Xu Hướng 2/2023 # Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu (Theo Ngữ Văn 11, Tập Hai Nxb Giáo Dục Việt Nam) # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu (Theo Ngữ Văn 11, Tập Hai Nxb Giáo Dục Việt Nam) # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu (Theo Ngữ Văn 11, Tập Hai Nxb Giáo Dục Việt Nam) được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sức hẫp dẫn của tập thơ Từ ấy (1937 – 1946) trước hết là sự hấp dẫn của lí tưởng cách mạng. Lí tưởng vẫy gọi thanh niên Tố Hữu lên đường đấu tranh và anh đã hướng theo lí tưởng như hoa hướng dương hướng về phía mặt trời. Nhà thơ nguyện suốt đời phấn đấu cho lí tưởng.

Tôi vẫn hằng tự nghĩ: Miễn quên thân Dăng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa.

(Trăng trối)

Nhớ lại buổi đầu được giác ngộ Tố Hữu bồi hồi xúc động viết bài thơ Từ ấy (1938).

Bài thơ nói lên lí tưởng, nói đến những chuyến biến trong tâm hồn nhà thơ khi được ánh sáng lí tưởng chiếu rọi. Những vấn đề lí tưởng cách mạng được nhà thơ diễn đạt tự nhiên nhuần nhuyễn, bằng tiếng nói của nghệ thuật, bằng hình ảnh âm thanh, bằng tình cảm chân thành nồng thắm.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Nhà thơ dùng hàng loạt biện pháp tu từ để nói lên những cảm xúc động mãnh liệt khi đón nhận ánh sáng chân lí. Lí tưởng cách mạng là nguồn sáng dịu kí chói chang như ánh nắng mặt trời giữa những ngày hè rực rỡ đã tràn ngập tâm hồn, khơi dậy những tình cảm mới mẻ, những rung động thiết tha, tạo bước ngoặt mới trong đời. Ánh sáng soi đường đi tới tương lai rò ràng, rộng mở. Từ bừng vừa diễn tả sức mạnh của lí tương xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản vừa diễn tả sự bừng tỉnh của nhận thức, giác ngộ về chân lí, lẽ sống lớn. Từ chói cũng góp phần thể hiện sức mạnh chinh phục của li tưởng, nhanh chóng chiếm lĩnh mọi trái tim, tâm hồn. Tố Hữu đã ví tâm hồn xao động của mình đang chói chang nắng hạ khác nào như một vườn hoa lá đang đậm hương và rộn tiếng chim. Từ đậm và rộn diễn tả mật độ, mức độ dồi dào của sự sống, thể hiện niềm ngất ngây trong men say hạnh phúc. Tâm hồn thật tắm xanh vì tiếp nhận chân lí là tiếp nhận nguồn sống, nguồn năng lượng mới.Một lí tưởng đẹp nổi bật qua hệ thống hình ảnh đẹp.

Lí tưởng đến với nhà thơ, nhà thơ thắp sáng mình trong lí tưởng tạo nên những chuyển biến về tư tưởng tình cảm mở đầu cho những hoạt động đầy ý nghĩa: Tôi buộc lòng tôi với mọi người /Để tình trang trải với trăm nơi /Để hồn tôi với bao hồn khổ /Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời…

Bước chuyển biến đầu tiên của nhà thơ là hòa mình vào quần chúng lao khổ, thông cảm và chia sẻ với những nỗi khổ đau của họ. Nhà thơ đến với họ không phải từ lòng trắc ẩn mà với tình cảm chan chứa yêu thương. Tình cảm được diễn đạt bằng từ ngừ cô đọng hàm súc. Từ buộc diễn đạt một cách sinh động sự gắn bó khắng khít của nhà thơ quần chúng. Từ trang trải gợi lên tình cảm thương mến bao la. Từ khối cho ta hình dung về sức mạnh đoàn kết. Những từ này vừa có tính hình tượng vừa có giá trị biểu cảm. Lí tưởng dẫn (lắt nhà thơ về với cuộc đời, tìm thấy vị trí chỗ đứng trong đời đứng trên lập trường của nhân

