Xu Hướng 2/2024 # Cách Mở Đầu Truyện Cổ Tích # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cách Mở Đầu Truyện Cổ Tích được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cách mở đầu truyện cổ tích

Mô hình thế giới được cấu tạo từ ba thành tố cơ bản: thời gian – không gian – vạn vật. Chúng ta có thể thấy đầy đủ ba thành tố này trong câu mở đầu của chuyện cổ tích. Đại đa số truyện cổ tích Việt Nam đều mở đầu bằng một mô típ quen thuộc: “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ, có một chàng trai / cô gái…”.

Công thức mở đầu như vậy không chỉ cho thấy thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa mà còn cho thấy cả nghệ thuật dẫn truyện đặc sắc của tác giả dân gian.

Truyện cổ tích thường mở đầu bằng cụm từ chỉ thời gian: Ngày xửa ngày xưa, đời xưa, thời xưa, thuở xưa, đã lâu lắm rồi… Nhưng phổ biến nhất là cụm từ “ngày xửa ngày xưa”, thủ pháp điệp âm tạo nhạc điệu trầm bổng như làn điệu dân ca dẫn người nghe vào một thế xa xôi, mơ mộng. Dường như nói “ngày xưa” vẫn chưa đủ, người ta phải đẩy sự kiện lùi xa hơn bằng cách thêm vào “ngày xửa” hoặc “đã lâu lắm rồi, người già không nhớ rõ vào thời nào”… Theo quan niệm của người kể và người nghe, cái gì càng xưa thì càng có giá trị và đáng tin tưởng. Người xưa là “tiền nhân”, đang ở trước mặt ta, dẫn dắt ta, họ là tổ tiên, là thầy ta. Bởi vậy, câu chuyện càng xa xôi thì càng quan trọng, bài học rút ra càng sâu sắc. Tác giả dân gian đã đẩy câu chuyện ra khỏi thời hiện tại để đưa vào thời quá khứ – cái thời không ai biết để bàn cãi, bắt bẻ là câu chuyện ấy đúng hay sai. Có như vậy, tác giả mới dễ bề hư cấu, tạo ra một thế giới kỳ ảo đầy hấp dẫn, qua câu chuyện kỳ ảo mà đưa ra thế giới quan, nhân sinh quan của mình.

Tiếp theo, người kể chuyện nhắc đến yếu tố không gian: ở một làng nọ, trong một khu rừng nọ, ở một vương quốc nọ… Nói chung là một nơi nào đó không phải là nơi mà người kể mà người nghe đang ở. Mà nếu người nghe có muốn tới vùng đất đó thì cũng không được vì không rõ “làng nọ” là làng nào, ở đâu… Nhìn chung, địa danh trong truyện cổ tích là mang tính phiếm chỉ, đây là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng. Nó có tác dụng cách ly không gian người nghe và không gian câu chuyện để dễ bề hư cấu, đưa vào yếu tố kỳ ảo. Nó tạo ra một chân trời mới mẻ kích thích trí tò mò của người nghe. Vì nếu nói chuyện xảy ra ở làng ta thì người nghe đã biết rồi, không hứng thú theo dõi nữa. Điều này không chỉ có ở truyện cổ tích mà ngay cả truyện trung đại, người ta cũng thường kể về chuyện xa xưa hơn chuyện bây giờ, thích kể chuyện ở nước khác hơn chuyện nước mình… Đây là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam và thế giới làm thành một đặc điểm quan trọng trong thi pháp văn học dân gian và văn học trung đại.

