của một lão nông thật sự. “Một mai, một cuốc, một cần câu” là hình ảnh của những dụng cụ quen thuộc và thân thương trong cuộc sống thôn quê. Ông lựa chọn chốn núi rừng để tránh những đao búa, thị phi chốn quan trường. Lựa chọn cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên để được tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên. Điều đó làm tâm hồn ống không bị vướng bận bởi những chuyện thị phi, khong bị nhiễm bẩn bởi sức mạnh của đồng tiền, của danh lợi. Tâm hồn người thi sĩ giờ đây trong sạch, thanh mát như cở cây, hoa lá và khí trời thiên nhiên. Cụm từ “thơ thẩn” như càng làm nổi bật lên vẻ đẹp của lối sống thanh cao. Người nông dân ấy ung dung, tự tại ngồi câu cá, cuốc vườn, đắm mình vào thiên nhiên đất trời. Dẫu cho ngoài kia có biết bao thú vui khác, hấp dẫn và náo nhiệt hơn nhưng ông lại chọn cho mình cuộc sống ẩn dật, bình yên chốn núi rừng.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chỗ lao xao

Ở những vần thơ theo của bài thơ “Nhàn”, một cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên lại hiện ra.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Cuộc sống chốn thôn quê không đầy đủ vật chất, không sơn hào hải vị nhưng lúc nào cũng đủ đầy những món ăn dân gia, đậm hương vị quê hương. Mùa nào thì có thức nấy. Mùa thu ăn măng trức, mừa đông lại ăn giá. Rồi thỉnh thoảng người nông dân lại trồng rau, trồng trái ở khu vườn. Quanh năm suốt tháng, hết món này lại có món chúng tôi những món ăn không cao sang nhưng lại thanh mát, tươi ngon. Với vài nét vẽ đơn giản “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phác họa lên một cuộc sống thanh cao vô cùng. Con người hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Tâm hồn người thi sĩ cũng thanh cao như những đáo sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Hai câu thơ cuối bài thơ là sự đúc kết tất cả những suy nghĩ và tâm hồn của nhà thơ.

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao

Dưới gốc cây xanh mát, lão nông nhâm nhi chén rượu nồng. Vừa uống vừa thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên. Tác giả muốn say, muốn đắm chìm trong không gian vô tận của núi rừng, sông nước.Với ông, với một trạng nguyên có tài có đức thì tiền bạc, vinh danh là những thứ không bao giờ thiếu. Nhưng ông không cần, không quan tâm. Tất cả chỉ là hư vô, là giấc chiêm bao, tỉnh dậy sự tan biến không để lại dấu vết. Tiền tài danh vọng chưa bao giờ là mong muốn, là mục đích của nhà thơ. Ông thi đỗ Trạng nguyên vì muốn được cống hiến cho triều đình, mang lại cho người dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Quyền uy, phú quý đối với ông không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ước mơ của vị quan thanh liêm không thành, ông lựa chọn về ở ẩn, hòa nhập với thiên nhiên để tâm hồn mình được giữ nguyên vẹn sự trong sách, sáng ngời.

Với thể thơ thất ngôn bát cú, ngôn ngữ mộc mạc, chân thành trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm nổi bật lên tâm hồn thanh cao của một người quân tử. Vật chất sa hoa tất cả chỉ là phù phiếm, là giấc chiêm bao. Chính cốt cách và lối sống của ông đã để lại trong lòng người đọc cho đến tận bây giờ một sự tôn kính và khâm phục trước một vị quan thanh liêm nhưng không gặp thời để thể hiện cái tài cái đức của mình phục vụ Tổ quốc, cống hiến cho nhân dân.

Seen

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Từ Ấy

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Từ ấy” – Tố Hữu không chỉ là một nhà cách mạng tài ba mà còn là một nhà thơ xuất sắc. Các sáng tác của ông vừa cổ vũ tinh thần kháng chiến vừa thể hiện được tình yêu và niềm tin của nhân dân đối với Bác Hồ, đối với cách mạng một cách sâu sắc. Trong đó, bài thơ “Từ ấy” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện niềm vui sướng, hân hoan khi giác ngộ ra lí tưởng cách mạng như là nguồn sống mới đang sục sôi trong trái tim người chiến sĩ.