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ…

Điệp từ là cái gạch nối bền chặt, một bên là cái tôi, bên kia là cuộc đời vạn kiếp thương đau. Cán cân bị lệch nên cái tôi nghiêng về chan hòa với cái ta rộng lớn. Lời thơ trang trọng như lời khẳng định tự nguyện đến với quần chúng lao khổ. Khổ thơ đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư tường tinh cảm cùa nhà thơ. Gắn bó với quần chúng, nhà thơ nguyện làm một thành viên trong đại gia đình của những người ở bậc thang cuối cùng trong xã hội cũ để thức tỉnh họ cùng đấu tranh và tranh đấu vì họ. Nếu khổ thứ hai chủ yếu hướng nội với cái tôi xuất xứ, thì ở khố thơ này, cái tôi chủ yếu hướng ngoại nhưng cái láng sâu trong tâm hồn người chiến sĩ là tình thương vô hạn dối với thản phận lạc loài, bé nhỏ, bơ vơ: Hai đứa bé, Đi đi em, Một tiếng rao đêm…Hai khổ thơ sau biểu hiện nhân sinh quan cách mạng, tinh thẩn nhân đạo cộng sản cao đẹp của nhà thơ

Nếu tập thơ Từ ấy là chặng đường thơ của tâm hồn người thanh niên tư sản được giác ngộ và trở thành người chiến sì cách mạng thì bài thơ Từ ẩy tóm tắt quá trình chuyến biến ấy. Quá trình chuyển biến tình cảm nhận thức diễn tả cô đọng hàm súc trong một bài thơ ngắn gọn đầy hình ảnh và giàu cảm xúc. Nhà thơ vui sướng ngất ngây khi bắt gặp ánh sáng diệu kì, ánh sáng chân lí của Đảng và nhà thơ nguyện sẽ là chiến sĩ cách mạng đấu tranh cho quvền lợi cùa quần chúng công nông.Bài thơ có ý nghĩa như một tuyên ngôn về quan điểm nhân sinh với những nhận thức, tình cảm mới của nhà thơ, trên cơ sở đó là quan điểm nghệ thuật của nhà thơ: Văn chương phục vụ sự nghiệp cách mạng.Thanh niên phải biết lựa chọn và xây dựng lí tường sống cao đẹp thì mới có cuộc sống giàu ý nghĩa.

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Đoạn Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước. Thơ của nữ thi sĩ dễ đi vào lòng người đọc với vẻ đẹp giản dị mà đằm thắm. Đó là những tâm tình, suy tư của người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương. Trong đó, “Sóng” là một thi phẩm nổi bật của thơ Xuân Quỳnh. Đặc biệt là những dòng thơ đầu : “Dữ dội và dịu êm…Khi nào ta yêu nhau”.

Xuyên suốt trung tâm của bài thơ là hình tượng sóng và hình tượng em. Sống là một hiện tượng của thiên nhiên. Nhưng ẩn sâu trong đó là sóng tình yêu, sóng lòng trong tâm hồn của người phụ nữ. Hình tượng em là sự hóa thân của nhà thơ Xuân Quỳnh. Nữ sĩ trải lòng mình trên những trang thơ, mượn hình ản sóng để nói lên những nỗi lòng.

Trong hai câu thơ trên, tác giả nêu lên những trạng thái đối lập của sóng: lúc thì mạnh mẽ, dữ dội, lúc lại trôi lững lờ. Đó cung là đặc điểm của tâm trạng người con gái khi yêu. Có lúc cuồng nhiệt, đắm say, có lúc lại dè dặt e ấp. Những trạng thái tuy đối lập nhưng lại thống nhất với nhau. Hai câu thơ đầu được tổ chức theo phép đối, tạo nên cấu trúc hài hòa, cân xứng. Tác giả đặt những tính từ như “dịu êm”, “lặng lẽ” ở dưới mỗi câu thơ cũng cho thấy được sự nữ tính của con sóng .