Cuối cùng, người kể chuyện đề cập tới yếu tố con người: có một chàng trai nghèo khổ, có một nàng công chúa xinh đẹp, có một mụ phù thủy rất độc ác, có một con thỏ rất thông minh… Cụm từ này có hai nội dung chính: giới thiệu nhân vật cùng hoàn cảnh, tính cách. Nhân vật thường không có tên, việc phiếm chỉ nhân vật như vậy có nhiều lý do. Nó thích hợp cho một câu chuyện xảy ra thời xa lắm rồi, người già không nhớ rõ vào thời nào, dĩ nhiên, cũng không nhớ cả tên nhân vật. Vả lại, chuyện xảy ra ở một vương quốc khác, không có quan hệ gì tới vương quốc này nên tên họ nhân vật không quan trọng lắm. Còn trong các chuyện về loài vật, dĩ nhiên con vật không có tên. Truyện cổ tích thường ít nhân vật nên cũng không nhất thiết phải đặt tên để tránh nhầm lẫn. Trong thế giới cổ trung đại, cái riêng không quan trọng bằng cái chung, cái tôi không quan trọng bằng cái ta nên việc danh xưng không quan trọng. Người ta rất ít dùng tên của mình, thậm chí, còn giấu tên thật, cấm không cho người khác gọi tên mình (phạm húy). Bởi vậy, chắc cũng chẳng có ai thắc mắc tại sao nhân vật truyện cổ tích không có tên.

Nhưng còn có nhiều lý do khác quan trọng hơn khiến cho nhân vật truyện cổ tích không có tên. Trong văn chương, tác giả thường dùng phương pháp hư cấu nhân vật bằng cách thay tên đổi họ những con người có thật ngoài đời. Làm vậy, để tránh sự phiền phức lôi thôi khi người kia lên tiếng kiện tụng, phản bác, trả thù… Tác giả dân gian cũng không muốn va chạm với những người xung quanh nên không nêu tên nhân vật. Nếu phải nêu tên thì thường chọn các tên ít ai dùng như: Tấm, Cám, Sọ Dừa, Khoai, Hạt Mít… Có những cái tên tưởng là danh từ riêng, chỉ một người nhưng thực ra chỉ chung nhiều người như: Mỵ Nương (người con gái đẹp), Hùng Vương (người đứng đầu một khun / vùng / bộ lạc…). Đối với nhân vật tốt, tác giả không ngại gọi tên riêng như: Trương Chi, Trần Minh, Từ Thức… Nhưng đối với nhân vật xấu, tác giả thường chỉ gọi tên chung, phiếm chỉ: lão nhà giàu, mụ dì ghẻ, con quỷ… Đôi lúc, nhân vật phản diện cũng có tên riêng như Lý Thông, nhưng tác giả biện luận rằng, Lý Thông đó đã bị trời đánh từ ngày xửa ngày xưa rồi, hoặc Lý Thông đó là của làng nọ chứ không phải là người của làng ta…

Truyện cổ tích muốn khái quát những quy luật chung của cuộc sống nên nhân vật cũng cần phải mang tính khái quát cao. Bởi vậy, nhân vật thường không có tên họ và mang tính cách chung của một loại người. Chàng trai mồ côi, nghèo khó tượng trưng cho những người cùng khổ. Cô gái xấu xí, tật nguyền tượng trưng cho những người bất hạnh. Lão nhà giàu keo kiệt tượng trưng cho kẻ xấu. Mụ phù thủy tượng trưng cho kẻ ác. Chàng tráng sĩ tượng trưng cho những vị cứu đời. Cô công chúa xinh đẹp tượng trưng cho cái đẹp của con người… Mỗi nhân vật đảm nhiệm một chức năng và đóng vai trò như một tình tiết trong cốt truyện. Cái mà người ta quan tâm là nhân vật đó giữ chức năng gì, đại diện cho loại người nào chứ không phải nhân vật đó tên gì, ở đâu… Đôi lúc, nhân vật cũng có tên nhưng người ta cũng không tin cái tên đó có thật, và chỉ xem nó như một ký hiệu để gọi tên chung cho một hạng người mà thôi.