Bài thơ được sáng tác năm 1938 khi nhà thư được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Khi nói về tác phẩm, nhà thơ cũng đã từng viết ‘Từ ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp dám sống, dám đấu tranh”. Từ ấy là một từ ngữ mang ý nghĩa biểu thị thời gian. Đó là khi tác giả ngộ ra lí tưởng cộng sản, là mốc son đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của chính tác giả.

Mặt trời chân lí chói qua tim

Ở cái khoảnh khắc thiêng liêng ấy, trái tim người chiến sĩ như trào lên một tia nắng mới, ấm áp và rực rỡ hơn. Nó nóng bỏng, mạnh mẽ như những tia nắng chói chang mùa hè. Nó đốt cháy, thiêu rụi quãng thời gian đen tối trước đó. Kể từ ấy, một con đường mới đầy ánh sáng, niềm tin và hy vọng sẽ hiện ra. Thứ ánh sáng rực rỡ ấy đến từ “trong tôi”, từ chính trái tim người chiến sĩ trẻ. Lí tưởng của Đảng như “mặt trời chân lí” luôn luôn tồn tại vĩnh hằng với không gian và cả thời gian. Nó như là mặt trời luôn rực sáng và trường tồn mãi trong tâm hồn tác giả. Nó chiếu rọi vào tim, vào cả lí trí lẫn tình cảm. Đó là niềm tin về một con đường đúng đắn đầy hy vọng, là tình yêu và sự tin tưởng vô bờ. Lí tưởng của Đảng như thứ tình yêu mãnh liệt đang hiện hữu và rực hồng với những cảm xúc mãnh liệt nhất của tuổi trẻ.

Nhận ra được chân lí ấy, nhận ra được bước ngoặt lớn của cuộc đời, tâm hồn tác giarnuw vui hơn, đầy nhiệt huyết hơn. Tâm hồn ấy bỗng trở thành “một vườn hoa lá. Rất đậm hương và rộn tiếng chim”. Vườn cây ấy được đắm mình trong ánh mặt trời ấm áp, sinh sôi, nẩy nở tươi tốt. Nó cũng tràn trề sức sống, rộn rang vui tươi trong tiếng chim ca. Có lẽ, cảm xúc vui sướng, hạnh phúc ấy của tác giả đã đạt đến mức cực điểm, không gì có thể sánh bằng. Khổ thơ như lan tỏa đến bạn đọc một sự háo hức, rạo rực và tràn đầy nhiệt huyết, vui chung với niềm vui của người chiến sĩ trẻ.

Sauk hi giác ngộ ra được lí tưởng từ ấy, nhà thơ bắt đầu vẽ ra cho mình một lựa chọn về cuộc đời, về một lẽ sống mới.

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Đến lúc này, người chiến sĩ không phải sống cuộc sống cho riêng riêng mình nữa, anh trói buộc, gắn kết cuộc đời mình vào cuộc đời chúng của dân tộc. Đứng trong hàng ngũ những Đảng viên trẻ, nhà thơ tự nguyện “buộc” mình vào tập thể, cùng ăn, cùng ngủ, cũng sẻ chia với nhau những khó khăn, bão táp. Đó không chỉ là lựa chọn lối sống của tác giả mà còn là trách nhiệm của một người lính đối với đất nước, đối với nhân dân. Tất cả sẽ đoàn kết lại thành một gia đình lớn, yêu thương và che chở cho nhau. Sư đoàn kết của những con người khốn khổ hay của cả dân tộc sẽ tạo thành một làn sóng mạnh mẽ để có thể vượt qua tất cả những bão going của cuộc. Và rồi, ta sẽ không phải sợ bất kì một thế lực nào hết dù cho nó có mạnh, có hiện đại đến đâu đi chăng nữa.

Ở những câu thơ tiếp cuối cùng của “Từ ấy”, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với cuộc đời, đối với nhân dân với tư cách là một chiến sĩ Cộng sản.

Ta đã là con của mọi nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không cơm áo, cù bất cù bơ.