Phép nhân hóa đã thổi hồn vào sóng để biến nó trở thành một con người. Sóng không chấp nhận giới hạn chjat chội, khi không được sông hiểu,khi không tìm thấy được sự đồng điệu, nó vươn ra tìm đến với đại dương mênh mông. Cũng giống như trong tình yêu, người phụ nữ không chấp nhận những gì tầm thường, chật hẹp mà luôn hướng tới những điều cao cả, lớn lao.

Ở đoạn thơ tiếp theo, tác giả viết:

Con sóng đa vỗ bờ từ ngàn xưa, cho đến bây giờ và mãi mãi sau này. Đó là quy luật bất biến của tự nhiên. Trong tình yêu, cũng có sự tương đồng khi mà tình yêu, nỗi khao khát luôn thường trực trước đây, ngày nay và mãi cả về sau. Chừng nào con người còn tồn tại thì tình yêu cũng như một món quà diệu kì mà thượng đế ban tặng cho nhân loại. Khát vọng tình yêu là khát vọng bất diệt của con người, đặc biệt là những con người trẻ tuổi.

Nhân vật trữ tình đứng trước biển khơi với những suy nghĩ sâu lắng:

Người con gái đang yêu nghĩ về bản thân mình, nghĩ về người thương và cũng suy tư về sóng biển. Nhân vật trữ tình đang ở trong niềm khao khát lí giải nguồn gốc của sóng cũng như nguồn gốc của tình yêu.

“Em” đã không đi truy tìm được căn nguyên của sóng, cũng như tình yêu. Tình yêu diệu kì nhưng cũng thật bí ẩn như thế giới tự nhiên. Nó là những rung động của con tim, có những khi lí trí không thể chiến thắng được con tim mách bảo. Tình yêu vẫn luôn là câu hỏi không khó nhưng cũng chẳng dễ dàng nào có thể lí giải được căn nguyên, cội nguồn. Nhân vật trữ tình cũng phải bộc lộ rằng “em cũng không biết nữa/khi nào ta yêu nhau”. Chính ái không biết đấy ủa em lại là minh chứng chân thành nhất cho tình yêu sâu đậm, không toan tính. Đó chính là tiếng lòng của người phụ nữ đang yêu.

Có thể thấy rằng, đoạn thơ mở đầu khắc họa được trọn vẹn hình tượng sóng và hình tượng em. Sóng là em và em cũng là sóng. Sóng mang ý nghĩ biểu trưng cho những trạng thái cảm xúc của người phụ nữ đang yêu. Qua hình tượng sóng để tác giả cũng nói lên quy luật bất diệt của tình yêu. Các câu thơ mặc dù ngắn về số lượng từ nhưng lại có sức cô dộng và giàu giá trị gợi hình gợi tả. Để rồi, người đọc cũng cảm thấy những con sóng đang gối thúc vào lòng mình.

Cảm Nhận Của Anh (Chị) Về Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đannón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

– Giới thiệu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.

– Giới thiệu vị trí của đoạn thơ: Đoạn thơ là những cảm xúc dạt dào, sâu lắng của người ra đi trước vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc.

Đoạn thơ được chia làm hai phần:

– Phần một gồm 2 câu thơ đầu giống như lời mở đầu trong các cuộc hát giao duyên, trong đó người về vừa ướm hỏi người ở lại vừa khẳng định những tình cảm trong lòng mình: nhớ cả “hoa” và “người” – hai hình ảnh này đồng hiện, soi chiếu vào nhau. “Hoa” là thứ đẹp nhất của thiên nhiên, còn “người” là “hoa của đất”. “Hoa” và “người” không thể tách rời.

– Phần hai gồm 8 câu chia thành 4 cặp lục bát. Ở mỗi cặp, cứ câu lục tả thiên nhiên thì câu bát tả người. Đây là bức tranh “tứ bình” diễn tả thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa bằng những nét đặc trưng nhất của miền đất này.

+ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi – Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”: Đây là hình ảnh có tính khái quát, trong đó Việt Bắc hiện lên như một miền quê lặng lẽ. Gam màu cơ bản của bức traríh là màu xanh – một màu xanh mênh mông và trầm tĩnh của rừng già. Trên cái nền xanh ấy là hình ảnh hoa chuối rừng bập bùng cháy như những ngọn lửa, làm sáng cả một góc rừng. Ánh nắng trong câu bát làm cho không khí vốn trầm mặc của nơi này trở nên tươi sáng và lung linh. Trên nền cảnh ấy, con người xuất hiện. Người đứng trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào khiến lưỡi dao trên lưng loé sáng. Hình ảnh đó gợi lên một tư thế vững chãi, tự tin của con người làm chủ núi rừng.

Tố Hữu cũng đã từng có những câu thơ viết về tư thế ấy:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá nguỵ trang reo với gió đèo…

+ “Ngày xuân mơ nở trắng rừng – Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”: Nền xanh trầm tĩnh của bức tranh thứ nhất đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng, khiến cảnh rừng như bừng sáng. Hình ảnh hoa mơ trắng sau này cũng sẽ xuất hiện trong thơ Tố Hữu ở bài Theo chân Bác:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về… Im lặng. Con chim hót

Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

Trên nền cảnh ấy hiện ra hình ảnh con người Việt Bắc đang làm việc một cách thầm lặng: chuốt từng sợi giang để đan nón. Hai chữ “chuốt từng” gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và cũng hết sức tài hoa.

+ “Ve kêu rừng phách đổ vàng – Nhớ cô em gái hái măng một mình”: Âm thanh của núi rừng đã xuất hiện. Nhạc ve làm cho không khí trở nên xao động. Đây là bức tranh mùa hè, Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho những rừng phách nở hoa màu vàng. Chữ “đổ” nhấn mạnh sự biến đổi màu sắc nhanh chóng đồng thời diễn tả những trận mưa hoa mỗi khi có một luồng gió ào qua. Trên nền cảnh ấy xuất hiện người lao động: cô gái Việt Bắc đang hái măng một mình. Hình ảnh này cho thấy sự chịu thương, chịu khó của người dân nơi đây.

+ “Rừng thu trăng rọi hoà bình – Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”: Nếu ba bức tranh trên là ngày thì bức tranh này là đêm. Nó vẽ ra cảnh ánh trăng rọi qua vòm lá tạo nên khung cảnh huyền ảo: “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Nó khiến ta nhớ đến câu thơ của Hồ Chí Minh: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” ( Cảnh khuya). Đây là một khung cảnh trữ tình, cho nên nó gợi nhớ đến hình ảnh con người cất tiếng hát về sự ân tình, thuỷ chung. Chữ “ai” làm cho đoạn thơ trở nên tình tứ hơn. Qua đó, ta cũng thấy được phẩm chất ân nghĩa, thuỷ chung của người Việt Bắc.

Qua đoạn thơ, Tố Hữu đã thể hiện được những gì là đặc trưng nhất của cảnh và người Việt Bắc. Điều thú vị là tất cả đều hiện lên trong điệp khúc nhớ thương và vì thế dường như mọi thứ đều trở nên lung linh, huyền ảo hơn.

Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn thơ và vẻ đẹp của hồn thơ Tố Hữu.

Nguồn: chúng tôi

Cảm Nhận Của Anh (Chị) Về Âm Điệu Dân Gian Trong Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương

Cảm nhận của anh (chị) về âm điệu dân gian trong bài thơ thương vợ của Tú Xương

1. Khái niệm “âm điệu dân gian”: là một khái niệm để chỉ tính chất gần gũi về mặt giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm văn học với giọng điệu, ngôn ngữ của nhân dân lao động (được thể hiện tập trung trong các sáng tác văn nghệ dân gian – trong đó có văn học dân gian – và cả trong lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động).