Các thể loại truyền thuyết, sử thi, giai thoại có chức năng ca ngợi những danh nhân đã có công với cộng đồng nên tác giả dân gian phải nêu chính xác tên họ của nhân vật, đôi khi nêu cả thời điểm và địa điểm xảy ra sự việc. Còn truyện cổ tích không có chức năng này nên không nhất thiết phải nêu tên nhân vật cùng thời điểm và địa điểm sự kiện. Chức năng chính của truyện cổ tích là khái quát các mâu thuẫn trong cuộc sống và rút ra bài học nhân sinh. Vấn đề quan trọng nhất của truyện cổ tích là cốt truyện. Người kể chỉ chú ý tạo ra những tình tiết ly kỳ, gay cấn để hấp dẫn bạn đọc là được, còn tên nhân vật là không quan trọng. Chẳng hạn, khi anh chàng mồ côi gặp một tình huống khó xử thì kéo theo phải có một nhân vật nào đó có chức năng giải quyết sự việc để khai thông cốt truyện. Chức năng này có thể giao cho: ông Bụt, bà Tiên, đạo sĩ, con chim thần, chiếc đũa thần… Người nghe quan tâm tới việc giải quyết tình huống chứ không ai quan tâm tới việc tại sao là ông Bụt mà không là bà Tiên, và đạo sĩ đó tên gì, ở đâu ra ?… Bởi vậy, việc đặt tên và giới thiệu tỉ mỉ nhân vật trở nên thừa.

Nói tóm lại, câu mở đầu của truyện cổ tích là rất quan trọng vì nó tách người nghe ra khỏi thế giới thực tại để đưa về một thế giới khác, xa cách về thời gian, không gian, con người. Đó là một miền cổ tích xa lạ có nhiều sự việc ly kỳ, hấp dẫn. Đưa người nghe vào một thế giới kỳ ảo là để dễ dàng hư cấu, từ đó rút ra các bài học cho cuộc sống thực tại. Cho nên, nói chuyện “ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ…” thực ra là để nói chuyện “ngày nảy ngày nay, ở tại làng ta…

Tóm Tắt Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bằng 3 Cách Khác Nhau

1. Tấm là một cô gái hiền lành, xinh đẹp, mồ côi mẹ, sống với dì ghẻ và cô em cùng bố khác mẹ tên là cám. Tấm bị mẹ con cám ghen ghét, ngược đãi. Đi hớt tép, tấm bị cám đánh lừa trút hết giỏ tép. Tấm nuôi con cá bống, mẹ con cám giết chết con cá bống. Ngày hội, dì ghẻ trộn gạo lẫn thóc, bắt tấm ở nhà nhặt xong mới được di xem. Mỗilần bị mẹ con cám gây chuyện ngược đãi, đau khổ như vậy, tấm đều được bụt hiện lên an ủi, giúp đỡ. Bụt bảo tấm nuôi cá bống cho có bạn, bụt sai chim sẻ nhặt giúp tấm mớ gạo trộn lẫn thóc. Bụt chỉ cho tấm cách chôn xương cá bống để đến ngày hội tấm có quần áo, khăn, giày đẹp. Tấm đi xem hội, đến chỗ lội, đánh rơi một chiếc giày xuống nước. Nhờ chiếc giày bị rơi ấy, tấm được vua biết đến và lấy làm vợ. Mẹ con cám lập mưu giết chết tấm rồi đưa cám vào thế chân tấm. Tấm chết hóa thành chim vàng anh. Chim vàng anh bị cám giết chết lại hóa thành cây xoan đào. Cám chặt cây xoan đào, đóng khung cửi, khi ngồi vào dệt vải, con ác bằng gỗ trên khung cửi kêu: “cót ca cót két, mày tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”. Cám đốt khung cửi, đồ tro ở một nơi xa cung vua. Từ đông tromọc lên một cây thị lớn, chỉ có một quả thật to. Một bà cụ bán hàng nước được quả thị ấy, mang về để ở nhà. Mỗi khi bà cụ vắng nhà, từ quả thị, một cô gái – tức tấm chui ra quét dọn, nấu ăn giúp bà cụ. Một hôm, vua đến uống nước, ăn trầu ở hàng bà cụ, thấy có miếng trầu do tấm têm, đã nhận ra vợ. Tấm trở lại cuộc sống hạnh phúc bên vua. Còn mẹ con cám thì bị trừng phạt thích đáng: cám bị giội nước sôi chết, xác nó đem làm mắm gửi cho mẹ nó ăn. Ăn hết chình mắm, trông thấy đầu lâu đứa con gái ở đấy chình, mụ dì ghẻ ngã vật ra chết. (èo, không ngờ đoạn kết gì mà ghê quá 🙁 )

