Xu Hướng 2/2024 # Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Rằm tháng Giêng là một trong những bài thơ viết về trăng hay nhất của Hồ Chí Minh, qua bài thơ độc giả không chỉ thấy bức tranh thiên nhiên lộng lẫy tuyệt bích dưới ánh trăng mà còn thấy được chân dung của Người- vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bằng những hiểu biết của mình sau khi học xong bài thơ Rằm tháng Giêng, em hãy trình bày cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng.

I. Dàn ý cho đề bài cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh Mở bài cho đề cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

– Giới thiệu về sự xuất hiện của hình ảnh trăng trong thơ.

– Dẫn dắt và giới thiệu bài thơ “Rằm tháng giêng”: không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng mà còn thể hiện thành công bức chân dung của Bác- một con người luôn có sự thống nhất giữa tâm hồn nghệ sĩ và người chiến sĩ cách mạng.

Thân bài cho đề cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

-“Rằm tháng giêng” là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp vào đêm rằm mùa xuân

– Bầu trời về đêm vào ngày rằm tháng giêng được miêu tả trong vẻ đẹp thơ mộng của ánh trăng: “Rằm xuân lồng lộn trăng soi”.

– Điệp từ “xuân” được lặp lại khiến cho cảnh vật trở nên tràn đầy sức sống từ bầu trời đến dòng nước

-“Rằm tháng giêng” đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn của Bác

– Con người hiện lên giữa bức tranh thiên nhiên tuyệt bích đó trong tư thế là ngươi chiến sĩ cách mạng.

– Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tâm hồn người chiến sĩ rung động, cho thấy sự quyện hòa giữa tâm hồn người nghệ sĩ và người chiến sĩ cách mạng, tình yêu thiên nhiên quyện hòa cùng tình yêu đất nước.

-“Rằm tháng giêng” là bài thơ thể hiện niềm tin, niềm lạc quan cách mạng

Hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền” trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, đẹp đẽ biểu trưng cho niềm tin, niềm lạc quan cách mạng vào chiến thắng của nhân dân ta trong công cuộc kháng chiến.

3. Kết bài cho đề cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

Khát quát những nét đặc sắc của bài thơ “Rằm tháng giêng“.

II. Bài tham khảo cho đề cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

Thiên nhiên luôn là người bạn tri âm tri kỉ và là nguồn cảm hứng bất tận của người nghệ sĩ. Một trong những hình tượng thiên nhiên trong sáng, gần gũi thường xuất hiện trong thơ ca là ánh trăng. Đây cũng là một trong những hình ảnh quen thuộc trong thơ Bác- vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc. Bài thơ “Rằm tháng giêng” không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng mà còn thể hiện thành công bức chân dung của Bác- một con người luôn có sự thống nhất giữa tâm hồn nghệ sĩ và người chiến sĩ cách mạng.

“Rằm xuân lồng lộn trăng soi

Sông xuân lẫn với màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Bài thơ “Rằm tháng giêng” được sáng tác vào năm 1948, trong lúc Chủ Tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở cuộc họp để tổng kết tình hình của cuộc kháng chiến chống Pháp ở giai đoạn đầu. Bối cảnh ra đời gắn liền với sự kiện chính trị nhưng bài thơ lại thấm đẫm màu sắc lãng mạn, trữ tình. Bầu trời về đêm vào ngày rằm tháng giêng được miêu tả trong vẻ đẹp thơ mộng của ánh trăng. Đó là ánh trăng tròn đầy, đẹp đẽ tỏa ra sắc vàng dịu nhẹ bao trùm cảnh vật:

“Rằm xuân lồng lộn trăng soi

Sông xuân lẫn với màu trời thêm xuân”

Dưới ánh trăng, điệp từ “xuân” được lặp lại khiến cho cảnh vật trở nên tràn đầy sức sống từ bầu trời đến dòng nước. Không gian được mở ra ở biên độ của chiều rộng bầu trời và chiều sâu sông nước. Bầu trời cao rộng hóa thành bầu trời “trăng” và làn nước xanh thẳm cũng hóa thành sông trăng. Và trong không gian đó, hình ảnh con người hiện lên:

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Con người hiện lên giữa bức tranh thiên nhiên tuyệt bích đó trong tư thế là ngươi chiến sĩ cách mạng. Đặc biệt đó còn là công việc mang tầm vóc vĩ mô trong bối cảnh đất nước đang đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược. Nhưng rồi trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tâm hồn người chiến sĩ rung động. Nhưng sự rung động đó không phải bởi vì Người sao nhãng việc quân mà thể hiện rõ hơn tinh thần yêu nước. Đối với Bác, tâm hồn chiến sĩ quyện hòa cùng tâm hồn nghệ sĩ, tình yêu thiên nhiên hòa vào tình yêu quê hương đất nước.

“Rằm tháng giêng” còn là bài ca về niềm tin lạc quan cách mạng. Trong lúc “bàn bạc việc quân”, Bác thả hồn mình hòa nhập cùng cảnh sắc thiên nhiên, khiến cho con thuyền chở những người chiến sĩ cách mạng trở nên thơ mộng: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. “Trăng ngân đầy thuyền” vốn là một hình ảnh thực bỗng trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, đẹp đẽ biểu trưng cho niềm tin, niềm lạc quan cách mạng vào chiến thắng của nhân dân ta trong công cuộc kháng chiến, đồng thời cho thấy phong thái ung dung, lạc quan của người chiến sĩ. Trăng thực sự đã trở thành người bạn đồng hành tri âm tri kỉ của Bác, đồng hành cùng người trong suốt chặng đường cách mạng. Ngoài bài thơ “Rằm tháng giêng”, Bác còn có rất nhiều vần thơ rất đẹp về hình ảnh ánh trăng, ngay cả lúc ở trong chốn ngục tù”:

“”Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

(“Ngắm trăng” – Hồ Chí Minh)

Như vậy, bài thơ “Rằm tháng giêng” đã cho thấy vẻ đẹp thi sĩ trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng. Đến với thơ của Người, chúng ta sẽ luôn bắt gặp hình ảnh ánh trăng là biểu tượng cho tình yêu thiên nhiên cùng lòng yêu nước mãnh liệt giống như nhà nghiên cứu phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định “Thơ Bác đầy trăng”.