Tố Hữu trói buộc mình với mọi người, hòa lẫn vào nhân dân để tạo nên sức sống mãnh liệt nhất. Kể từ ấy, từ khi đi theo sự dẫn dắt của Đảng, của Bác Hồ, ông chọn cho mình con đường đi hòa chung với con đường đi của Tổ Quốc. Cũng từ ấy, người chiến sĩ sẽ sống như một người lao động khổ cực. Ông gạt bỏ hết niềm tự tôn giai cấp để sống chung với đồng bào. Vốn là một trí thức thuộc tầng lướp tư sản nhưng Tố Hữu lại chọn kiếp sống cơ cực cùng nguời dân lao động. Với sự lựa chọn ấy, nhà thơ như đeo lên vai mình những trọng trách lớn lao. Làm sao để những người nông dân nghèo khổ kia được tự do, được giải phóng để chăm chỉ làm ăn? Làm sao để những đứa trẻ được sống trong sự yên bình, êm ấm, được đến trường, được vui chơi. Trọng trách của người lính trẻ ngày một lớn hơn nhưng với niềm tin vào Đảng, anh sẽ vượt qua tất cả khó khăn để hoàn thnahf vai trò của mình.

“Từ ấy” là một bài thơ ngắn gọn những chứa đựng biết bao cảm xúc thiêng liêng về niềm tin vào Đảng, vào Bác Hồ. Bài thơ không chỉ mở ra con đường mới trong tư tưởng của tác giả mà còn mở ra cho dân tộc một con đường tươi sáng và đầy hy vọng hơn.

Seen

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Đồng Chí

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Đồng chí”

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Đồng chí” – Viết về đề tài người lính trong hai cuộc kháng chiến đã có rất nhiều tác phẩm thành công với việc gây dựng lên hình ảnh người lính kiên cường, dũng cảm. Và trong số đó, bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là một sáng tác nổi tiếng nói về người lính nông thôn.

Bài thơ được sáng tác năm 1948, sau chiến thắng thu đông Việt Bắc nhằm ca ngợi tinh thần dũng cảm của những người nông dân mặc áo lính.

Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Mở đầu bài thơ là những giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Nó như là những lời tâm sự, bộc bạch của những chàng trai trong một buổi chiều vắng địch. Họ vốn xuất thân từ những vùng nông thôn nghèo, không phải tri thức cũng chẳng phải thành đô. Từ những vùng đất cằn cỗi, bạc màu, họ bỏ lại sau lưng quê hương để lên đường ra mặt trận vì sự bình yên của Tổ Quốc. Từ những người xa lạ, họ trở thành anh em, trở thành ” đồng chí “. Trong họ đều mang một nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ gia đình nơi hậu phương. Chính những khó khăn về nơi sinh ra, ở họ có một sự cảm thông, đồng cảm để từ đó, từ những người xa lạ bỗng nhiên trở thành thân quen. Họ gắn bó cùng nhau, kề vai sát cánh bên nhau trong những trận đánh.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Họ đồng cam cộng khổ cùng nhau. Chia sẻ cho nhau những mảnh chăn mỏng trong những đêm đông giá rét. Hai tiếng ” đồng chí ” nghe sao thân thuộc quá. Đó là cách gọi dành cho những người cùng chung lí tưởng, chung mục tiêu. Ở đây, những chàng trai đều mang trong mình một niềm tin mãnh liệt, một ý chí quyết tâm đánh thắng kẻ thù. Với lí tưởng đó, họ không ngần ngại khó khăn để sát cánh cùng nhau, vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường. Những đêm rét đắp chung tấm chăn tơi bạc màu sẽ là kỉ niệm về một thời gian khó mà họ không thể nào quên. Một sự sẻ chia, một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp biết nhường nào.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Ba câu thơ nói lên nỗi nhớ quê hương tha thiết của những chàng nông dân mặc áo lính. Hàng loạt hình ảnh bình dị của quê hương được nêu ra một một lời thơ nhẹ nhàng và tình cảm thiết tha. “Giếng nước, gốc đa” là những hình ảnh thân thuộc nhất của một miền quê nghèo. Họ đã cùng nhau bỏ lại tất cả sau lưng để lên đường với một khát khao mang tự do, hòa bình về cho Tổ Quốc. Họ cùng nhau sẻ chia, cùng nhau, cùng gặm nhẫm nỗi nhớ về quê hương xa xôi và rồi gác lại tất cả để thực hiện mục tiêu, thực hiện lí tưởng cao đẹp.

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Cuộc sống nơi chiến trường với biết bao khó khăn, thiếu thốn. Sốt rét, đói lạnh..các anh đều cùng nhau trải qua. Dù khó khăn, nhưng các chàng lính vẫn lạc quan, vẫn tươi cười, vẫn nắm lấy tay nhau và tạo cho nhau niềm tin vững chắc về một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước.

