Xu Hướng 12/2022 # Cảm Nhận Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023 # Top 16 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Cảm Nhận Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Cảm Nhận Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cảm nhận bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương là một trong những tên tuổi nổi bậc nhất của nền văn học thế kỉ 18. Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan. Khi đất nước hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội. Đời sống tinh thần của nhân dân cũng bị tác động hết sức mãnh liệt. Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình trước cuộc đời. “Thương vợ” của Tú Xương là một bài thơ đặc sắc viết về đề tài này:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên, hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa, dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc: Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trong các nhà Nho xưa, ít ai viết về vợ mình tha thiết như Tú Xương. Bởi trong xã hội phong kiến, người phụ nữ không có thân phận. Họ không được nhìn nhận hay đề cao. Họ bị xem là người ở phía sau mọi điều cao quý. Nữ nhi thường tình thuộc loại thấp hèn trong xã hội. Có chăng, các nhà Nho chỉ viết về vợ khi họ đã mất để ghi nhớ và tôn vinh nỗi vất vả, gian truân của họ trong cuộc đời làm người. Nguyễn Khuyến đã Từng khóc vợ hết sức cảm động trong câu đối viếng vợ:

“Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân xiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.

Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm?”

(Khóc vợ – Nguyễn Khuyến)

Tú Xương đã làm điều đó sớm hơn Nguyễn khuyến. Ông không đợi đến khi bà Tú nhắm mắt xuôi tay mới có lời ngợi ca và ghi nhận công đức của bà. Ông viếng bà ngay khi còn sống trong lời thơ vừa đùa cợt vừa hết sức chân thành. Mở đầu bài thơ, Tú Xương ghi lại một cách chân thực người vợ tần tảo, đảm đang của mình:

Thủ pháp thơ xưa tả ít gợi nhiều. Hai câu thơ đầu không nhắc gì đến bà Tú. Thế mà cũng có thể làm hiện hình bà Tú hết sức rõ ràng, chân thực đầy sinh động trong cơ cảnh cuộc đời. Đầu tiên là công việc mưu sinh vất vả, cực nhọc. “Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối cơ cực, vất vả. Thời gian kéo dài từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác. Bà vẫn đều đặn đi về bất chấp ngày nắng ngày mưa. Kể cả ngày khỏe mạnh hay ngày ốm đau bà cũng phải bươn chải. Không một ngày nào bà nghỉ ngơi.

Nơi bà Tú buôn bán là một “mom sông”. Đó là vị trí mảnh đất nhô ra mé bờ sông chênh vênh đầy nguy hiểm. Chỉ hai chữ “mom sông” thôi cũng đủ gợi về cuộc đời tần tảo, chịu thương, chịu khó của bà. Tất cả những cơ cực của cuộc đời hiện hình trên chiếc nón lá nhuốm màu nắng mưa. Đôi vai gầy guộc trĩu xuống vì gánh nặng cuộc đời. Bà Tú thầm lặng đi sớm về khuya như chiếc bóng. Bà thầm lặng bươn chải đêm ngày trên dòng đời tấp nập để thực hiện thiên chức cao quý của người phụ nữ:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Câu thơ vừa cân đói vừa hết sức chênh vênh. Thì ra cái gánh nặng cuộc đời của bà là gánh nặng chồng con. Tú Xương cũng thật là hóm hỉnh khi đã cân đếm mình và các con trên chiếc đòn cân số phận. Trách nhiệm một người đàn ông là phải lo được cho vợ cho con chu tất, vẹn toàn. Trách nhiệm của người chồng là làm cho gia đình ấm êm, hạnh phúc.

Thế mà, giờ đây, bổn phận ấy Tú Xương cũng không thể làm được. Sinh ra trên đời, ông cũng thực hiện bổn phận làm trai theo đuổi sự nghiệp, công danh như bao người đàn ông khác. Cái chí khí của người trai đứng giữa đất trời không ngừng thôi thúc ông:

(Nguyễn Công Trứ)

Hay những lời nhắc nhở nhỏ nhẹ nhưng hào khí biết bao: “Hơn nhau hai chữ anh hùng” (Nguyễn Công Trứ). Hai mươi năm đi thi nhưng không đỗ đạt. Cái chí làm trai của Tú Xương dường như cũng tan nát. Ông chê cuộc đời nhiễu nhương, giả trá nhưng cũng không thể vượt lên cái nghiệp khoa cử.

(Xuân Diệu)

Tú tài chỉ là cái danh hảo mà thôi. Còn thực tế thì thật phũ phàng. Ông đứng giữa lằn ranh mờ ảo của thành công và thất bại. Ông đứa ở cái thế chênh vênh của kẻ sĩ và kể bất tài, vô dụng. Tuy có tiếng tăm, được người đời tôn trọng nhưng chẳng làm được gì. Và thế là, ông trở thành một đầu gánh nặng trong gia đình. Bà Tú đã suốt đời cơ nhọc cũng chỉ mong một tiếng công danh của chồng. Bà luôn mong có một ngày được nở mày, nở mặt với thiên hạ. Bà mong đợi một ngày có thể bước ra khỏi sự bần hàn tăm tối.