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Tỉnh

Tây Tiến của Quang Dũng không chỉ xây dựng một tượng đài về hình tượng người lính Tây Tiến kiên cường, bất khuất, những con người sẵn sàng bỏ lại tuổi xanh, bỏ lại những hoài bão của tuổi trẻ để dâng hiến cho độc lập của đất nước mà còn tái hiện đầy chân thực thế giới tinh thần lãng mạn, hào hoa của những người lính Tây Tiến. Anh chị hãy phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng để thấy trọn vẹn nhất hình tượng này.

I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Tây Tiến 1. Mở bài cho đề phân tích bài thơ Tây Tiến

Tây Bắc đã trở thành “nàng thơ” của biết bao thi sĩ, và tất yếu, không thể không nhắc đến thi phẩm “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng

2. Thân bài cho đề phân tích bài thơ Tây Tiến

– Toàn bài thơ là một nỗi nhớ. Tác giả nhớ về cuộc sống gian khổ, nhớ về kỷ niệm những đêm liên hoan, về cái âm u, hoang dã của rừng núi và in đậm nhất là nỗi nhớ của người lính Tây Tiến.

– Nỗi nhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt, bỗng trào dâng. Sông Mã không chỉ là một địa danh mà nó còn là một “chứng nhân lịch sử” trong suốt chặng đường hành quân.

–  cảm xúc như lan tràn, mênh mang, không điểm tựa. Nó như sự hẫng hụt, lại mang đến sự bồn chồn, xôn xao trong tâm hồn.

–  Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến hồn người chiến sĩ

– Với trái tim nhạy cảm, tình yêu tha thiết với mảnh đất và con người Tây Bắc, Quang Dũng như nghe từng hơi thở nhịp đập thậm chí là cái khe khẽ trở mình của cỏ cây hoa lá trên đất Mường Lát khi màn đêm buông xuống.

– Các từ láy: “thăm thẳm”, “khúc khuỷu”, “heo hút” được lựa chọn và sử dụng như những nét khắc, nét vẽ có giá trị tạo hình đặc sắc, làm hiện lên những dốc,

– “Súng ngửi trời” là một cách cảm nhận rất ngộ nghĩnh mang đậm chất lính.

–  Thiên nhiên hùng vĩ mà kì tráng, qua nét bút của Quang Dũng đã trở nên khắc nghiệt, khó khăn và đầy những những hiểm ngụy

– Dáng đứng của anh giải phóng quân mãi mãi đi vào lòng người dân trong kháng chiến chống Mĩ thì dáng ngã xuống gục xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn của Quang Dũng

3. Kết bài cho đề phân tích bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến là một tượng đài thi ca qua nhiều thế hệ. Nhưng trên hết và trước hết Tây Tiến là lịch sử. Lịch sử của một đoàn quân. Lịch sử của một cuộc chiến tranh.

II. Bài tham khảo cho đề phân tích bài thơ Tây Tiến

Thảo nguyên Châu Mộc nhớ không?

Một thời lính trẻ tang bồng chưa xa.

Mỏ Mù, Tây Bắc, lau già…

Kỷ niệm xưa bỗng trắng nhoà sắc ban.

(Nhớ Tây Bắc – Phạm Ngọc San)

Chẳng biết tự bao giờ, Tây Bắc trở thành miền thương nhớ trong trái tim biết bao người, đặc biệt là với những người lính đã từng vào sinh ra tử cùng xứ hoa ban. Tây Bắc đã trở thành “nàng thơ” của biết bao thi sĩ, và tất yếu, không thể không nhắc đến thi phẩm “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ, gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên…, Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc. Đoàn quân Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Địa bàn hoạt động của lính Tây Tiến rất rộng, từ tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng họ sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm. Chiến đấu được một thời gian thì đoàn binh Tây Tiến trở về Hòa Bình tại trung đoàn 52, khi ấy Quang Dũng là đại đội trưởng sau đó ông chuyển sang đơn vị khác. Trong nỗi nhớ đồng chí đồng đội đến cồn cào và da diết, tại làng Phù Lưu Chanh ông đã viết bài thơ Tây Tiến (1948).

Toàn bài thơ là một nỗi nhớ. Tác giả nhớ về cuộc sống gian khổ, nhớ về kỷ niệm những đêm liên hoan, về cái âm u, hoang dã của rừng núi và in đậm nhất là nỗi nhớ của người lính Tây Tiến. Nổi bật trong tác phẩm là cảm hứng lãng mạn và bi tráng của từng câu thơ. Mở đầu tác phẩm là nỗi nhớ miên man trải dài.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!  

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi làm nao lòng người. Nỗi nhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt, bỗng trào dâng. Sông Mã không chỉ là một địa danh mà nó còn là một “chứng nhân lịch sử” trong suốt chặng đường hành quân. Tây Tiến cũng không chỉ là tên một đoàn quân mà nó đã trở thành một người bạn, một người tri kỉ bấy lâu. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” như chứa đựng cả một bầu trời thương nhớ với bao bâng khuâng hụt hẫng và nuối tiếc. Âm “ơi” như ngân vang ra từ vách đá của núi rừng Tây Bắc, ngân vang trải dài đến đâu mang theo tâm tư tình cảm của Quang Dũng lan ngấm thấm tràn đến đó. Từ “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” làm cho âm điệu câu thơ trở nên mênh mang, chơi vơi. Có lẽ Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ trong ca dao:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi

Nhớ chiếu bạn trải

Nhớ chăn bạn nằm”

Có lẽ nếu diễn tả “nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ như những đợt sóng cồn cào, có vẻ không đúng. Hai chữ “chơi vơi” không để diễn tả sự dồn dập, thắm thiết, diết da. Vốn dĩ nó diễn tả những thứ như không có điểm tựa, chênh vênh, mênh mang. Và có lẽ nỗi nhớ ở đây cũng vậy, ấy là thứ cảm xúc như lan tràn, mênh mang, không điểm tựa. Nó như sự hẫng hụt, lại mang đến sự bồn chồn, xôn xao trong tâm hồn. Nhớ như vậy, có lẽ mới quay quắt, mới khiến người ta nhói lòng.

Từ Phù Lưu Chanh ông nhớ dòng sông Mã, nhớ núi rừng miền Tây, nhớ đoàn binh Tây Tiến – một đơn vị bộ đội đã hoạt động tại vùng rừng núi miền Tây Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La – biên giới Việt Lào trong những năm đầu kháng chiến. Bao kỉ niệm đẹp một thời chinh chiến bỗng sống dậy. Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến hồn người chiến sĩ:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi.

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.