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Kết thúc bài thơ là hình ảnh hai chàng lính đang đứng cạnh nhau, họ kề vai nhau chờ giặc tới. Hình ảnh ‘đầu súng trăng treo” là một tứ thơ rất đẹp. Trăng là biểu tượng cho sự yên bình, súng là tượng trưng cho sự gian nan vất vả. Câu thơ như vẽ ra một tương lai tươi sáng sau những ngày gian khổ, chiến đấu với hiểm nguy. Một hy vọng tràn đầy trong trái tim mỗi người lính.

Bài thơ “Đồng chí ” của Chính Hữu đã khắc họa lên hình ảnh người nông dân mặc lính đầy lạc quan và dũng cảm. Trong gian khó họ vẫn đứng cạnh nhau, không lùi bước. Với ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, nhà thơ đã vẽ lên hình tượng người chiến sĩ tráng lệ nhưng bình dị, cao cả và thiêng liêng.

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tây Tiến

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Tây Tiến

Cảm nhận của em về bài thơ Tây Tiến – Thơ ca chống Pháp, chống Mỹ nói nhiều về hình ảnh người lính. Có người lính lạc quan ngồi “xe không kính” trong thơ Phạm Tiến Duật, có người lính bình lặng gác súng trong thơ Chính Hữu… Nhưng với tôi người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là đẹp hơn cả. Bài thơ ấn tượng trong cả nội dung và hình thức thể hiện.

Quang Dũng (1921-1988) là cây bút vô cùng tài hoa, phóng khoáng, lãng mạn. Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh. Khi đó, nhà thơ vừa rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến, chuyển sang hoạt động tại đơn vị khác đã nhớ và viết lên bài thơ này. Bài thơ không chỉ vẽ lên khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà còn khắc họa hình ảnh người lính vô cùng bi tráng.

Bài thơ cất lên bởi một tiếng gọi tha thiết, đầy âm hưởng vang vọng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Tiếng gọi tên sông Mã, tên đoàn quân Tây Tiến gợi về một mảng kí ức sâu thẳm trong tâm hồn. Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội thời chống Pháp thành lập năm 1947, hoạt động chủ yếu ở vùng biên giới Việt-Lào. Nhiệm vụ của binh đoàn là phối hợp với bộ đội Lào, tiêu hao sinh lực quân Pháp ở vùng Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam.

Câu thơ thứ hai với điệp ngữ “nhớ”, gieo vần lưng “rồi”-“ơi”, vần chân “ơi”-“với” tạo cảm giác như một tiếng gọi vô cùng thân thương, vang vọng. Tác giả như đang gọi về những năm tháng gian khổ, hi sinh mà nghĩa tình.

Nỗi “nhớ chơi vơi” ở đây cũng rất đặc biệt. Nỗi nhớ ấy không thể cân, đo, đong, đếm nhưng lại vô cùng da diết, ám ảnh. Hơn nữa, nối nhớ như đang hiện lên trùng trùng điệp điệp, mơ hồ như sương núi, phảng phất như mưa rừng.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Một loạt các địa danh được tác giả liệt kê như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông. Nó gợi về những tháng ngày đoàn binh hoạt động trải dài từ Sơn La, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa (Lào). Đó là tên những ngọn núi, con sông, tên bản làng… mà họ đã đi qua. Đó cũng chính là không gian thấm đượm nghĩa tình, gắn bó. Những mảnh đất xa xôi, hẻo lánh, chưa có dấu chân người hiện ra trước mắt người đọc vô cùng hiểm độc, nguy nan thông qua các từ gợi hình: sương lấp, khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, ngàn thước, mưa xa khơi.

Trong khi đó, hình ảnh người lính thì hiện lên trong tình trạng “đoàn quân mỏi” và “súng ngửi trời”. Đoàn quân mỏi mệt, đuối sưc giữa trời đất hoang sơ, lạnh giá. Làm sao mà không mỏi cho được giữa “rừng thiêng nước độc” đầy sương giá, sườn dốc, vực sâu, mưa mù đây? Chi tiết “súng ngửi trời” dường như lại lật ngược tâm trạng. Mỏi mệt là thế, nhưng người lính vẫn như đang đứng ở nơi cao nhất, mũi súng có thể chạm tới bầu trời. Người lính tựa như đang làm chủ không gian, làm chủ hoàn cảnh.