2. Tấm là một cô gái hiền lành, xinh đẹp, mồ côi mẹ, sống với dì ghẻ và một cô em cùng bố khác mẹ tên là cám. Tấm bị mẹ con cám ghen ghét, ngược đãi. Mỗi lần tấm bị ngược đãi, bụt lại hiện lên an ủi và giúp đỡ. Trong một ngày hội, nhà vua gặp tấm và lấy làm vợ. Mẹ con cám giết tấm để đưa cám vào làm vợ vua. Tấm nhiều lần hóa thân: thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, thành khung cửi, thành cây thị, nhưng đều bị mẹ con cám tìm cách hãm hại. Cuối cùng, tấm gặp lại vua và hai người sống hạnh phúc bên nhau. Còn mẹ con cám bị trừng phạt thích đáng.

3. Câu chuyện tấm cám kể lại cuộc đời và số phận của tấm, một cô gái hiền lành, xinh đẹp, mồ côi, sống với dì ghẻ và cô em cùng cha khác mẹ tên là cám. Tấm bị mẹ con cám ngược đãi, hãm hại nhiều lần. Nhờ bụt an ủi và giúp đỡ, tấm trở thành hoàng hậu và sống hạnh phúc. Mẹ con cám bị trừng trị đích đáng.

Phân Tích Bài Thơ Nhớ Con Sông Quê Hương Phần Mở Đầu

Tế Hanh rất thật thà, rất hiền lành trong sáng tác, cho nên thơ của ông không uyên bác suy tưởng như Chế Lan Viên hay trau chuốt sang trọng như thơ Bích Khê, không đắm say bồng bột như Xuân Diệu hay thăng hoa biến ảo như Hàn Mặc Tử, nhưng nó vẫn có một phong cách riêng đủ ghi dấu ấn một tấm lòng, khiến ông chinh phục được cả những bạn đọc khó tính.

Cái làng quê nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng đã nuôi Dưỡng tâm hồn Tế Hanh, trở thành nguồn cảm xúc vô tận để ông viết nên những vần thơ tha thiết, lai láng như : “Nhớ con sông quê hương”, “Quê hương”, “Trở lại con sông quê hương”. Trong dó có đoạn mở bài của Bài văn Nhớ con sông quê hương

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là buổi trưa hè

Tỏa sáng dưới dòng sông láp loáng

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung – Quãng Ngãi, một vùng đất cằn cỗi, quanh năm chỉ có gió và cát, một vùng quê nghèo. Do hoàn cảnh bắt buộc, ông rời xa quê hương từ thuở thiếu thời. Trong thời gian xa quê ông viết rất nhiều tác phẩm, chủ yếu là về quê hương, bằng tất cả những tình yêu, nỗi nhớ của mình. Một vùng đất đầy thơ mộng và rất đẹp trong thơ Tế Hanh. Trong đó có phần

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Xa quê, xa cả con sông. Có thể nói đó là nỗi đau của ông. Qua những kỉ niệm, hồi tưởng về con sông trong “nỗi nhớ con sông quê hương”, Tế Hanh đã thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, mãnh liệt, một hình ảnh quê hương thân thiết, ruột rà.

Tâm hồn tôi là buổi trưa hè

Tỏa sáng dưới dòng sông láp loáng

Và cũng thật tự nhiên khi những hồi tưởng của tác giả lại có sức lay động thật mãnh liệt đến độc giả. Khi không gian kỷ niệm hiện lên trong ngần, tỏa nắng và mát rượi, đó cũng là lúc quê hương hiện hữu gần gũi, quyện hòa với hồn người.

Đối với Tế Hanh, quê hương luôn là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa.. Dù ở phương trời nào lòng ông vẫn nhớ quê hương, nó luôn dạt dào, cháy bỏng trong ông khiến nhà thơ thấy được hình ảnh quê hương liên tục hiện ra. Quê hương chính là sức sống của ông, ở một khía cạnh nào đó, ta lại thấy tình yêu quê hương của Tế Hanh rất đa chiều và phức tạp. Lúc da diết, ngập tràn với “Nhớ con sông quê hương”, nhưng lúc khác lại cho người đọc thấy một hồn thơ trẻ trung phơi phới của “Quê hương”. Nhưng dù ở góc độ, khía cạnh nào thì nó đều ẩn chứa một tình yêu, nỗi khát khao đoàn tụ, bày tỏ khát vọng gặp gỡ cụ thể. Không như thơ Huy Cận, Lưu Trọng Lư đầy chất mộng ảo, không như thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hun hút sầu thương, thơ Tế Hanh trong sáng, khoẻ mạnh, đắm đuối rất thực. Bởi ông có một vùng quê bằng xương, bằng thịt, mà ông luôn dõi theo bằng đôi mắt rất thực, bằng trái tim có địa chỉ rõ ràng.