Sài Khao, Mường Lát là những địa danh, bản làng xa xôi hẻo lánh mà lính Tây Tiến đã hành quân qua hoặc đã có những phút giây ngơi nghỉ. Sài Khao là mảnh đất lắm sương nhiều khói, sương che lấp đường đi, sương phủ kín bóng người, sương như tấm áo choàng bảng lảng chùm lên con sông, ngọn suối, sườn đèo. Ta nghe đâu đây giữa núi rừng hiểm trở cheo leo có những hơi thở mệt mỏi của những chàng trai đất Hà thành nhọc nhằn trên từng chặng đường hành quân. Thế mà với trái tim nhạy cảm, tình yêu tha thiết với mảnh đất và con người Tây Bắc, họ như nghe từng hơi thở nhịp đập thậm chí là cái khe khẽ trở mình của cỏ cây hoa lá trên đất Mường Lát khi màn đêm buông xuống.

Ngày nối ngày, đêm nối đêm, trải qua bao dãi dầu, “đoàn quân mỏi” giữa cái biển sương mù của núi rừng miền Tây; “đoàn quân mỏi” tưởng như bị “lấp” đi, bị trĩu xuống trong mệt mỏi, gian truân, nhưng thật bất ngờ, bỗng xuất hiện “hoa về trong đêm hơi”. Cái mỏi mệt, cái gian khổ như đã tiêu tan. Sáu thanh bằng liên tiếp diễn tả cái nhẹ nhàng, cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đi tới đích sau những chặng đường dài hành quân đầy thử thách: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.

Có thể nói Quang Dũng như một phóng viên lia ống kính để mở ra trước mắt người đọc một thước phim về núi rừng hiểm trở mà cheo leo:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm,

Heo hút cồn mây súng ngửi trời.

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Các từ láy: “thăm thẳm”, “khúc khuỷu”, “heo hút” được lựa chọn và sử dụng như những nét khắc, nét vẽ có giá trị tạo hình đặc sắc, làm hiện lên những dốc, những cồn mây mà nhà thơ và đồng đội phải vượt qua trong những tháng ngày: “áo vải chân không đi lùng giặc đánh” (Hồng Nguyên). Cả câu thì có 5 chữ mang thanh trắc “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” nhằm nhấn mạnh cuộc hành quân của đoàn quân Tây Tiến đi qua địa bàn đèo dốc quanh co, lên cao mãi, vô vùng khó khăn, khốc liệt.

Có câu thơ gồm 2 vế tiểu đối, bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ Tây Tiến được đo bằng: “Ngàn thước lên cao

Từ những đỉnh cao “ngàn thước”, các chiến binh dõi tầm mắt nhìn xa. Những bản mường, những nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện. Câu thơ thất ngôn, toàn thanh bằng gợi tả cảm xúc tươi vui, lâng lâng thanh thản dâng lên trong tâm hồn người lính trẻ rất lạc quan yêu đời khi dõi nhìn về xa qua màn mưa rừng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Cảnh vật bỗng trở nên nửa thực nửa ảo chập chờn như trong cõi mây, chất lãng mạn như phủ kín cảnh vật, đó là sản phẩm của một họa sĩ ẩn trong tâm hồn một thi sĩ.

“Súng ngửi trời” là một cách cảm nhận rất ngộ nghĩnh mang đậm chất lính. Một chút tếu táo của người lính giữa chốn đèo cao càng làm cho họ trở nên đẹp đẽ hơn, như minh chứng cho ý chí, sức mạnh phi thường và khát khao chinh phục. Thật đúng là:

“Đèo cao thì mặc đèo cao

Trèo lên tới đỉnh ta cao hơn đèo”

Tây Bắc được nhà thơ quan sát ở nhiều góc độ: ngước mắt nhìn lên là núi cao lưng trời, đưa mắt nhìn xuống là vực sâu hun hút, phóng xa tầm mắt trong làn sương ta có cảm giác những ngôi nhà trên đất Pha Luông đang bồng bềnh trôi giữa chốn xa khơi. Cảnh vật bỗng trở nên nửa thực nửa ảo chập chờn như trong cõi mây, chất lãng mạn như phủ kín cảnh vật, đó là sản phẩm của một họa sĩ ẩn trong tâm hồn một thi sĩ.

Sự trắc trở, hiểm nguy của thiên nhiên còn được diễn tả một cách gân guốc:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Cảnh hiểm trở cheo leo nhưng đâu có tĩnh lặng thanh bình… Với những từ “oai linh”, “gầm thét” thác nước như một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy, đầy đe dọa, và những con hổ đi lang thang hoành hành ngang dọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh rừng núi thêm rùng rợn ghê sợ. “Chiều chiều” rồi “đêm đêm” thiên nhiên dữ dội “gầm thét” và những hiểm nguy luôn rình rập như thể “trêu người”. Thiên nhiên hùng vĩ mà kì tráng, qua nét bút của Quang Dũng đã trở nên khắc nghiệt, khó khăn và đầy những những hiểm ngụy. Và vì chiến tranh, vì rừng thiêng nước độc cho nên rất nhiều chiến sỹ, rất nhiều đồng đội đã phải bỏ mình nơi đó, bỏ lại tuổi trẻ và những ước mơ dở dang:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục bên súng mũ bỏ quên đời

“Bỏ quên đời” chỉ là cách nói nhằm giảm nhẹ sự mất mát, tang thương khi người lính lìa trần. Nhưng hình ảnh sử dụng rất đắt là hình ảnh “gục lên súng mũ”. Ta chợt nhớ đến dáng đứng của anh giải phóng quân về sau trong thơ Lê Anh Xuân:

Anh ngã xuống trong khi đang đứng bắn

Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng.

Dáng đứng của anh giải phóng quân mãi mãi đi vào lòng người dân trong kháng chiến chống Mĩ thì dáng ngã xuống gục xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của những người tham gia kháng chiến. “Gục lên súng mũ” cũng là cách nói nhẹ và cũng là cách nói của những người thanh niên trí thức lúc bấy giờ. Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước.

Sự trầm lắng của câu thơ như một nốt trầm lặng thành kính, thiêng liêng trong một bản nhạc hào hùng vừa qua. Ở đó, những người lính thật đáng quý biết bao. Họ đã hi sinh cả tuổi trẻ – điều tốt đẹp nhất của cuộc đời – để gìn giữ cho hòa bình hôm nay. Nói về cái chết mà lời thơ không bi lụy. Đó cũng là một nét trong phong cách biểu hiện của nhà thơ Quang Dũng. Những ngày chiến đấu bảo vệ biên giới, để giúp bạn giữa núi rừng Tây Bắc thật lắm gian nan khó nhọc. Những gian nan khó nhọc còn hằn sâu trong trí nhớ. Quang Dũng không khoa trương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến bách thắng. Nhưng sống và chiến đấu trong một địa bàn hiểm trở dữ dội, hoang dã đã là anh hùng rồi.

Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già, nhà thơ bỗng nhớ lại một kỉ niệm ấm áp tình quân dân:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Trong gian khổ thiếu thốn người ta càng nâng niu, càng quý trọng nghĩa tình. Hình ảnh những nồi cơm lên khói, những mùa màng thơm nếp xôi và đặc biệt là “em” biểu tượng cho người dân Tây Bắc hiện về trong cảm xúc nhà thơ vừa tự nhiên vừa tinh tế. Sự xuất hiện của những hình ảnh này khiến cho đoạn kết của khổ thơ có sức bay bổng. Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặn nồng. Hai câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc ấm nóng. Cái ấm nóng của tình người. Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó như một nét vẽ tươi sáng của bức tranh.

Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn. Cả đoạn thơ như một bức tranh thủy mặc cổ điển được phác thảo theo lối tạo hình phương đông. Quang Dũng là một hoạ sĩ. Ông có tài chấm phá trong việc phác thảo cảnh vật. Quang Dũng đã xây một đài kỉ niệm trong thơ cho thiên nhiên Tây Bắc và người lính Tây Tiến.

Ở đoạn hai, thiên nhiên và con người Tây Bắc lại được mở ra với một vẻ đẹp mới, khác với đoạn đầu. Anh hùng trong chiến đấu nhưng người lính Tây Tiến cũng say mê, lãng mạn trong đêm hội:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đây là kỉ niệm đẹp về tình dân quân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. Chữ “bừng” là một nét vẽ có thần. “Bừng” là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm “hội đuốc hoa”. “Hội đuốc hoa” là cảnh thực. Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra dưới những cánh rừng, người đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra những tia lửa. Cảnh tượng này trong đêm quả thật nhìn như hoa đuốc. Cảm nhận của Quang Dũng vừa tinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợi sức liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc. Trên cái nền không gian ấy “em” xuất hiện.

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

“Kìa em” là lời chào đón đầy ngạc nhiên, sung sướng đến ngỡ ngàng. Lời chào đón mang tính phát hiện. Em lạ mà quen, quen mà lạ. Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ. Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa. Câu thơ thứ ba xuất hiện, lập tức khổ thơ như tràn đầy âm nhạc.

Khèn lên man điệu nàng e ấp.

Từ “man điệu” mà Quang Dũng sử dụng ở đây cũng rất tài hoa. Người đọc như được chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của văn hóa Âu Lạc. Vũ khúc ấy hòa với vũ điệu của Em duyên dáng, e ấp, tình tứ. Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những người lính Tây Tiến thực sự ngất ngây trước người và cảnh.

Tây Bắc mênh mang, huyền ảo hiện lên trong bốn câu thơ tiếp:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Một không gian bảng lảng khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra. Cái thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng sương khói hiện lên như một miền cổ tích. Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ đậm màu sắc hội họa. Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật là tài hoa. Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con người hiện lên thật sinh động đầy sức cuốn hút.

Cách sử dụng từ ngữ “ hồn lao, dáng người, hoa đông đưa” có sự cộng hưởng hô ứng với nhau, sao lại là “ hồn lao” mà không phải là bờ lao. Bởi bờ lao thì sẽ rất cụ thể mà ở đây là cảm nhận. Cách đặt câu hỏi thật đặc sắc “ Có thấy hồn lau nẻo bến bề, Có nhớ dáng người trên độc mộc”. Hình ảnh khỏe khoắn trẻ trung và đầy sức sống, “ hoa đông đưa” gợi lên sự đa tình như để làm nũn như là đang hấp dẫn những người trên đồi độc mộc, vẻ đẹp tinh tế tài hoa trong cách diễn đạt của tác giả. Cảnh vật như thiêng liêng, tưởng như đang lạc vào thế giới cõi mây. Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nước độc, xin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn.

Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời. Cảm ơn nhà thơ đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc.

Quang Dũng đã dựng bức tượng đài về người lính vô danh trong khổ thơ thứ ba của bài thơ Tây Tiến. Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những nét bút cuối cùng hoàn thiện bức t­ượng đài về chân dung người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa. Chân dung người lính hiện lên ở khổ thơ thứ ba có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lí tưởng chiến đấu và phẩm chất hi sinh anh dũng. Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thường.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Làn da xanh mái tóc không mọc do bệnh sốt rét rừng. Số người chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận, do điều kiện thiếu thốn khó khăn thiếu nước. Chiến tranh đi liền với nước mắt và đau thương, cũng như bao nhiêu người chiến sĩ khác người lính Tây Tiến phải chịu bao nhiêu khó khăn Tuy vậy họ vẫn hiên ngang ngang tàn bi nhưng không lụy, họ luôn ở tư thế chủ động sẵn sàng là “ không mọc tóc” chứ không phải là rụng tóc. Khẩu khí coi thường gian khổ, họ ốm nhưng không yếu. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Đây là đặc trưng riêng là mộng và mơ” của những chàng lính Hà Nội. Ý chí quyết tâm “Mắt trừng” giết giặc lập công, mơ giấc mơ thắng trận trở về gặp những dáng kiều thơm, những bóng dáng duyên xinh. Hẳn họ không phải là những người lính khô khan cứng rắn à còn rất lãng mạn.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Chính tinh thần lãng mạn đã là một điểm tựa giúp nhà thơ nói lên một vấn đề mà nhiều người lúc đó né tránh. Đã là chiến tranh thì phải có mất mát, hi sinh. Vấn đề là không rơi vào bi quan, là nhìn ra từ sự mất mát tầm vóc cao đẹp của sự hi sinh. Nhà thơ đã dùng những câu thơ sóng đôi, câu sau cắt nghĩa, lí giải cho câu trước. Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Cái chết nơi chiến trường thật đơn sơ, giản dị. Anh nằm xuống không có cả manh chiếu bọc thây. Anh về lại đất mẹ như cái chết của anh đã được dòng sông Mã oai hùng cúi chào vĩnh biệt bằng những tiếng gầm đau đớn, uất hận. Tiếng gầm của dòng sông Mã ấy sẽ còn mãi mãi đến muôn đời.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ như lời thề gắn bó với Tây Tiến. Tinh thần thắm đượm tư tưởng và tình cảm cảm của người lính Tây Tiến, tinh thần sẵn sàng hi sinh cống hiến. Tình cảm gắn bó máu thịt của tác giả đối với binh đoàn Tây Tiến, đại từ phiếm chỉ “ai” có thể là Quang Dũng có thể là thành viên của binh đoàn Tây Tiến, hoặc là bất cứ ai đã từng gắn bó với Tây Tiến với mảnh đất Tây Bắc. Sự chiến đấu vì lý tưởng cao cả tinh thần Tây Tiến thì bất diệt.

Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình.

Tây Tiến là một tượng đài thi ca qua nhiều thế hệ. Nhưng trên hết và trước hết Tây Tiến là lịch sử. Lịch sử của một đoàn quân. Lịch sử của một cuộc chiến tranh. Lịch sử của một dân tộc. Và lịch sử của một con người, một nhà thơ. Tây Tiến trở thành lịch sử của tâm hồn, của văn hóa, của tinh thần một giống nòi. Nó đã biến đoàn quân thành bất tử.

Bài Văn Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

Bài thơ Rằm tháng Giêng là bài thơ được Bác viết khi đang bàn bạc việc quân ở trên con thuyền, xung quanh đầy ánh trăng rằm… Một khung cảnh tuyệt đẹp và Bác đã vẽ nên bức tranh đẹp bằng thơ.

Như chúng ta đã biết, Bác Hồ có tâm hồn giản dị, gần gũi với thiên nhiên, em hãy viết bài văn cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng để biết rõ hơn về tâm hồn thơ của Bác.

Bài 1. Bài văn cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của em Hồ Dạ Thảo:

Rằm tháng Giêng năm 1948, trên chiếc thuyền neo đậu giữa một dòng sông ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở một cuộc họp tổng kết về tình hình quân sự của thời kì đầu kháng chiến chống Pháp (1947 – 1948). Cuộc họp tan thì đêm đã khuya. Trăng rằm tỏa sáng khắp mặt đất bao la. Cảnh sông núi trong đêm trăng càng trở nên đẹp đẽ và thơ mộng. Cảm hứng dâng cao, Bác đã ứng khẩu làm bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, tựa đề là Nguyên tiêu:

Thu dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân Thủy tiếp xuân thiên. Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyề n.

Sau đó, nhà thơ Xuân Thủy dịch bài thơ ra tiếng Việt dưới thể lục bát, với tên là Rằm tháng Giêng. Bản dịch giữ được gần hết ý thơ trong nguyên tác với nội dung thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thiết tha của Bác Hồ.

Nếu trong bài Cảnh khuya, Bác tả cảnh trăng đẹp chốn rừng sâu thì ở bài này, Bác tả cảnh trăng trên sông nước:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng bát ngát khắp bầu trời, mặt đất trong đêm Nguyên tiêu. Khung cảnh mênh mông, tưởng như sông nước tiếp liền với bầu trời: Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vạn vật ăm ắp sức xuân: sông xuân, nước xuân và trời xuân nối tiếp, giao hòa, tạo nên một vũ trụ căng đầy sức sống, làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân được lặp lại nhiều lần với ý tạo vật cùng lòng người đều phơi phới khí thế tươi vui.

Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng (yên ba thâm xứ). Bác cùng Chính phủ và Trung ương Đảng luận bàn việc quân, việc nước. Công việc trọng đại đến chừng nào, nhất là trong hoàn cảnh buổi đầu kháng chiến đầy thiếu thôn, gian khổ. Tuy vậy, gian khổ không làm vơi đi cảm xúc, thi hứng trong lòng Bác. Buổi họp kết thúc vào lúc nửa đêm. Trăng rằm tròn vành vạnh treo giữa trời (nguyệt chính viên) đang toả sáng. Cảnh sông nước trong đêm lại càng thêm thơ mộng. Dòng sông trở thành dòng sông trăng và con thuyền cũng dường như chở đầy ắp ánh trăng (trăng ngân đầy thuyền). Trước đêm trăng đẹp, tâm hồn Bác lâng lâng. Bác thả hồn hòa nhập với thiên nhiên – mà Bác vốn coi là một người bạn tri âm, tri kỉ. Trong lòng Bác dâng trào một niềm vui, niềm tin vào thắng lợi của Cách mạng, của kháng chiến. Hình ảnh con thuyền chở đầy trăng lướt nhẹ trên dòng sông trăng là một hình ảnh lãng mạn có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Phải có một phong thái ung dung tự tại và niềm lạc quan mãnh liệt vào tương lai thì nhà thơ mới sáng tạo ra được hình tượng nghệ thuật độc đáo trọng một hoàn cảnh đặc biệt như vậy.

Bài thơ Rằm tháng Giêng với âm hưởng khỏe khoắn, tươi vui đã đem lại cho người đọc cảm xúc thanh cao, trong sáng. Bài thơ là dẫn chứng tiêu biểu chứng minh Bác Hồ vừa là một lãnh tụ cách mạng tài ba, vừa là một nghệ sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm.

Bài 2. Bài văn cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của em Trần Khang Huy:

Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc nhưng bên cạnh đó Người cũng là một hồn thơ tài hoa. Với nhiều tác phẩm giá trị để lại, Bác đã đóng góp một phần không nhỏ trong nền thi ca nước nhà. “Nguyên tiêu” hay “Rằm tháng Giêng” là một tác phẩm ghi lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử nước nhà. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 sang hè 1948 quân ta lại liên tục thắng lớn trước thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh đó bài thơ xuất hiện trên báo “Cứu quốc” như truyền thêm cho quân và dân ta tình yêu thương vô bờ đối với quê hương đất nước, đồng thời cho ta thấy được tấm lòng luôn canh cánh vì nước vì dân của Bác Hồ.

Nguyên tác bằng chữ Hán:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền

Bản dịch:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Mở đầu bài thơ là một không gian bao la rộng lớn:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.

Ánh trăng đêm xuân an lành lồng lộng. Từ “lồng lộng” được đảo lên trên cho ta thấy cái rộng lớn bao la của cảnh sắc đêm xuân. Hình ảnh ánh trăng thường được sử dụng trong thơ Bác như một người bạn tri âm tri kỉ. Ở đây, ngay trong đêm Rằm vẫn luôn dõi theo, bầu bạn với Bác.