Người lính tiếp tục xuất hiện trong tình cảnh hiểm nghèo:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Người lính lúc này đã “không bước nữa” và “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Họ đã kiệt sức. Họ trở về với đất mẹ. Nhưng điều đặc biệt là, Quang Dũng nói về cái chết thật nhẹ nhàng mà xúc động biết mấy. Người lính phải bỏ lại cả tuổi xuân, cuộc đời nhưng họ tựa như chỉ vừa đi vào giấc ngủ bình yên. Trong giấc mơ đó chỉ còn hình ảnh bình dị, thân thương. Đó là hình ảnh nấu cơm chiều đầy khói tỏa của bản làng. Đó là hình ảnh xôi nếp thơm mùi quê hương. Đó là hình ảnh “em” – người con gái miền Tây khéo léo, tần tảo, thủy chung. Con người bình yên, nhưng thiên nhiên lại gào thét. Thác cũng giận dữ trước cuộc chiến tranh phi nghĩa cướp đi cuộc đời của bao con người.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Đoạn thơ vẽ lên bức tranh đêm hội đuốc hoa rực rỡ ánh sáng và đậm tình quân – dân. Một loạt các từ diễn tả khung cảnh đêm hội được tác giả sử dụng rất hiệu quả như: bừng, đuốc hoa, xiêm áo, khèn lên, man điệu, e ấp, nhạc, hồn thơ. Bức tranh đêm hội đậm chất thi, ca, nhạc, họa và cả tình cảm vô cùng ngây thơ, trong sáng của những người lính.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.”Bức tranh thiên nhiên từ đêm hội đuốc bất ngờ chuyển sang Tây Tiến kì ảo trong buổi chiều sương. Thiên nhiên với những bông lau trắng như đang đung đưa hai bên bờ tiền sử, soi bóng xuống mặt hồ. Còn con người cũng đẹp tương xứng với bức tranh thiên nhiên đó. Và rồi qua rất nhiều cung bậc cảm xúc của nỗi nhớ thơ mộng, hiện thực một lần nữa ùa về:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá giữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Đến đây, sự khắc nghiệt của bão lửa chiến tranh và thiên nhiên độc hiểm càng trở nên khủng khiếp. Bệnh dịch, thời tiết khắc nghiệt, đời sống vật chất thiếu thốn khiến đoàn binh “không mọc tóc”, nét mặt xanh xao “giữ oai hùm”. Ấy vậy mà người lính đâu đó vẫn chan chứa tình thương. Người lính luôn đau đáu hướng về quê hương xa xôi, nhìn về bên kia biên giới để mà mơ “dáng kiều thơm” – những người con gái sắc sảo, thảo thơm đất Hà Thành. Vì tình yêu quê hương đất nước, vì ai đó đang ở nơi xa ngóng chờ mà người lính cầm súng bảo vệ cho họ bầu trời bình yên.

Với người lính Tây Tiến, cái chết không đáng sợ. Câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” miêu tả những nấm mồ rải rác của những người đồng đội đã hi sinh nơi biên giới đất trời. Những người lính phải bỏ mạng nơi chiến trường chỉ có độc manh chiếu quấn quanh rồi đắp nắm đất làm nơi an nghỉ. Nghiệt ngã nhưng người lính lại vô cùng quật cường, “chẳng tiếc đời xanh”. Xa xa, tiếng thác dội của con sông Mã có dòng chảy “ngược” vẫn đang “gầm lên khúc độc hành”. Âm thanh kết thúc bài thơ thật bi tráng!

Bài thơ “Tây Tiến” là khúc ca bi tráng về người lính thời chống Pháp cũng đã thể hiện sự tài hoa của ngòi bút nhà thơ Quang Dũng. Em đã yêu người lính từ những câu thơ như thế!

Họa Tâm

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tỏ Lòng

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ ‘Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Tỏ lòng” – Phạm Ngũ Lão là danh tướng tài ba, là người đã cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xông pha biết bao trận mạc. Sáng tác của ông tuy không nhiều nhưng lại mang âm hưởng và nghĩa khí cao đẹp. Bài thơ “Tỏ lòng” là sáng tác thể hiện lòng tự hào về những chiến công hiển hách cũng như những khát vọng lớn lao của một nam tử hán đại trượng phu giữa thời kì Tổ Quốc bị xâm lăng.