Vậy mà, nào có được đâu. Đức tính cam chịu, hi sinh vì chồng vì con đã khiến bà mạnh mẽ. Chưa bào giờ bà buông lời oán trách, than vãn điều gì. Tú Xương thấu hiểu sâu sắc điều đó. Càng thấu hiểu ông càng yêu kính bà hơn. Vừa thương vợ lại vừa tự trách mình vô tâm. Câu thơ chua chát như một tiếng thở dài bất lực của ông trước cuộc đời. Càng ngẫm càng thấy đau. Hình ảnh bà Tú vì thế mà được tô đậm rõ ràng hơn:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên, hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa, dám quản công”.

Bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng” đìu hiu. Lấy hình ảnh thân cò để biểu đạt cái dáng còm cỏi của bà Tú, quả thật Tú Xương rất tinh tế. Tuy phép ẩn dụ ấy không có gì xa lạ nhưng ta nhận ra cái thực tâm của nhà thơ. Hình ảnh “con cò”, “cái cò” trong ca dao cổ vốn đã nhỏ bé, thảm thương:

Hay:

Nay lại được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đáng thương thay. Câu thơ đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú. Đó cũng là thân phận vất vả, cực khổ của biết bao người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ.

Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian.

Ngôn ngữ thơ tăng cấp tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng. Đã “lặn lội” lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sống ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được.

Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút. Ngôn ngữ chứa đầy lo âu, cái rợn ngợp của thời gian. Từ “Con cò lặn lội bờ sông” trong ca dao đến “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” của Tú Xương là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ độc đáo làm tăng sức biểu đạt cho câu thơ. Nhà thơ đưa ra từ “lặn lội” lên đầu câu nhằm tô đậm cái vất vả, cơ cực. Lại thay từ “con cò” bằng “thân cò” càng làm tăng nỗi vất vả, gian truân của bà Tú. Từ “con cò” gợi lên kiếp đời nhỏ bé. So với từ “thân cò” của Tú Xương lại càng thêm đáng thương bội lầm.

“Buổi đò đông” gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. “Buổi đò đông” lại càng thêm nguy hiểm hơn “khi quãng vắng”. “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, cáu gắt. Những sự chen lấn, xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy.

Nhà thơ như rưng rưng nước mắt khi dõi theo hình ảnh bà Tú một mình sớm tối đi về. Dõi theo ánh mắt Tú Xương, ta có cảm giác như nhà thơ chực muốn khóc. Giọt nước mắt như cứ muốn tuôn ra, vừa nghẹn ngào, vừa uất ức. Không gian cũng được mở ra rộng lớn hơn. Càng rộng lớn càng hoang vắng, đìu hiu, mờ mịt đến đáng sợ. Buổi đò đông “eo sèo” như tiếng nước tan, như dòng đời đang tàn rã. Âm thanh đìu hiu khiến lòng người não nề, buồn thảm khôn cùng.

Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú. Đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chèn chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương, đó là tấm lòng xót thương da diết. Tú Xương đã rất tinh tế khi dùng từ “eo sèo” để diễn tả cảm giác ấy:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Dường như có cái lạnh như đang thấm vào chiếc áo cũ sờn vai của bà Tú. Có cái tủi hổ đang cấu vào lòng ông trong nỗi thương vợ se sắt trong lòng.

Tú Xương thật dũng cảm đã vượt lên trên cái tự cao của người đàn ông để nói lời thương vợ đến thế. Ông đã cố giấu nó đi nhưng càng cố giấu giếm nó lại càng tuôn trào mãnh liệt hơn. Hai tiếng “eo sèo” tan ra như kiếp đời một con người tài hoa nhưng bất lực trước thời thế. Càng suy ngẫm càng thấy đớn đau. Đến đây, ông dừng lại để lí giải cái nguyên cớ sự nhẫn chịu, đức hi sinh của bà Tú:

“Duyên” là duyên số, duyên phận, “nợ” là cái nợ đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả và khổ cực. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một … hai… năm… mười…” làm nổi rõ đức hy sinh thầm lặng của bà Tú. Nó như tạc khắc hình ảnh một người phụ nữ chịu thương chịu khó vì sự ấm no hạnh phúc của chồng con và gia đình. Cụm từ “Âu đành phận”.. dám quản công”… khiến cho giọng thơ nhiều xót xa thương cảm.

“Âu đành phận” là chấp nhận cái số đời đã an bài. Đó cũng là tiếng nói trân trọng của Tú Xương đối với vợ mình. Đó là lời tri ân đối với biết bao người phụ nữ Việt Nam đã một lòng vì chồng vì con mà tảo tần, thủy chung, son sắc. Bởi thế, nhìn lại thơ Tú Xương, bức tranh hiện thực trong thơ ông chưa hẳn là một bức tranh xám xịt hay đau buồn. Ngoài những lúc ông mạnh miệng chửi cái xã hội thối nát thì ta cũng thường bắt gặp tiếng nói đồng cảm, thắm thiết, sâu xa.