Có thể nói những bài thơ về quê hương trước và hai mươi năm sau Cách mạng Tháng Tám của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về con sông hiền hòa đã. Mỗi chúng ta một lần nữa vui mừng khi được giao tiếp với một hồn thơ khoẻ mạnh, trong sáng song lại rất đỗi bình dị mà sâu sắc. Nó không hề làm nặng đầu ta với những bóng dáng siêu hình hay những vô thức u minh, nó chấp cánh mộng mơ, bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết, là điểm trở về bình yên của ta trong cuộc đời nhiều bươn trải, cũng là sự thôi thúc ta vươn lên.

(Tác giả: Nguyễn Văn Dinh)

Sự Tích Con Khỉ Truyện Cổ Tích, Truyện Cổ Tích Việt Nam

Sự tích con khỉ

( Sự tích con khỉ) Ngày xưa có một người con gái đi ở với một nhà trưởng giả. Nàng phải làm việc quần quật suốt ngày, lại bị chủ đối đãi rất tệ. Cái ăn cái mặc đã chả có gì mà thỉnh thoảng còn bị đánh đập chửi mắng. Vì thế, cô gái tuổi mới đôi mươi mà người cứ quắt lại, trông xấu xí bệ rạc hết chỗ nói. Một hôm nhà trưởng giả có giỗ, cỗ bàn bày linh đình, họ hàng đến ăn uống đông đúc. Trong khi đó thì cô gái phải đi gánh nước luôn vai không nghỉ. Lần gánh nước thứ mười, cô gái mỏi mệt quá ngồi lại ở bờ giếng. Tự nhiên cô thấy tủi thân, ôm mặt khóc. Lúc đó đức Phật bỗng hiện ra với trạng mạo một ông cụ già. ạng cụ có vẻ đâu từ xa lại, dáng điệu mệt nhọc đến xin nước uống. Nàng vội quảy gánh xuống giếng vực nước lên cho ông già giải khát. Ông cụ uống xong lại đòi ăn. Cô gái nhớ tới phần cơm của mình chưa ăn, bèn bảo ông cụ ngồi chờ rồi quảy gánh nước về. Lần sau ra giếng, cô lấy cơm trong thùng đưa cho ông già và nói:

– Họ dành phần cho con toàn cơm cháy cả, cụ ăn một bát này cho đỡ đói. Ăn xong, ông cụ bảo nàng: Sự tích con khỉ

– Hồi nãy làm sao con khóc? Cô gái ngập ngừng, cúi mặt xuống không trả lời.

– Ta là đức Phật,

– ông cụ nói tiếp,

– ta thấy con có lòng tốt.

Nếu con muốn gì, ta sẽ làm cho con vui lòng.

Cô gái ngạc nhiên mừng rỡ, kể nỗi lòng với đức Phật. Thấy điều ước muốn của người con gái chỉ là làm sao cho bớt xấu xí, ông cụ bảo nàng lội xuống giếng, hễ thấy bông hoa nào đẹp mút lấy thì sẽ được như nguyện. Khi xuống nước, cô gái chỉ mút mấy bông hoa trắng. Tự nhiên lúc lên bờ, nàng trở nên trắng trẻo xinh xắn, đồng thời quần áo cũng biến thành những thứ tốt đẹp.