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Đó là khi đất nước vừa giành được chiến thắng trước đội quân Mông-Nguyên hùng mạnh. Sự ra đời của bài thơ kịp thời khích lệ và đề cao tinh thần chiến đấu bất khuất của những người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu

Dịch nghĩa:

Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu

Ba quân như gấu hổ, át cả sao Ngưu đẩu

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ngang tàng đầy bản lĩnh của những chàng dũng sĩ xông pha nơi trận mạc. “Hoành sóc” là một từ ngữ miêu tả tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang, dũng mãnh và oai phong. Đó là khí thế hùng hồn và sức mạnh vô song của cả dân tộc. Là ý chí quật cường, là sức mạnh, quyền uy của một vị thủ lĩnh đang cầm đầu đoàn quân oanh tạc mọi chiến trường. Đoàn quân ấy hừng hực sức chiến đấu, nó ngông cuồng, lẫm liệt như chúa tể sơn lầm mà bất kì loài nào cũng phải khiếp sợ. Ca ngợi sức mạnh quân đội, Phạm Ngũ Lão như muốn cổ vụ, động viên quân lánh có niềm tin và vững bước hơn ở những chiến trường sau. Sức mạnh của họ sẽ chiến thắng tất cả , không gì có thể quật ngã nó được. Đồng thời, ngoài sự ngợi ca, nhà thơ còn như muốn báo trước một chiến thắng vẻ vang, hùng hồn phía trước. Nó là ngọn lửa chiến thắng đang sục sôi trong trái tim mỗi người lính. Nó như ngọn cuồng phong cuốn trôi tất cả các thế lực thù địch, giành tự do về cho dân tộc. Sức mạnh ấy có thể nuốt troi con trâu lớn. “Khí thôn Ngưu” còn như muốn nói lên, sự hùng mạnh, cường tráng của đội quân có thể vươn cao, vươn xa lên tận những ngôi sao Ngưu đang tỏa sáng trên bầu trời. Sức mạnh ấy sẽ bao trùm và bảo vệ cả dân tộc, mang đến cho đất nước sự tự do, mang đến cho nhân dân cuộc sống no ấm, đủ đầy và hạnh phúc.

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Dịch nghĩa:

Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh

Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu

Ở thời đại đó, tư tưởng “trung quân ái quốc” như là lí tưởng sống bao trùm toàn bộ xã hội. Là một đấng nam nhi, phải đem thân mình cống hiến cho đất nước, đi theo và phục vụ Vua. Nhắc đến trí là nhắc đến trí làm trai, làm trai là phải lập công, lập nghiệp. Công danh như món nợ phải trả của một kẻ làm trai. Khi chưa lập được công danh, chưa giúp được nước nhà thì người nam nhi vẫn chưa trả hết nợ. Phạm Ngũ Lão vốn đã là một vị tướng giỏi, đã cùng Hưng Đạo Vương lập bao chiến công hiển hách nhưng với ông như thế cũng chưa đủ. Khi dân tộc vẫn sống trong cảnh xâm lăng, loạn lạc thì ông vẫn mang món nợ với đời. Ông vẫn luôn trăn trở trong lòng khi đất nước còn chưa độc lập, nhân dân vẫn phải sống trong cảnh lầm than. Chính sự canh cánh, trăn trở đã thôi thúc ông cùng bao sĩ phu nuôi dưỡng khát khao, lí tưởng được phò vua, giúp nước, được xông pha nơi trận mạc mà đánh đuổi quân thù. Tinh thần ấy là sức mạnh kiên cường cổ vũ tinh thần chiến đấu của cả dân tộc. Nghĩ rằng mình chưa đủ tài, chưa đủ giỏi để trả nợ công danh, nhà thơ lại nhớ đến chuyện Vũ Hầu mà người đời vẫn hết sức ngợi ca. Vũ Hầu chính là Gia Cát Lượng tài giỏi, uyên thâm. Ông là người biết suy xét, biết nhìn xa trông rộng. Là vị quân sư tài giỏi, là cánh tay phải đắc lực của Lưu Bị thời Tam quốc diên nghia. Chính sự mưu trí của ông đã giúp ích rất nhiều ch Lưu bị trong việc điều binh bố trận, nên ông rất được coi trọng. Nghĩ về người anh hùng Vũ Hầu, tác giả nghi lại mình và cảm thấy có phần hổ thẹn khi bản thân chưa đủ giỏi, chưa đủ mưu trí. Gia Cát Lượng như là tấm gương sáng, là người mà cả đời Phạm Ngũ Lão muốn học theo, từ nhân cách cho đến tài trí. Chính từ sự hổ thẹn này đã thôi thúc tác giả sống cs ích hơn, mong muốn công hiến hơn để có thể trả được cái nợ công danh cho đời.