Thơ ông còn phản ánh đúng tâm trạng đau đớn, bi quan của một trí thức bất đắc chí. Họ bế tắc trước hoàn cảnh của đất nước trong buổi giao thời khi người Pháp vừa hoàn thành xong quá trình xâm lược Việt Nam. Họ bất lực khi nnền tảng đạo đức xã hội ngày càng suy đồi. Họ đau đớn khi những giá trị tốt đẹp của xã hội cũ bị mất uy tín và mai một dần. Thời thế thay đổi đẩy người đi học vào tình thế bi đát đến thảm thương. Gắn liền với họ, ở phía sau lưng họ là người phụ nữ, là một gia đình cũng phải cùng chung số phận. Cảm hứng trong thơ Tú Xương vì thế hầu như không hướng nhiều về phía phản ánh những điều tốt đẹp trong cuộc sống mà thường lệch về phản ánh những điều đau thương như một tiếng cười ngạo thế.

(Thầy đồ dạy học)

Kết thức bài thơ, niềm ấm ức dường như dâng trào đến đỉnh điểm, khiến cho ông thốt nên lời oán trách:

Cứ ngỡ ông trách ai. Ai ngờ ông chỉ trách cái thói đời bạc bẽo. Rồi ông trách mình hờ hững bấy lâu. Trách mình “ăn lương vợ” mà “ăn ở bạc”. Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì. Và thế thành ra vô tích sự. Thậm chí còn “hờ hững” với vợ con.

Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đây buồn thương. Đó là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con mà gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương chính mình vậy.

Người ta thấy trong thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích sâu cay, quyết liệt vào cái xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, mục ruỗng và tàn bại. Tuy nó không đậm như Nguyễn Khuyến, không cay như Ðồ Chiểu nhưng lại hết sức thiết tha. Ta còn thấy trong thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót. Đặc biệt là đối với người phụ nữ. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên thật đáng thương. Họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần.

Tình thương yêu và quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ánh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian. Điều đó chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc. Bởi thế mà Nguyễn Khuyến đã có lời thơ ca ngợi đủ sức hãnh diện về cái tâm của Tú Xương ở trên đời:

(Nguyễn Khuyến)

Cảm nhận tấm lòng của nhà thơ Tú Xương đối với nỗi cơ cực, vất vả, gian lao của bà Tú

Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi còn sống càng hiếm hoi hơn.Các thi nhân thường chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đã qua đời. Kể cũng là điều nghiệt ngã khi người vợ đi vào cõi thiên thu mới được bước vào địa hạt thi ca.

Bà Tú Xương có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được. Ngay lúc còn sống, bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng .Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớc viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.

Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ. Câu thơ mở đầu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vả ,lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian ,cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt , đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu ,lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo ,tất bật ngược xuôi :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông”.

Thấm thía nỗi vất vả ,gian lao của vợ,Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn.Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút ,rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao :Con cò lặn lội bờ sông,câu thơ của Tú Xương:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Là cả một sự sáng tạo .Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đầu câu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò, càng làm tăng nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Từ thân cò gợi cả nỗi đau thân phận ,so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc ,thấm thía hơn.

Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng.Trong ca dao ,người menj từng dặn con: Con oi nhơ lấy câu này / Sông sâu chớ lội , đò đầy chớ qua. “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn ,mè nheo, cau gắt, những sự chen lán xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy .Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn bả trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương: tấm lòng xót thương da diết.

Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú .Bà là người đảm đang tháo vát:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý , từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng . Bà Tú nuôi đủ cả con ,cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức:

(Thầy đồ dạy học).

Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự hy sinh rất mực của vợ:

“Năm nắng mười mưa dám quản công”

Ở câu thơ này, “nắng mưa” chỉ sự vất vả, “năm mười” là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao , vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương , bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau ,nhìn tinh mới thấy. Khi đã thấy rối thì ấn tượng thật sâu đậm. Ở bài thơ thương vợ cũng vậy. Ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài , trào phúng là cả một tấm lòng ,không chỉ thương mà còn tri ân vợ.Về câu thơ Nuôi đủ năm con với một chồng,có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng ,con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ.

Nhà thơ không chỉ cảm phục ,biết ơn sự hy sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách , tự lên án bản thân. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên một mà nợ hai.Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu. Nợ gấp đôi duyên,duyên ít nợ nhiều. Ông chửi thói đời bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ.Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời . Sự hờ hững của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ tú Xương tự rủa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án:

“Có chồng hờ hững cũng như không”

Ở cái thời mà xã hội đã có luật không thành văn bẳn đối với người phụ nữ: “xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì “phụ xướng, phụ tuỳ” (chồng nói, vợ theo), thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân ,với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quân ăn lương vợ , không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhân khuyết điểm . Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao.

Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ vẻ đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. Ở bài thơ này,tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ,không chỉ lên án “thói đời” mà còn tự trách.

Nhà thơ dám tự nhân khuyết điểm, càng thấy mình khiếm khuyết càng thương yêu ,quý trọng vợ hơn. Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.

Cảm Nhận Tấm Lòng Thương Vợ Của Trần Tế Xương Qua Bài Thơ Thương Vợ / 2023

Cảm nhận tấm lòng thương vợ của Trần Tế Xương qua bài thơ “Thương vợ”

Mở bài:

Trần Tế Xương (hay còn gọi là Tú Xương) quê làng Vị Xuyên, Mĩ Lộc, Nam Định, là một trong những tên tuổi nổi bậc của nền văn học Việt Nam thế kỉ 19. Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng Trần Tế Xương đã để lại một di sản tinh thần cao quý. Bên cạnh những bài thơ đả kích, phê phán chế độ phong kiếm mục nát, ông còn có những bài thơ cảm động về người phụ nữ. Thương vợ là một bài thơ xuất sắc nhất trong đề tài ấy. Bài thơ thể hiện một cách chân thành và cảm động tấm lòng thương vợ của Trần Tế Xương

Thân bài:

Cuộc đời của Trần Tế Xương là cuộc đời của một nghệ sĩ, nhưng trước hết là một trí thức phong kiến. Ông vốn là người có tài nhưng rất phóng túng. Trong thời buổi giao thời, Nho học suy tàn, lại thêm học hành, thi cử lận đận chỉ đỗ Tú tài khiến Trần Tế Xương phải sống trong cảnh nghèo khổ, bất đắc chí. Bất mãn trước thời cuộc, các tác phẩm của Trần Tế Xương đã dựng nên bức tranh sinh động, nhiều mặt về xã hội thực dân phong kiến buổi đầu. Đó là bộ mặt xấu xa của bè lũ thực dân nưa phong kiến thống trị. Ông vạch trần thế lực đồng tiền trong xã hội đã ngự trị, chi phối đời sống. Đồng thời, qua các tác phẩn ông cũng bộc lộ khá sâu sắc tâm sự của bản thân về cái nghèo, về thi cử lận đận, nỗi buồn trước thời cuộc và vận mệnh nước nhà.

Khác với các nhà thơ khác (quá đề cao tính giáo lí), Trần tế Xương trở về với cuộc đời thực trong những nỗi cảm thông sâu sắc nhất. Khi mà vị trí của các Nho sĩ trở nên mất ưu thế, Trần Tế Xương đã kịp phát hiện vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam tảo tần, chung thủy và giàu đức hi sinh. Thương vợ chính là một bài ca cảm động, là sự trân trọng ton quý đối với thân phận người phụ nữ:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên, hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa, dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc: Có chồng hờ hững cũng như không!”

Mở đầu bài thơ, trần Tế Xương dựng lên bức tranh lao động của bà Tú. Vẻ đẹp hình tượng nhân vật bà Tú hiện lên trong bức tranh lao động kham khổ, hiu hút và cam chịu đến tội nghiệp:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Công việc của bà Tú là buôn bán nhỏ. Công việc ấy diễn ra thường xuyên, triền miên, nối tiếp ngày này qua ngày khác. Nơi làm việc là mom sông. Đó là một nơi cheo leo, chênh vênh và hiểm trở. Câu thơ giới thiệu hình ảnh bà Tú đầy vất vả, gian truân. Tác giả tỏ ra cảm thông với công việc làm ăn và công lao của bà Tú.

Câu thơ tiếp theo làm hiện rõ gánh nặng cuộc đời của bà: Nuôi đủ năm con với một chồng. Nuôi đủ nghĩa là không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Cái nghèo cái khổ cứ mãi đeo đẳng hết ngày này tháng nọ. Nó gợi lên sự đảm đang, tháo vát, khéo vun vén của bà Tú để có thể cân bằng cuộc sống gia đình. Người đọc chợt giật mình nhận ra, cái gánh nặng ấy có cả ông Tú nữa qua biện pháp đối 5 với 1, cách diễn đạt tách 5 con với một chồng. Ông Tú cảm nhận mình là kẻ ăn theo, ăn bám vợ, là gánh nặng cho vợ. Thậm chí gánh nặng ông Tú còn hơn cả 5 đứa con.