Nhưng chúng ta không nên giới hạn nội dung khái niệm “âm điệu dân gian” trong khuôn khổ tính chất giọng điệu và ngôn ngữ tác phẩm (mặc dù đây sẽ là nội dung chính của vấn đề) mà nên mở rộng hơn, khái niệm “âm điệu dân gian” có thể được hiểu như “chất dân gian”, nghĩa là không chỉ có giọng điệu, ngôn ngữ mà còn là hình ảnh, cảm xúc, quan niệm thẩm mĩ…. của nhân dân, vì xét cho cùng, đó mới chính là những yếu tố quy định “âm điệu”, “giọng điệu”.

Do vậy, để phân tích “âm điệu dân gian” trong tác phẩm, ta cần chỉ ra nét đặc trưng dân gian trong: ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh… của tác phẩm; tình cảm, quan niệm đạo đức, cách hành xử….của nhân vật trữ tình.

2. Âm điệu dân gian trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương.

– Ngôn ngữ thơ

+ Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, thứ chữ ghi âm tiếng Việt. Mà các từ ngữ trong bài thơ đều là những từ ngữ hết sức giản dị, dễ hiểu, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp thường ngày của nhân dân.

+ Lời thơ giản dị, gần gũi với phong cách khẩu ngữ (một lời tự bạch chân thành, giản dị mà xúc động), thậm chí, còn sử dụng cả ngôn ngữ chửi (Cha mẹ thói đời…), rất thực, rất đời thường.

+ Sử dụng linh hoạt các thành ngữ để thể hiện nỗi vất vả của bà Tú trong cuộc sống mưu sinh: một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa. Tác giả còn sử dụng nhiều từ láy sinh động, gần gũi với khẩu ngữ: lặn lội, eo sèo, hờ hững; sử dụng các khái niệm quen thuộc trong quan niệm dân gian: duyên, nợ, phận. Các thành ngữ, khái niệm được vận dụng sáng tạo để thể hiện tình cảm của tác giả: “một duyên hai nợ” – duyên thì ít ỏi mà “nợ” thì nhiều, cách nói thể hiện sự chua xót, thương cảm của tác giả.

– Giọng điệu thơ

Giọng điệu bài thơ có sự kết hợp giữa giọng điệu trữ tình với giọng tự trào thâm thúy, trong đó, giọng điệu trữ tình là chủ âm, giọng điệu tự trào (cùng với nó là hình ảnh tác giả, ông Tú) ẩn ở phía sau, góp phần thể hiện nhiều cung bậc tình cảm của nhân vật trữ tình.

– Hình ảnh thơ

+ Các hình ảnh lấy chất liệu từ văn học dân gian: “thân cò lặn lội”. Trong ca dao, hình ảnh con cò, thân cò thường nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương, chịu khó. Nhà thơ có sự vận dụng hình ảnh rất sáng tạo: cấu trúc đảo “lặn lội thân cò” nhấn mạnh nỗi vất vả, lam lũ, dùng “thân cò” chứ không phải là “con cò”, “cái cò” còn thể hiện sự đồng cảm về thân phận.

+ Hình ảnh bà Tú là hình ảnh đẹp đẽ của biết bao người phụ nữ Việt Nam, bình dị, tần tảo, hy sinh cả cuộc đời cho gia đình, cho chồng con… Chính hình ảnh đẹp đẽ, gần gũi, ấy tạo được sự đồng cảm, xúc động sâu sắc của người đọc nhiều thế hệ

– Tình cảm, tâm trạng của nhân vật trữ tình

Từ toàn bộ bài thơ, thấy ngầm ẩn hình ảnh tác giả – một người ý thức sâu sắc và chua chát về sự bất lực của mình, đồng thời, dành cho người vợ tần tảo niềm yêu thương, trân trọng, cảm thông, cảm thương và sự tri ân sâu sắc. Còn bà Tú, ta không thầy bà “phát ngôn” trong bài thơ, nhưng chính sự “im lặng” ấy đã nói lên tất cả, về tình nghĩa, về sự thủy chung, về đức hy sinh thầm lặng…Tình cảm vợ chồng tình nghĩa, thủy chung gắn bó đó cũng rất gần gũi với điệu tình cảm, với quan niệm thẩm mĩ của dân gian.