Câu thơ tiếp:

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Câu thơ cho ta thấy cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Hai từ “xuân” lặp lại nối tiếp nhau mở ra cho ta một không gian rợn ngợp tràn đầy sắc xuân, tràn đầy sức sống. Sông, nước, ánh trăng như nối liền nhau, giao hòa với nhau giữa vẻ đẹp của đất trời.

Câu thơ thứ ba vô tình nói vên hoàn cảnh và vị trí ngắm trăng của Bác:

Giữa dòng bàn bạc việc quân.

Ở hai câu thơ đầu cảnh thiên nhiên được Bác miêu tả quá sống động làm ta tưởng như Bác đang rất nhàn nhã ngắm trăng. Nhưng không, bác ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc thù, chơi vơi giữa dòng nước. Để tránh sự truy lung của quân địch, Bác cùng các chiên sĩ phải bàn bạc việc quân ở trên thuyền. Và ở nơi đó, ngay giữa trung tâm của đất trời, hồn thơ của Bác như giao hòa với thiên nhiên để vẽ lên cảnh thiên nhiên tuyệt sắc. Đọc câu thơ ta thấy thầm thương Bác, Người luôn đau đáu tấm lòng vì nước vì dân. Công việc bộn bề nhưng Bác vẫn luôn yêu thiên nhiên cảnh vật. Điều đó cho ta thấy tư thế ung dung lạc quan yêu đời của người chiến sĩ cách mạng.

Câu thơ cuối:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Con thuyền trong câu thơ cuối là ẩn dụ sâu sắc về thắng lợi của cách mạng. Con thuyền cách mạng rực rỡ ánh trăng ngân báo hiệu cho ngày chiến thắng không còn cách xa. Câu thơ thể hiện một niềm lạc quan, niềm tin vô cùng với cách mạng.

Bài thơ “Rằm tháng Giêng” là một bài thơ độc đáo của Bác Hồ. Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên vô cùng của Bác đồng thời cũng nói lên tinh thần lạc quan giữa hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt.

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7

Bác Hồ có rất nhiều tác phẩm đặc sắc trong đó phải kể đến bài thơ Rằm tháng giêng, hãy phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi có 2 bài văn mẫu bài nào cũng hay và hữu ích cho các bạn.

Cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng

Bài văn cảm nghĩ số 1

Chủ đề ánh trăng luôn được các thi sĩ khai thác sử dụng trong tác phẩm của mình, Bác Hồ cũng nằm trong số đó, bài thơ Rằm tháng giêng hay còn gọi là Nguyên tiêu là một tác phẩm giá trị mang tính lịch sử của nước nhà.

Rằm tháng Giêng bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, khi Bác ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở một cuộc họp tình hình quân sự khi kháng chiến chống Pháp (1947 – 1948). Tan cuộc họp quan trọng cũng là lúc đêm đã khuya, cảm hứng từ thiên nhiên, sông núi bác đã làm bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán, có tựa đề là Nguyên tiêu. Sau này, tác phẩm được nhà thơ Xuân Thủy đã dịch bài thơ theo thể thơ lục bát mang tên là Rằm tháng Giêng.

Hai câu đầu chính là khung cảnh thiên nhiên núi rừng thật đẹp:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Đêm trăng rằm thật đẹp, ánh trăng chiếu rọi khắp núi rừng, có cảm tưởng như sông nước tiếp liền với bầu trời, vạn vật như tràn đầy sức sống của mùa xuân,điệp từ xuân trong bài đoạn thơ lặp lại nhiều lần với mục đích diễn tả cả trời đất và con người đều vui khi xuân về.

“Giữa dòng bàn bạc việc quân,

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Công việc bàn bạc việc quân tuy vất vả khó khăn là vậy nhưng cảm xúc, cảm hứng trong lòng thi sĩ vẫn đong đầy, buổi họp kéo dài và kết thúc cũng là lúc trăng rằm lên cao tròn vành vạnh. Cảnh sông cảnh nước thơ mộng. Con thuyền chờ Bác đi trong đêm tưởng tưởng như chở đầy ắp ánh trăng. Tâm trạng Bác lúc này cũng vui theo đất trời và dâng trào một niềm vui, niềm tin vào thắng lợi Cách mạng. Hình ảnh con thuyền chở đầy ánh trăng lướt nhẹ trên dòng sông là một hình ảnh lãng mạn thể hiện sự lạc quan, vui vẻ tạo ra hình tượng nghệ thuật rất độc đáo.

Với tâm hồn của người thi sĩ yêu và gắn bó với thiên nhiên, kết hợp với sự cảm nhận tinh tế, ngòi bút tả cảnh mang lại bức tranh thiên nhiên sống động đầy màu sắc. Bác Hồ khắc họa vẻ đẹp hình ảnh mùa xuân đang về đồng thời thể hiện sự lạc quan và phong thái ung dung đỉnh đạt.

” Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya

Bài văn cảm nghĩ số 2

Hồ Chí Minh không chỉ là một vĩ lãnh tụ vĩ đại mà còn là một hồn thơ tài hoa. Bác đã để lại cho kho tàng văn học nước nhà một sự nghiệp đồ sộ. Một trong những tác phẩm đặc sắc đó chính là bài thơ ” Rằm tháng giêng”. Bài thơ được viết trong những năm chiến dịch thu đông máu lửa năm 1948. Với 4 câu thơ mộc mạc giản dị đã dựng nên bức tranh thiên nhiên và con người hữu tình, tuyệt đẹp.

Mở đầu bài thơ tác giả vẽ ra một không gian bao la, bát ngát:

” Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên”

Dịch nghĩa:

” Rằm xuân lồng lộng trăng soi”

Ánh trăng rằm xuân tròn vành đang chiếu tỏa xuống không gian. Từ láy ” lồng lộng” khéo léo được đảo lên đầu câu cho ta liên tưởng đến vẻ đẹp độc đáo của ánh trăng rằm. Trăng như đang ngự trên nền trời xanh rọi ánh sáng bao la tắm táp cho cảnh vật. ” lồng lộng” không chỉ đặc tô hình ảnh mà còn cho ta cảm nhận được âm thanh vi vu, nhè nhẹ của tiếng gió thổi. Bầu trời như được đẩy lên cao hơn, rộng hơn. Trăng thanh gió mát- Một cảnh tượng thật đẹp và sống động.