Đối với người Nho sĩ xưa, ít có ai lại nói thực, nói mạnh như Trần Tế Xương. Ông tự thấy mình vô dụng, thấy mình là gánh nặng trong cuộc đời bà Tú mà đáng lẽ ra những bổn phận đó chính ông mới là người phải thực hiện. Ta thấy ở đâu đó trong câu thơ cái gục đầu ngán ngẩm, thất vọng và buồn bã đến thê lương. Một người đàn ông không thể lo cho vợ, cho con, phải sống vô nghĩa lí giữa cuộc đời. Ở đâu đó ta cũng nghe được tiếng khóc thầm não nề. Không phải của bà Tú mà là của ông Tú. Khóc vì cảm thương vợ đã vất vả, hi sinh, cam chịu vì ông mà không hề than vãn, kêu ca:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Vận dụng sáng tạo hình ảnh “thân cò” , tác giả đã gợi liên tưởng trong ca dao xưa. Trong ca dao, hình ảnh thân cò nhằm chỉ cho người phụ nữ nhỏ bé, đầy bất hạnh và khổ đau:

Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Hay:

Cái cò lặn lội bờ sông Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù

Hình ảnh con cò là tất cả nỗi vất vả, lam lũ, thân phận bé nhỏ, thấp hèn, hẩm hiu của người phụ nữ và cũng là của người nông dân trong xã hội phong kiến chất chứa đầy bất công. Họ luôn phải sống cam chịu, chấp nhận thiệt thòi mà không biết than vãn cùng ai. Bà Tú cũng đứng trong nghịch cảnh ấy. Tất cả những khổ nhọc ấy chỉ biết là số phận mang lại. Cái số phận bất di bất dịch mà con người đã sớm phải chấp nhận trong xã hội phong kiến nhiều bất công, ngang trái.

Hình ảnh bà Tú được khắc họa đậm nét trong sự bươn chải, tần tảo, xông pha qua nghệ thuật đối thanh, đối ý, đối từ loại giữa hai câu. bà Tú đi sớn về khuyên, bất chấp ngày nắng ngày mưa, buổi đông, buổi vắng. Hết “lặn lội khi quãng vắng” lại đến lúc vãn chợ “buổi đò đông”.

Bằng hai câu thơ, Trần Tế Xương đã khắc họa thành công hình ảnh người phụ nữ tần tảo, xông pha kiếm sống, không quản ngại thân phận nhỏ bé, đơn chiếc vì chồng con. Đến đây, ông bất chợt nghĩ về cái nguyên nhân khiến bà Tú cam chịu, hi sinh đến thế:

Một duyên, hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Một duyên hai nợ nói lên cái số cái phận hẩm hiu của bà.  Bà Tú lấy chồng vì duyên thì ít mà vì nợ thì nhiều. Thành ngữ năm nắng mười mưa càng làm tăng thêm những khó khăn, vất vả, khổ cực, nhọc nhằn của bà. Muôn đời người phụ nữ là thế. Sinh ra nào biết đến những vinh vang ở đời. Cuộc sống của họ luôn đứng phía sau người đàn ông. Nếu người đàn ông học hành thành tài, có công có trạng, giàu sang phú quý thì họ cũng được nhờ. Nếu người đàn ông học hành thất bại, thi cử lận đạn nhưng ông tú thì đời họ cũng tăm tối theo. Biết thế, bà Tú cũng “âu đành phận” . Cái phận đã thế, cho nên bà nào “dám quản công”. Nghĩa là bà sẵn sàng chấp nhận, cam chịu, không một lời trách than, hi sinh tất cả vì chồng con.

Trần Tế Xương đã nhìn thấu nỗi lòng bà Tú, càng thêm yêu, thêm quý cái tính, cái đức cao đẹp ấy. Lời thơ giản dị,  nhưng sự trân quý của ông Tú dành cho bà Tú là vô cùng lớn. Nó vượt ra khỏi những luật lệ hà khắt của quy tắc xã hội phong kiến để vươn tới cái đẹp thuần mĩ, tinh khiết ở đời. Bà Tú mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam vốn có. Họ đảm đang, tháo vát và giàu đức hi sinh.

Thương vợ, thương cảnh nhà nghèo khó, ông Tú trở lại trách đời, trách mình đã sống một cuộc đời vô nghĩa:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc: Có chồng hờ hững cũng như không!

Lời ông Tú cất lên tiếng chửi đời, một lời nói mát, dỗi hờn, chút oán trách với đời. Chính thói đời trớ trêu đã khiến cho bà Tú lầm than, cơ cực. Chính những hứa hẹn ban đầu khi lấy một sĩ tử với những hứa hẹn công danh, phú quý đã khiến bà Tú bước vào một con đường truân chuyên. Ông Tú nhận ra, lỗi lầm ấy là do chính mình. Dù đã rất cố gắng nhưng con đường công danh ấy không thể trở thành hiện thức. Thế nên, trước ông trách đời đã tệ bạc với một người đầy khát vọng và tài năng như ông. Sau là ông chửi mình, trách mình là người vô tích sự, ăn bám vợ. Qua tiếng chửi bộc lộ tấm lòng thương vợ và nhân cách cao đẹp của nhà thơ.

Qua bài thơ Thương vợ, Trần Tế Xương khiến cho người đọc phải suy ngẫm về lẽ đời, về tình người. Sống là phải biết cảm thông, chia sẻ niềm vui nỗi khổ ngay chính trong nghịch cảnh cam go nhất. Ở đó, tình người rất cần hiển hiện để xoa dịu những nỗi đau, để làm lành những vết thương.