Bài thơ ‘Tỏ lòng” tuy ngắn ngủi nhưng lại mang ý nghĩa hết sức lớn lao. Một mặt, nó ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dung và sức mạnh kiên cường của dân tộc. Mặt khác nó như lời thúc dục đấng nam nhi phải biết cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân. Chỉ khi đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no thì người là trai mới trả hết nợ công danh cho đời. Qua đó ta cũng thấy được tâm hồn thanh cao và tấm lòng nhân hậu đáng ngưỡng mọ của tác giả.

Seen

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tràng Giang

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới gai đoạn 1930-1945. Thơ ông thường là sự kết hợp giữa vẻ đẹp hiện đại và vẻ đẹp cổ điển, chúng đan hòa vào nhau tạo nên một chất thơ rất độc đáo. Trước Cách mạng, những sáng tác của Huy Cận thường mang một nỗi buồn man mác, bâng khuâng. Bài thơ “Tràng giang” là tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận với việc vẽ lên bức tranh thiên nhiên đượm buồn để nói lên tâm tư, nỗi niềm của thi sĩ về kiếp người nhỏ nhoi, lạc trôi vô định giữa dòng đời rộng lớn.

Ngay từ nhan đề, “Tràng giang” gợi lên một không gian mênh mông, sầu thẳm. Tràng giang nghĩa là sông dài. Thế nhưng nhà thơ không dùng trường giang mà thay vào đó là tràng giang, một từ Hán Việt có ý nghĩa sâu rộng hơn. Hai âm thanh của vần “ang” kéo dài, ngân nga, nó không chỉ là con sông dài mà còn mở ra trước mắt bạn đọc một khoảng sông nước mênh mông, vô tận. Dòng sông vừa rộng, vừa dài gợi lên trong tâm hồn thi sĩ một cảm giác xốn xang pha chút sầu thẳm. Giữa không gian rộng lớn ấy, kẻ trữ tình đứng đây, ngắm nhìn và tâm hồn trở nên cô lieu, đượm buồn về sự nhỏ bé của chính mình trước sự bát ngát của thiên nhiên.

Lời tựa đề cũng chính là cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Từ láy “bâng khuâng’ như lột tả hết được tâm hồn của người thi sĩ. Trước sự mênh mông của đất trời, kẻ thi sĩ thấy tràn lên một sự cô đơn, một nỗi buồn không biết tỏ cùng ai. Nó gặm nhấm tâm hồn ông để trở thành nỗi nhớ, thành niềm hiu quạnh. Bên trên là bầu trời xanh thẳm bát ngát, ở dưới là dòng tràng giang mênh mông, nhà thơ đứng đó, ở giữa và càng cảm thấy mình nhỏ bé, cô liêu. Lời đề từ ngắn thôi nhưng đã làm toát lên vẻ đẹp vừa cổ điển, vừa hiện đại đặc trưng cho phong cách và cảm hứng trong thơ Huy Cận.

Ngay mở đầu bài thơ, dòng sống đã gợi lên một nỗi buồn sầu thẳm.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xua mái nước song song