Nổi bật trên cái nền xanh thẳm bát ngát ấy là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ:

” Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân’

Non nước trời xuân được nối liền, hòa với nhau dưới ánh trăng soi, điểm tô, nâng đỡ sóng sánh cùng với nhau. Điệp từ ” xuân” được lặp lại 3 lần trong một câu thơ như gợi ra cái khí xuân, tình xuân, sức xuân đang căng tràn, nồng nàn trong lồng ngực thi nhân, trong không gian tạo hóa. Một khung cảnh tươi sáng, rạo rực đắm say như đang mở ra trước mắt. Cảnh vật không tĩnh mà động, nhạc họa đan xen, giàu sức gợi vô cùng. Hai câu thơ vừa mang cái nét cổ điện: mượn hình ảnh thơ quen thuộc: trăng lại vừa có cả nét hiện đại tài hoa: điệp từ; đảo ngữ,. Tất cả đa vẽ nên một bức tranh hữu tình, tuyệt đẹp, nồng nàn hơi thở của đất trời vào xuân.

Trong bức tranh thiên nhiên ấy tác giả vẫn không quên chấm vẽ vài nét hình ảnh con người:

” Giữa dòng bàn bạc việc quân”

Để đảm bảo an toàn và bí mật những người lính cách mạng phải bàn việc quân ở nơi sâu thẳm mịt mờ khói sóng và vào thời điểm giữa đêm khuya. Câu thơ vừa là hình ảnh tả thực về những khó khăn gian khổ cách mạng lại vừa cho ta thấy được tinh thần lạc quan cách mạng của Bác, dù công việc bộn bề nhưng Bác vẫn luôn hứng thú và dành cho thiên nhiên một tình cảm thiết tha. Bác như hòa cũng thiên nhiên, quên đi những gian nan gập ghềnh để đắm mình trọn vẹn để tận hưởng, cảm nhận. Phải chăng đó còn là biểu hiện cho khí thế cách mạng sục sôi, cho quyết tâm sớm ngày hòa bình của dân tộc.

Để khép lại bài thơ hữu tình của mình, Bác đã dùng hình ảnh chiếc thuyền thay lời bày tỏ:

” Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Khuya là chỉ những điều tăm tối, mịt mù, là hình ảnh ẩn dụ chỉ những chông gai cách mạng. “ngân” gợi ra vẻ đẹp lung linh, lan tỏa. Hình ảnh chiếc thuyền ở đây phải chăng là ám chỉ con thuyền cách mạng. Ý của cả câu thơ muốn nhắn đên: Dù biết bao khó khăn cản đường, nhưng giữa giông tố, con thuyền cách mạng vẫn sáng soi, báo hiệu cho ngày chiến thắng không còn xa. Lí tưởng cách mạng rồi sẽ đi đến thắng lợi hoàn toàn. Một hình ảnh thơ đầy thi vị nhưng lại thể hiện niềm tin, quyết tâm vô cùng lớn của người chiến sĩ cộng sản.

Với bốn câu thơ thất ngôn tứ tuyệt kết hợp với nghệ thuật đản ngữ, chuyển đổi cảm giác, khéo léo sử dụng các từ ngữ giàu tính biểu đạt, Hồ Chí Minh đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên cảnh rằm ngày xuân thật đẹp, thật hữu tình. Bức tranh vừa là biểu tượng cho tình yêu thiên nhiên đắm say vừa thể hiện lí tưởng yêu nước thương dân lớn lao của Hồ Chủ Tịch. Cho dù những năm tháng đã đi qua nhưng những vần thơ bất hủ ấy sẽ sống mãi trong lòng mỗi người con đất Việt thân yêu và trở thành niềm tự hào dân tộc bất tử.

Với 2 bài cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng chi tiết, đầy đủ thông tin sẽ là gợi ý thiết thực để viết văn.

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong bài Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

Có sự hòa trộn, kết hợp giữ cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng yêu nước, bài thơ Rằm tháng Giêng của chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện được rõ nét bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, sống động trong đêm trăng ngày Rằm, đồng thời cũng vẽ ra được bức chân dung tự họa của chủ tịch Hồ Cí Minh, đó là một con người có lòng yêu nước cũng như ý thức, trách nhiệm với công việc của đất nước, của quốc gia.

Mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh đã vẽ ra khung cảnh lộng lẫy, choáng ngợp mà không kém phần thi vị, mơ mộng của cảnh vật trong thời khắc đêm trăng ngày Rằm. Ta cũng thấy rằng, hình ảnh ánh trăng thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm thơ văn của Hồ Chí Minh, điều đặc biệt là mỗi lần xuất hiện thì hình ảnh ánh trăng này không hề bị trùng lặp mà đều mang một sắc thái mới lạ, nó chứa đựng những cảm xúc khác nhau của tâm hồn người thi sĩ Hồ Chí Minh, trong bài thơ “Rằm tháng Giêng” cũng vậy, Bác đã thể hiện được sự cảm nhận độc đáo về ánh trăng ngày Rằm, về khung cảnh thiên nhiên dưới sự soi chiếu của ánh trăng ấy.

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Ở hai câu thơ đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cụ thể cả thời gian và không gian của bức tranh thơ, đó là không gian của bầu trời, sông nước dưới sự bao phủ, soi chiếu của ánh trăng Rằm, thời gian được nhà thơ chỉ ra đó chính là thời khắc đêm khuya, khi mọi nhịn sống rộn rã của con người đã bị màn đêm bao phủ bằng vẽ tĩnh lặng lặng tuyệt đối. Tuy nhiên, trong cách cảm nhận của Hồ Chí Minh, thì cái thời khắc tưởng chừng như tĩnh lặng ấy lại hiện ra vô cùng mới lạ, vô cùng gợi cảm. Ánh trăng Rằm soi chiếu xuống mặt nước tạo thành luồng ánh sáng bạc lấp lánh, trong cách cảm nhận của Bác thì ánh trăng ấy không tỏa chiếu một cách thông thường mà “lồng lộng” soi. Lồng lộng là từ láy gợi ra được cả chiều dài cũng như độ rộng của không gian được soi chiếu. Ánh trăng rọi xuống vạn vật trở lên vô cùng gợi cảm, sinh động trong cách cảm nhận của Người.