Những ý trên chỉ là những luận điểm có tính chất gợi mở để các em tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi. Hãy sử dụng vốn kiến thức, khả năng liên tưởng và nhất là cảm xúc chân thành, đồng cảm với tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ. Mong các em tiếp tục đóng góp ý kiến để vấn đề được thêm rộng, thêm sâu.

Minh Nguyệt

Hãy Nêu Cảm Nghĩ Của Anh/ Chị Về Bài Tiếng Gà Trưa

Cứ mỗi lần nghe thấy tiếng gà là em không cầm được súc động, nhưng súc cảm cứ trào về trong em, phở gà, cháo gà, chân gà nướng, gà rang muối,… cứ tung tăng nhảy múa trong tâm hồn non nớt của tuổi thơ, nó ru em dần vào giấc ngủ, dần vào cõi mơ để rồi em lại chợt bừng tỉnh bởi Tiếng gà trưa. Cúc cù cu.. Tiếng gà trưa của nhà tơ Xuân Quỳnh.

Có thể nói buổi trưa mà nghe thấy tiếng gà thì đố ai mà ngủ được, mặc dù nhà em có năm tầng và lắp cửa cách âm nhưng sao tiếng gà cứ lảng vảng quanh nhà, từ đợt có dịch cúm gà đến hôm nay mới là lần đầu tiên em nghe thấy tiếng gà rõ thế. Chắc cô giáo lại nghĩ nhà em ở gấn trại gà chứ gì. Không! âm thanh đó, tiếng gà đó được vang lên trong bài thơ của nhà thơ Wỳnh Tiếng gà chưa.

“Ổ dơm hồng những trứng bà lo đàn gà toi mong trời đừng xương múi để cuối lăm bán gà Cháu được quần áo mới”

Tình cảm bà và cháu. Cháu nghe tiếng gà, cháu nhớ nhà, cháu nhớ gà và cháu nhớ bà. Bà ơi, đàn gà của bà là hạnh phúc của bà là niềm vui trong chiếc áo mới của cháu, là nỗi lo trên những nếp nhăn của trán bà trong những chiều đông lạnh phủ đầy sương, là khóe miệng mỉm cười khi bà đếm những đồng tiền bán gà trong phiên chợ Tết, là đôi mắt nheo nheo khi chọn chiếc áo mới cho cháu và khóe mắt long lanh khi cháu mặc áo mới chạy quanh chân bà… Ôi tuổi thơ của tôi như tràn về khi đọc bài Tiếng gà trưa. Còn bây giờ cháu đang hành quân xa gian khổ bên tai cháu văng vẳng là tiếng gọi của Tổ quốc của quê hương giục cháu lên đường là tiếng gà giữa trưa vắng. Bà ơi! cháu sẽ ra đi để bảo vệ quê hương để giữ xóm làng giữ những tiếng gà mộc mạc, để cháu bảo vệ bà như những ngày xưa bà đã che chở bảo bọc cho cháu. Để tuổi thơ mãi được bình yên như những tiếng gà trưa, để cháu trở lại ngày xưa được về với bà với đàn gà bé bỏng. Nhưng bà ơi khi Tổ quốc cần ta phải biết hy sinh, bà và đàn gà là một phần trong trái tim cháu thì cháu phải ra đi để bảo vệ, cháu không còn là cô bé như ngày xưa nữa. Cháu đã vững vàng cầm chắc tay súng cho cháu được hôn lên đôi mắt bà, lên những quả trứng hồng ngày nào. Nếu mai đây nếu cháu có ngã xuống vì mũi đạn của kẻ thù, cháu xin được chết nơi có những tiếng gà, cháu sẽ mỉm cười vì cháu đã chết vì non sông đất nước, cháu sẽ vui vì nơi đó có bà, có tiếng gà và có tuổi thơ.

Nguồn: chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu (Theo Ngữ Văn 11, Tập Hai Nxb Giáo Dục Việt Nam) trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!