Kết bài:

Chỉ cần nói Thương vợ thôi là Trần Tế Xương đã vượt lên trên cả thời đại: phát hiện, tôn vinh và ngợi ca điều mà cả xã hội không biết, không dám ngợi ca. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ánh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc. Tấm lòng thương vợ của Trần Tế Xương qua bài thơ là một cái nhìn mới mẻ và tiến bộ của nhà thơ đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến nước ta.

Tác Phẩm Thương Vợ, Bài Thơ Thương Vợ Trần Tế Xương / 2023

Tác Phẩm thương vợ, bài thơ thương vợ Trần Tế Xương

Tác phẩm Thương vợ, Nội dung bài thơ Thương vợ, Thương vợ Soạn, Thơ thương vợ vất vả, Thương vợ được viết bằng chữ gì, Bài thơ Thương vợ chế, Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương viết bằng chủ gì, Trần Tế Xương

– – – Quanh năm : Cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này sang năm khác. Mom sông : Địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định.

Nuôi đủ 5 con… 1 chồng : Bà Tú nuôi 6 miệng ăn. Ông Tú tự coi mình như một thứ con riêng đặc biệt ( Một mình ông = 5 người khác).

à Lòng biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú đối với cha con ông Tú. Lòng vị tha cao quí của bà càng thêm sáng tỏ.

– – – Lặn lội thân cò: Vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn. Quãng vắng, đò đông: Cảnh kiếm sống chơi vơi, nguy hiểm. Eo sèo: Chen lấn, xô đẩy, vì miếng cơm manh áo của chồng con mà đành phải rơi vào cảnh liều lĩnh cau có, giành giật. – Nghệ thuật đối: Sự vất vả, sự hi sinh lớn lao của bà Tú đối với gia đình à Nói bằng tất cả nỗi chua xót. Thấm đẫm tình yêu thương.

à Câu thơ như một tiếng thở dài cam chịu. à Cách sử dụng phép đối, thành ngữ, từ ngữ dân gian, bộc lộ kiếp nặng nề nhưng rất mực hi sinh của bà Tú. – Dùng số từ tăng tiến: 1-2-5-10: Đức hi sinh thầm lặng cao quí. Bà Tú hiện thân của một cuộc đời vất vả, lận đận. Ở bà hội tụ tất cả đức tính tần tảo đảm đang, nhẫn nại. Tất cả hi sinh cho chồng con. à ÔngTú hiểu được điều đó có nghĩa là vô cùng thương bà Tú. Nhân cách của Tú Xương càng thêm sáng tỏ.

– Tú Xương tự chửi mình vì cái tội làm chồng mà hờ hững, để vợ phải vất vả lặn lội kiếm ăn. Ông vừa cay đắng vừa phẫn nộ. – Tú Xương chửi cả xã hội, chửi cái thói đời đểu cáng, bạc bẽo để cho bà Tú vất vả mà vẫn nghèo đói. – Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội

– Nội dung: Hình ảnh bà Tú hiện lên sinh động, rõ nét, tiêu biểu cho người phụ nữ VN đảm đang, tần tảo trong một gia đình đông con. Đức hi sinh, sự cam chịu của bà Tú càng làm cho ông Tú thương vợ và biết ơn vợ hơn. – Về nghệ thuật: Bài thơ hay từ nhan đề đến nội dung. Dùng ca dao, thành ngữ, phép đối. Thể thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn mực. Mộc mạc chân thành mà sâu sắc, mạnh mẽ. à Thành công nhất của bài thơ là: Xây dựng hình tượng nghệ thuật độc đáo: Đưa người phụ nữ vào thơ ca, mà hình tượng đạt đến trình độ mẫu mực và thấm đượm chất nhân văn.

Phân Tích Bài Thơ “Thương Vợ” Của Trần Tế Xương / 2023

Đề bài: Phân tích “Thương vợ” của Trần Tế xương để cho thấy hình ảnh và ngôn ngữ dân gian rất đậm nét trong bài thơ

BÀI LÀM

Trước đây hơn nửa thế kỉ, năm 1935, cụ Trần Thanh Mại, một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu thơ Trần Tế Xương, từng nhận xét: “Đối với ông Trần Tế Xương, tư tưởng ở trong óc ra thế nào được dùng ngay thể ấy, lanh lẹ, tươi tắn, không trau chuốt, không gọt đẽo, không dụng công. Hơi văn đi như một luồng nước chảy xuôi dòng, êm khỏe, mau…”. Đến nay, lớp con cháụ chúng ta, đọc thơ ông Tú, không ai không nhận rõ vị ngọt ngào của luồng nước ngôn từ xuôi chảy khỏe, êm, mau lẹ và nặng ân tình ấy. Tiêu biểu nhất là bài thơ Thương vợ.