Khi cô gái quảy gánh nước trở về, cả họ nhà trưởng giả vô cùng kinh ngạc. Nàng xinh đẹp đến nỗi họ không thể nào nhận ra. Nghe cô gái kể chuyện, ai nấy cũng muốn cầu may một tí. Họ lập tức đổ xô cả ra bờ giếng mong gặp lại đức Phật để được trẻ lại và đẹp ra. Thấy ông cụ già vẫn còn ngồi ở chỗ cũ, họ sung sướng như người được của. Họ đưa xôi thịt ra mời tới tấp:

– Này cụ xơi đi! Cụ xơi đi. Rồi cụ làm phúc giúp cho chúng tôi với! Đức Phật cũng bảo họ lội xuống giếng và dặn họ y như dặn cô gái lần trước. Dưới giếng lúc đó đầy hoa đỏ và hoa trắng. Ai nấy đều cho màu đỏ là đẹp nên khi lội xuống giếng đều tìm hoa đỏ mút lấy mút để. Nhưng không ngờ lúc lên bờ, họ không phải trẻ lại mà già thêm ra: mặt mũi nhăn nheo, người trông quắt lại, lông lá mọc đầy người, đằng sau lưng là cả một cái đuôi.

Những người đi gánh nước thấy vậy hoảng hồn: “Kìa trông con quỷ, nó cắn bà con ôi!”. Nhưng lại có những tiếng khác: “Đánh cho chết chúng nó đi! Sợ gì”. Lập tức mọi người cầm đòn gánh xông lại. Cả họ nhà trưởng giả kinh hoàng bỏ chạy một mạch lên rừng.

Thấy vậy cô gái và mọi người sợ quá, đêm đêm đóng cửa rất chặt. Họ bàn nhau tìm cách đuổi chúng. Họ bôi mắm tôm vào các cánh cửa, lại nung nóng rất nhiều lưỡi cày đặt rải rác ở cổng các nhà. Quả nhiên, một đêm nọ chúng lại mò về. Theo lệ thường, chúng đánh đu vào song cửa kêu rít lên. Nhưng lần này chúng vừa mó đến đã bị mắm tôm vấy đầy tay, rồi từ tay vấy khắp cả người, hôi hám không thể nói hết. Chúng kinh sợ dắt nhau ra ngồi trước cổng quen như thói cũ. Nhưng vừa đặt đít ngồi xuống các lưỡi cày thì chúng đã kêu oai oái, rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy lên rừng. Từ đó chúng kệch không dám về nữa.

Trong những khi lên rừng hái củi, người ta thỉnh thoảng vẫn gặp chúng. Thấy bóng người từ đàng xa, chúng liền chuyền theo nhánh cây, lủi nhanh thoăn thoắt. Người ta gọi chúng là những con khỉ. Ngày nay vẫn có nhiều người cho khỉ là thuộc nòi trưởng giả. Còn những con khỉ sở dĩ đỏ đít là vì chúng chịu di truyền dấu vết bỏng đít của tổ tiên.

Gửi bởi in Tags: Hà Vũ truyện cổ tích việt nam đọc truyện bé nghe, đọc truyện cổ tích việt nam chọn lọc, hay nhất, truyện cổ tích, truyện cổ tích việt nam chọn lọc, truyện cổ tích việt nam hay nhất, việt nam

Cách Mở Bài Bài Thơ Việt Bắc (Tố Hữu) Hay Nhất

3 Cách mở bài bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) Mở bài bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) số 1 cực hay:

Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ trữ tình chính trị xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Các tác phẩm thơ của ông có thể coi như bản lịch sử về thơ ghi chép lại những biến cố, những sự kiện trọng đại của lịch sử nước nhà. Việt Bắc là một trong vô số những bài thơ như vậy, khi lại những tình cảm của kẻ ở người đi, của mười lăm năm kháng chiến trường kì của dân tộc đã kết thúc thắng lợi.

Mở bài bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) số 2 cực hay:

“Việt Bắc” là bài thơ kiệt tác của Tố Hữu, là một trong những thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954).

Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hào hùng của dân tộc, sâu chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Thủ đô Hà Nội rợp đỏ bóng cờ trong ngày hội non sông (10 – 1954), bài thơ “Việt Bắc” là tiếng hát nghĩa tình sắt son thủy chung của mình với ta, của chiến sĩ, cán bộ, đồng bào đối với chiến khu Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến, đối với Đảng và Bác Hồ của miền xuôi và miền ngược; là khúc tráng ca anh hùng của một dân tộc thắng trận sau hơn ba ngàn ngày máu lửa.