Thuyền về bến lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hàng loạt từ ngữ lột tả nỗi buồn được nhắc đến. Nó làm cho tâm hồn kẻ trữ tình man mác, bâng khuâng. Nỗi buồn ấy kết hợp với hai điệp từ “song song, điệp điệp” càng như dài, vô tận không điểm dừng. Nỗi buồn cứ triền miên, trải dài và như sâu thẳm hơn. Thuyền và nước vốn là hai vật không thể tách rời, chúng quấn quýt, hòa quyện vào nhau. Thuyền xua mái, nước đẩy thuyền trôi lênh đênh, nhưng tại sao ở đây, “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”? Liệu rằng đó có phải hình ảnh của một cuộc chia li không báo trước? Cuộc chia li làm ai cũng phải ngậm ngùi, buồn bã. Thuyền và nước là hai hình ảnh rất quen thuộc trong thơ cổ điển. Thế nhưng đắt nhất trong khổ thơ lại là hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng”. Giữa dòng nước vô tận ấy, hiện lên bóng dáng một cành củi nhỏ bé đang lênh đênh theo nhịp chảy của dòng nước. Con số một dường như càng nhấn mạnh hơn sự nhỏ bé, lẻ loi. Cành củi ấy không biết mình sẽ đi đâu về đâu giữa mênh mông nước cuốn. Rồi dòng nước nào sẽ cuốn nó đi, nó cũng không biết. Mọi thứ như vô định, không phương hướng. Hình ảnh cành củi khô như là nỗi ám ảnh trong lòng người đọc về những kiếp người bé nhỏ, đang phó thác cho số phận, cuộc đời họ bấp bênh, cô độc không lối rẽ. Một cảm xúc nghe sao tê tái, xót xa.

Sang khổ thơ tiếp theo, tác giả lại vẽ lên một tràng giang đìu hiu, thê lương hơn.

Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Cùng một câu thơ nhưng tác giả sử dụng tận hai từ láy. “Lơ thơ” gợi tả sự thưa thớt, ít ỏi. Những cồn cỏ vốn phải tươi tốt,trải dài một màu xanh mượt mà. Nhưng ở đây, chúng lại lác đác, lơ thơ, thiếu sức sống. Từng con gió “đìu hiu” thổi qua, nó như mệt mỏi, tiêu điều. Khung cảnh ấy gợi lên sựu lạnh lẽo, cô độc khiến cho con người càng thêm cô đơn đến nỗi phải thốt lên “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chợ vốn là hình ảnh của sự ấm nó, đông đúc. Ở đó là nơi con người tụ tập, trao đổi buôn bán. Nó vốn dĩ phải trào lên những âm thanh sống động, tiêng cười nói của con người nhưng ở đây nhà thơ lại sử dụng hình ảnh chợ chiều.Buổi chiều chợ đã vãn người, chỉ còn lại khoảng đất trống vắng tanh. Tất cả như càng làm nổi bật lên nỗi niềm cô đơn, hiu quạnh đang dấy lên trong tâm hồn người thi sĩ.

Sang khổ ba, không gian yên ắng ấy đã có âm thanh của sự dịch chuyển.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Từng đám bèo nối nhau trôi dạt giữa dòng nước mênh mông. Tuy ở đây đã có sự di chuyển nhưng chính cái động ấy càng làm tâm hồn nhà thơ thêm tê tái. “Bèo” là hình ảnh vẫn hay tìm thấy trong thơ cổ điển nhưng nó lại là biểu tượng của sự bấp bênh, trôi nổi. Từng hàng béo đại diện cho biết bao số phận lạc long giữa sóng gió cuộc đời. Chúng cứ nối dài đến vô tận. Cảm giác lạnh lẽo, không chút “thân mật”, không có gì để có thể kéo tâm hồn nhà thơ ra khỏi nỗi cô đơn, tiêu điều.

Sau bức tranh của sông nước tràng giang mênh mông, vô tận, mãi đến cuối bài thơ, tác giả mới bộc bạch nỗi niềm của mình.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Làng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Trên bầu trời từng đám mây cứ hiện lên, cuồn cuộn như những dãy núi màu bạc trắng. Những cánh chim nhỏ bé đang chao liệng, nghiêng mình trong bóng chiều tà. Chiều tà đẹp nhất có lẽ là ở nông thôi. Buổi chiều gợi cho ta nỗi nhớ về quê nhà, về những gì thân thương nhất. Hình ảnh làn khói chập chờn trong ánh hoàng hôn là những nét vẽ đẹp nhất vè sự ấm no của quê hương. Và đứng trước không gian ấy, nỗi nhớ quê nhà trào dâng lên trong lòng người thi sĩ.

Nhưu vậy, với những hình ảnh mang đậm phong cách cổ điển cùng hồn thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, “Tràng giang” đã gợi lên trong lòng người đọc biết bao cảm xúc dạt dào. Nó là tiếng nói nghẹn ngào của những tâm hồn bé nhỏ, của những cuộc đời bấp bênh, là nỗi nhớ và tình yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước.

Seen

Incoming search terms:

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Của Hồ Chí Minh trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!