Câu thơ tiếp theo lại thể hiện sự hài hòa một cách tuyệt đối, một sự pha trộn tuyệt diệu của thiên nhiên. Sông, nước, trời dường như đã không còn khoảng cách, giới hạn nữa, chúng hòa quyện lại với nhau, làm cho nhau trở lên tươi đẹp hơn, ta có thể thấy đước sự phản chiếu được vật này qua vật kia: “Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”. Dưới ánh trăng ngày Rằm, dòng sông kia như “lẫn” thêm cả màu của bầu trời làm cho nó trở nên rực rỡ hơn, mang đậm sắc màu của màu xuân. Từ “lẫn” mà Hồ Chí Minh sử dụng ở đây rất hay, bởi nó chỉ sự hòa trộn một cách tự nhiên, không phân biệt được là do yếu tố nào tác động đến yếu tố nào mà chỉ biết rằng chúng cùng nhau hòa quyện, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của nhau lên.

Ta có thể thấy rất rõ, hai câu thơ đầu tiên đã chủ yếu là tả cảnh, khung cảnh ngày xuân dưới ánh trăng Rằm dường như hiện ra rõ nét hơn, màu sắc tươi thắm, sinh động hơn rất nhiều. Đặc biệt, qua cảm nhận của Hồ Chí Minh thì nó càng trở lên mới lạ, gợi cảm hơn, nó gợi cho người đọc liên tưởng đến một không gian rộng lớn, mênh mông nhưng không gây cho người đọc cảm giác sợ hãi mà còn làm cho người đọc khát khao thưởng thức, khám phá, những cảnh vật vô cùng quen thuộc cũng trở lên gợi cảm lạ thường. Điều đáng nói nhất trong hai câu tả cảnh này, có sự kết hợp một cách khéo léo tình cảm chủ quan của người viết, đó là cảm xúc say mê, sự rung động của tâm hồn trước sự tươi đẹp của cảnh sắc thiên nhiên.

Từ việc khắc họa khung cảnh của đêm trăng Rằm, ở hai câu thơ tiếp theo chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc họa hình ảnh của chính mình trong bức tranh thơ ấy:

“Giữa dòng bàn bạc việc quân

Như vậy, bài thơ “Rằm tháng Giêng” đã khắc họa một bức tranh màu xuân thật đẹp, nó cũng được phát hiện trong một thời gian thật đặc biệt, đó là vào thời khắc đêm khuya. Trong sự kì vĩ, tươi đẹp của bức tranh mùa xuân hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng hiện lên thật đẹp, đó là một con người hết lòng vì dân, vì nước, vì sự thắng lợi của Cách mạng dân tộc.

Nguồn: Văn mẫu

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng

Bài thơ “Rằm tháng giếng” được tác giả Hồ Chí Minh của chúng ta viết năm 1948 được đánh giá là một bài thơ độc đáo nghệ thuật vô cùng xuất sắc, là một bài thơ hay trong nền thơ ca của đất nước chúng ta. Bài thơ được mở đầu với hai câu thơ vô cùng say đắm lòng người

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên Xuân sang xuân thủy tiếp xuân thiên.

Với hai câu thơ thôi nhưng người đọc có thể cảm nhận đươc không khí mùa xuân của rằm tháng giêng vô cùng đần ấm, rộn ràng mừng vui. Trong tiết trời se lạnh mùa xuân đang tới rất gần trên từng ngọn cây cảnh lá, những chú chim thi nhau hót véo von, những bông hoa thi nhau khoe sắc khoe hương làm trong tâm hồn người thi sĩ càng thêm rộn ràng.

Người đọc cũng cảm nhận được nhưng dự vị mùi hương của mùa xuân trong từng câu chữ của bài thơ. Tác giả đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên về mùa xuân ở núi rừng Việt Bắc với biết bao nhiêu màu sắc và sự hấp dẫn.

Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Trong không gian bao la đó những người chiến sĩ cách mạng của chúng ta vừa bàn bạc việc nước, việc nhà vừa thưởng thức cảnh ánh trăng tỏa bóng thật thi vị biết bao. Tác giả và những đồng chí yêu nước đang lo cho dân cho nước, biết bao nhiều toan tính, lo lắng cho nợ nước thù nhà chưa trả được. Tác giả mong mỏi và hy vọng tới một ngày mà dân tộc ta sẽ hoàn toàn giải phóng thoát được kiếp nô lệ tối tăm này. Dù người đang phải sống giữa hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn về vật chất cũng như nhiều thứ nhưng trong tâm hồn người vẫn luôn tràn đầy tinh thần lạc quan yêu đời. Tác giả luôn tin tưởng vào một ngày mai tươi đẹp hơn của đất nước chúng ta. Một ngày mai toàn thắng niềm vui sẽ tới với dân tộc Việt Nam chúng ta, dù con đường chúng ta đi sẽ còn nhiều khó khăn thử thách nhưng với niềm tin tưởng vững vàng. Tinh thần đoàn kết của quân và dân ta trên dưới một lòng thì nhất định chúng ta sẽ thành công. Công việc bàn bạc của tác giả với các chiến sĩ của mình kết thúc vào lúc nửa đêm và khi người đi thuyền trên sông để trở về nơi ở thì hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền” là một hình ảnh vô cùng đẹp thể hiện sự reo ca, niềm tin về một tương lai bừng sáng của dân tộc.

Trong từng câu thơ của mình ta thấy được tác giả như hoàn toàn thả hồn vào với thiên nhiên. Tác giả Hồ Chí Minh vốn luôn yêu quý thiên nhiên coi thiên nhiên như người bạn tri kỷ của mình chính vì thế mà trong từng câu thơ của người thiên nhiên luôn là người bạn thấu hiểu tâm trạng, từng cảm xúc. Câu thơ khiến cho người đọc hình dung ra được một con thuyền trở đầy trắng sáng lướt nhẹ trên sông êm đềm lãng mạn. Đồng thời cũng thể hiện sự ung dung tự tại của những chiến sĩ cách mạng dù làm việc trong hoàn cảnh khó khăn nhiều thiếu thốn nhưng tâm hồn của họ luôn thanh cao, và tràn đầy nhiệt huyết niềm tin vào tương lai tươi sáng. Tác giả Hồ Chí Minh đã tạo nên một hình tượng nghệ thuật cho bài thơ vô cùng đặc sắc độc đáo, thể hiện được linh hồn của bài thơ “Rằm tháng giêng”

“Rằm tháng giêng” của tác giả Hồ Chí Minh với cách sử dụng từ ngữ tươi sáng, tạo nên nhiều cảm xúc vui vẻ lạc quan cho người đọc. Đồng thời cho thấy được tâm tư tình cảm của tác giả luôn tin tưởng vào vận mệnh của dân tộc mình, tin tưởng vào ngày mai toàn thắng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!