Bài thơ “Việt Bắc” mang tầm vóc một trường ca, dài 150 câu thơ lục bát, vừa mang âm điệu ca dao, dân ca đậm đà, vừa mang vẻ đẹp thơ ca cổ điển và thơ ca cách mạng dân tộc.

Mở bài bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) số 3 cực hay:

Tố Hữu nhà thơ trữ tình chính trị xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Các bài thơ của ông luôn hừng hực không khí chiến đấu, bám sát từng sự kiện lịch sử. Việt Bắc chính là một trong những bài thơ như vậy.

Tác phẩm ra đời sau khi ta chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, một trang sử mới đã mở ra cho dân tộc. Tháng 10 năm 1954 các cơ quan Đảng và chính phủ của chúng ta từ chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, để tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử của đất nước. Nhân sự kiện cuộc chia tay đặc biệt này, chia tay giữa Việt Bắc với người về xuôi, Tố Hữu đã viết lên bài thơ Việt Bắc.

Mở đầu bài thơ là lời ướm hỏi và nhắc nhở của đồng bào với những người ra đi: “Mình về mình có nhớ ta/…/Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Điệp từ nhớ luyến láy trong cấu trúc câu hỏi đồng dạng “Mình về mình có nhớ ta?/…/ Mình về mình có nhớ không?” khiến cho nỗi nhớ thêm phần da diết, khắc khoải. Kỉ niệm đầu tiên được nhắc tới chính là mười lăm năm khoảng thời gian Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc cho cách mạng. Với kỉ niệm thứ hai, tác giả đã tái hiện chân thực không gian mình từ gắn bó là sông, núi, nguồn. Tâm trạng của thiên nhiên cũng chính là nỗi nhớ da diết của chính con người.

Hiện tại chúng tôi có hơn 25 nghìn bài văn mẫu các thể loại.

Kho tài liệu, đề thi học sinh giỏi các lớp vô cùng phong phú.

Mỗi ngày cập nhật hơn 100 đề thi chất lượng từ các website bán tài liệu lớn.

Nghe Đọc Chuyện Cổ Tích: Truyện Cổ Tích Sọ Dừa

TRUYỆN CỔ TÍCH SỌ DỪA

Đọc truyện cổ tích Sọ Dừa

Nghe kể chuyện cổ tích Sọ Dừa

Tóm tắt truyện cổ tích Sọ Dừa

Có đôi vợ chồng già, phải đi ở cho nhà phú ông và hiếm muộn con cái. Một hôm bà vợ vào rừng hái củi, uống nước trong cái sọ dừa, về nhà có mang, ít lâu sau sinh ra một đứa bé kì dị, không chân không tay, tròn như một quả dừa. Thấy đứa bé biết nói, bà giữ lại nuôi và đặt luôn tên là Sọ Dừa.

Thương mẹ vất vả, Sọ Dừa nhận thay mẹ chăn đàn bò nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, con nào cũng béo khoẻ. Ba cô con gái nhà phú ông thay nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kênh kiệu thường hắt hủi cậu, chỉ có cô út đối đãi với cậu tử tế. Phát hiện ra vẻ đẹp bên trong cái vẻ kì dị của Sọ Dừa, cô út đem lòng thương yêu. Sọ Dừa nhờ mẹ đến hỏi. Phú ông thách cưới thật to nhưng thấy Sọ Dừa mang đủ đồ thách cưới đến, đành phải gả cô út cho Sọ Dừa. Sọ Dừa hiện nguyên hình làm một chàng trai trẻ đẹp khiến hai cô chị vô cùng ghen tức.

Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi sứ nước ngoài. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà để đề phòng tai hoạ. Sọ Dừa đi vắng, hai người chị tìm cách hãm hại cô út, đẩy cô xuống biển hòng cướp chồng em. Nhờ có các đồ vật chồng đưa cho, cô út thoát chết, được chồng cứu trên đường đi sứ về. Hai vợ chồng đoàn tụ. Hai cô chị xấu hổ, bỏ nhà đi biệt tích.

Đọc cho bé nghe những câu chuyện cổ tích Việt nam và cổ tích thể giới hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Mở Đầu Truyện Cổ Tích trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!