Người xưa từng hát:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Tú Xương viết:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con, với một chồng

Mới nhìn ngỡ hai bức chân dung của hai chị em ruột, giống nhau như đúc. Cũng cảnh sông nước, cũng chiếc đòn gánh trên vai, cũng thân cò hôm sớm nuôi chồng… Nhưng người chị ca dao bước đi sao thảm hại, vừa đi, vừa khóc, vừa khóc vừa kể lể, than vãn. Còn người em, bà Tú Xương khác hẳn. Khác từ thời gian, đến nơi chốn, công việc. “Quanh năm… mom sông”. Không phải “bờ sông”, “ven sông”. Bờ sông, ven sông dù sao cũng dài rộng và ít nhiều phẳng phiu. Còn “mom sông”, nơi bà Tú kiếm ăn, thì thật nhỏ nhoi, chênh vênh, nguy hiểm, đất có thể lở, nước có thể tràn lên bất cứ lúc nào. Khác đến cái bộ dạng con người. Ca dao kể xuôi: “Con cò lặn lội”. Tú Xương đảo lại: “Lặn lội thân cò”. Những bước đi chật chưỡng, bì bõm, thụt lầy trong bùn nước sớm nắng chiều mưa, nhìn thấy trước rồi con người hiện sau. Nỗi gian lao cơ cực nhân lên bội phần. Lại nữa, ca dao nói: “Con cò”, hoặc “cái cò”, vẽ một hình ảnh cụ thể. Ông Tú đối thành “Thân cò”, nghĩa khát quát hơn, vừa hàm ý so sánh vừa gợi liên tưởng rộng dài về những cuộc đời vất vả, những kiếp người bị đọa đày, rất đáng cảm thông. “Thương thay thân phận con rùa, lên đình đội hạc xuống chùa đội bia” (ca dao). “Thân lươn bao quản lấm đầu” (Truyện Kiều)… Và hình ảnh chuyến đò nữa. Cha ông xưa dặn dò: “Con ơi nhớ lấy câu này, sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”. Vậy mà, bá Tú vẫn phải qua sông trên những con đò như thế. Và hơn thế, chắc hẳn nhiều lần bà đã phải lời nọ, tiếng kia, giằng co, chen lấn, rồi mới được xuống đò. Vì vậy, ông Tú đối từ “đầy” thành “đông”, kết hợp với mấy từ tượng hình, tượng thanh, tạo nên câu thơ có hình có giọng: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Rõ là chuyến đò chở nhiều người, vừa quá tải, vừa hỗn độn, chòng chành rất đáng sợ. Đi một mình phải “lặn lội khi quãng vắng”, đến chồ nhiều người thì “eo sèo đò đông…”. Chỗ nào, lúc nào bà Tú cũng gặp nhiều hiểm nguy và trăm ngàn cay đắng. Chỉ đảo nhẹ một cấu trúc câu, thay một vài chữ trong kho tàng tiếng nói dân gian, nhà thơ đất Vị Hoàng đã sáng tạo được một hình tượng thẩm mĩ tuyệt vời chân thực, giản dị, tự nhiên, thấm đẫm chất dân tộc, rất gần gũi, sống mãi trong không gian và thời gian. Trần Tế Xương tạc riêng hình ảnh vợ mình. Khi nhìn ngắm, chúng ta thấy rung rinh, ẩn hiện biết bao hình hài, dường nét chung của vạn triệu bà mẹ, người chị Việt Nam ngày ấy cũng như bây giờ. Những bà mẹ, người chị gian nan, vất vả hơn nhiều những “con cò, con vạc” thuở xưa và cũng bản lĩnh chu đáo, đủ đầy nhân hậu chẳng kém gì người xưa.

Bước chân hiện thực của lời thơ luôn gắn bó với mạch trữ tình. Tình cảm của nhân vật, tình cảm của nhà thơ, khởi từ dòng đầu, càng đi càng thấm thìa. Tấm lòng của bà Tú với chồng, với con mỗi ngày thêm sâu nặng. Lời thơ ông Tú cũng mỗi lúc càng thêm tha thiết. Ông giới thiệu bà “Nuôi đủ năm con với một chồng”, ở ngay phần mở đầu, tiếp sau ông nói giùm bà những nỗi niềm, tâm trạng:

Một duyên, hai nợ âu dành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Tiếng Việt ta có những từ ghép thật hay, biểu hiện thật đẹp đẽ quan hệ người với người: Yêu mến, nhớ thương, tình nghĩa, duyên nợ, v.v… Từ lời nói hằng ngày, bà con cất lên thành câu hát: “Một yêu tóc bỏ đuôi gà… hai yêu, ba yêu. Hỡi ai, trăm mến, ngàn thương…” Học tập cách nói ấy, Tú Xương sáng tạo chữ “duyên nợ” thành “một duyên, hai nợ”, vừa miêu tả tình nghĩa vợ chồng, vừa cảm thông với những khổ cực mà chính mình, đức ông chồng hư đốn đã gieo xuống cuộc đời người vợ đáng thương, đáng trọng. “Duyên”, bà chỉ được “một”, mà “nợ” bà chịu gấp hai, ba. Vậy mà bà vẫn chấp nhận. Ba chữ “âu đành phận” có cái gì như chua chát của cuộc đời người phụ nữ, song cũng có cái gì ngọt dịu, đáng yêu của tình cảm người vợ thảo hiền. Tình nghĩa bà Tú thực đã lay động ngòi bút, giọng điệu nhà thơ. Ông kể tiếp: “Năm nắng, mười mưa…” chứ không phải “một nắng, hai sương” trong thành ngữ. Như thế, khi đã làm vợ, rồi làm mẹ, bà Trần Tế Xương đã vượt lên trên những tình cảm thông thường để gánh vác thiên chức lớn lao của nữ giới. Đó là nghĩa vụ, là nhân cách, cũng là quyết tâm, ước nguyện hạnh phúc cao cả. Tài thơ của ông Tú và tấm lòng người vợ thân yêu đã đồng vọng cái tài và cái tình của bà chúa thơ nôm xưa: “Chồn bước hay đâu khéo hẹn hò, Duyên chi hay bởi nợ chi ru”. Thế đấy, vợ chồng thi sĩ Thành Nam yêu nhau bằng chữ Duyên – tình cảm, rồi sống với nhau bằng chữ nợ – cuộc đời. Duyên một, nợ hai ba… Tất cả đều vì cái tình, cái nghĩa con người mà gắng sức vượt qua “năm, mười” mưa nắng, mưa nắng của cuộc đời, mưa nắng của cái tính ngang ngược, đành hanh mà không ít lần ông Tú đã gây ra, làm khổ bà Tú. Vì thế, chắc có lần bà đã bẳn gắt:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!

Vẫn cách nói dân gian, nghĩ sao nói vậy, đến đây không nuột nà ý nhị nữa, mà có phần thô nháp, xù xì. Song nghe vẫn lọt tai, không làm cho nhau phật ý. Bởi vì, bước đi trữ tình của nhà thơ đã tới đích. Tình cảm yêu thương, trân trọng, bao dung đã đến độ chín muồi. Ngôn ngữ thơ chuyển sang dòng trào lộng, hóm hỉnh, để đùa vui, để chòng ghẹo nhau, nhích lại gần nhau hơn. “Cha mẹ thói đời…” Nghĩa hiển ngôn là lời bà Tú trách chồng, trách thiên hạ, nhưng là trách yêu, những tiếng hờn dỗi có duyên thầm. Nghĩa hàm ẩn – đây mới là nghĩa thực – là tiếng lòng của nhà thơ ăn năn, tự thẹn, xấu hổ vì… mình đã nhiều lần có lỗi với người vợ yêu. Cả tình thơ, lẫn lời thơ rất dân tộc, rất Tú Xương, bất ngờ và thú vị. Cụ Trần Thanh Mại kế rằng: “Khi nghe ông Tú đọc hết hai câu cuối, bà Tú khẽ đưa mắt, nguýt yêu ông, cười tình, tỏ ý khiêm tốn, không nhận công lao. Trong đôi mắt bà, thoắt sáng lên niềm tự hào, tự đắc chính đáng. Có lẽ đây là cái giây phút người đàn bà vất vả, cực nhọc suốt cuộc đời thấy hạnh phúc nhất, sung sướng nhất… Nhà nghiên cứu văn học kết luận: “Bà Tú không phải chỉ là một người đàn bà. Bà còn là một vị thiên thần trời sai xuống, không phải để giúp ông Vị Xuyên trên bước đường danh lợi, mà để cho nước Việt Nam một nhà đại thi hào”.

Nối ý bậc tiền nhân, chúng tôi trộm nghĩ thêm rằng: vẻ đẹp thiên thần của bà Tú Xương, của những người mẹ, người vợ Việt Nam chúng ta đâu chỉ do trời mà trước hết là do… người, do cha mẹ, do những bà con chân bùn tay lấm, lặn lội thân cò tự ngàn đời trên mảnh đất lắm sông nước, nhiều nắng mưa này, sinh ra và dạy bảo. Còn tài thơ của thi hào Vị Xuyên trước hết ở tấm lòng nhà thơ với… đời, với người, rồi đến công lao, bà Tú và… sâu rộng hơn nữa là, nó được khơi mạch từ suốt nguồn trong mát của tiếng nói dân gian, văn học truyền miệng, những bài ca dao, những câu thành ngữ nôm na, mộc mạc, ẩn chứa biết bao vàng ngọc ở bên trong.

VŨ DƯƠNG QUỸ

Từ khóa tìm kiếm:

Phan tich bai tho thuong vo (262)

phân tích thương vợ (116)

phân tích bài thơ thương vợ của trần tế xương (112)

phân tích bài thương vợ (108)

phan tich bai tho thuong vo cua tu xuong lop 11 (71)

phân tích bài thơ thương vợ của tú xương (39)

phân tích bài thơ thương vợ lớp 11 (37)

Thương vợ Trần tế xương (36)

phan tich bai tho thuong vo cua tran the xuong (25)

phân tích bài thương vợ lớp 11 (25)

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nhận Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!