Xu Hướng 2/2023 # Bố Cục, Tóm Tắt Bài Thơ Hầu Trời Lớp 11 # Top 7 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bố Cục, Tóm Tắt Bài Thơ Hầu Trời Lớp 11 # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Bố Cục, Tóm Tắt Bài Thơ Hầu Trời Lớp 11 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bố cục, tóm tắt bài thơ Hầu trời

Tác giả Tản Đà (1889 – 1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu ông là nhà thơ, nhà văn và còn là nhà viết kịch nổi tiếng của nền văn học Việt Nam. Ông lấy bút danh Tản Đà từ chính cảm hứng quê hương khi ông đó là núi Tản Viên và sông Đà. Sự xuất hiện của ông được ví như ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Ngòi bút của ông lúc nào cúng phóng khoáng, có chút gì đó hơi ngông, thể hiện một cái tôi rất Tản Đà và vô cùng xông xáo trên mọi lĩnh vực.

Với ngòi bút sắc bén của mình, ông đã viết nên những tác phẩm có khuynh hướng ngông nghênh như chính con người của ông vậy. Các tác phẩm tiêu biểu phải kể đến như: tập thơ An Nam tạp chí, Hầu trời…Mỗi bài thơ đều đa dạng trong cách dùng thể thơ một cách phong phú và đa dạng.

– Vào những năm đầu của thế kỉ XX, xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ đang đắm chìm trong sự u ám, tối tăm và bất công. Khi ấy, chủ nghĩa lãng mạn trở thành những khúc ca tâm tình của người trí thức. Họ muốn chống lại những bất công, tăm tối đó nhưng không phải là điều dễ dàng có thể thực hiện được. Tản Đà lại khác, ông sáng tác bài thơ này để dãi bày tâm trạng của mình.

– Bài thơ “Hầu trời” nằm trong tập “Còn chơi”(1921). Bài thơ có khuynh hướng lãng mạn trong văn chương thời đại, xã hội nửa thực dân nửa phong kiến u uất, đen tối nhiều điều thị phi, xót đau.

3. Bố cục bài thơ

Bài thơ “Hầu trời” chia làm 3 phần khác nhau:

4. Tóm tắt bài thơ Hầu trời

Thi nhân đêm khuya buồn không ngủ được bằng đun nước uống rồi nằm ngâm thơ, ngắm trăng. Giọng thơ hay đến nỗi vang vọng tới trời cao, Trời sai Hai tiên nữ xuống mời thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ rất thích thú khi được lên tiên chơi và được thể hiện tài năng “đọc hết văn vần lẫn văn xuôi”, cả Trời và các chư tiên nghe xong thích thú, khen thưởng. Trời hỏi thi sĩ họ tên, người phương nào, thi sĩ xưng tên của mình và kể về tình cảnh khốn khó khi theo đuổi nghề văn dưới trần. Trời động viên, an ủi, thi sĩ cảm tạ rồi được đưa về trần. Sau cùng là cuộc chia tay của Trời và chư tiên cùng với thi sĩ.

5. Hướng dẫn tìm hiểu bài Hầu trời

a. Nhà thơ kể chuyện mình lên thiên đình đọc thơ cho trời và các chư tiên

– Đã là canh ba mà nhà thơ không ngủ được, bèn dậy đun uống làm trà rồi ngâm thơ làm văn

– Thế nhưng bỗng có hai cô tiên xuống hỏi làm gì lại không ngủ và đề xuất lên đọc thơ cho trời nghe

-Tản Đà tỏ ra không hề sợ sệt đồng ý theo hai cô tiên lên trời đọc văn

b. Tản Đà đọc thơ và đối thoại với trời:

– Khi mới lên:

+ Nhà thơ theo hai cô tiên lên trời, thích thú trước cảnh mây trời và tỏ ra ngạc nhiên khi không có cánh mà vẫn bay được. Sau đó đắm chìm trước cảnh thiên môn đẹp mê hồn

+ Sau khi cúi lạy hành lễ với trời thì được hai cô tiên mang ghế cho ngồi và được trời tiếp đãi như vị khách quý chứ không phải là người có tội. Còn được trời sai người mời trà để nhấm giọng đọc văn. Có sự họp mặt của đông đảo mọi người, nhà thơ hăng say đọc văn hết từ thơ đến văn vần, văn xuôi sang cả tiểu thuyết.

– Thái độ của trời và chư tiên khi nghe Tản Đà đọc thơ: ai cũng ngạc nhiên và hăng say nghe nhà thơ đọc “trời thì khen lấy làm hay”. Nhà thơ nhắc đến những tạp chí thơ văn của mình và muốn mang về bán ở trần gian. Còn trời thì khuyên mang lên chợ trời để bán. Sau khi nghe những vần thơ lay động, trời dành cho Tản Đà những lời phê bình có cánh “chau chuốt như sao băng”, “hùng mạnh như mây chuyển”.

– Có thể nói cái hay nhất là đoạn đối thoại giữa trời và nhà thơ:

+ Sau màn đọc thơ, trời khen và hỏi tên tuổi, khi ấy nhà thơ mới tự giới thiệu về mình.

+ Khi trời tra sổ sách thì phát hiện ra rằng người này vì tội ngông mà bị đày xuống. Nhưng thực chất là trời sai xuống hạ giới để làm việc thiện. Nhà thơ có kể đến những khó khăn của mình. Và được trời khuyên cứ về trần gian rồi mọi việc sẽ thông, còn hứa xong việc sẽ cho trở về Đế Khuyết.

Bài thơ Hầu trời viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên độc đáo, mới lạ, đây cũng là nét mới trong xu hướng phát triển của thơ ca giai đoạn đầu của thế kỷ 20.

Tóm Tắt Truyện Cổ Tích Tấm Cám Ngắn

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Mẹ Tấm mất sớm, cha lấy thêm dì ghẻ nhưng không lâu sau cha cũng mất. Mẹ con Cám luôn đối xử bạc đãi với Cám. Một ngày nọ, mẹ sai hai chị em đi bắt cá, Cám vốn tính ham chơi lại gian xảo nên đã lừa trút hết cá của Tấm. Khi Tấm buồn tủi khóc, Bụt hiện lên và chỉ cho Tấm biết vẫn còn một con cá Bống trong giỏ.

Tấm nghe theo lời Bụt mang cá về nuôi dưới giếng, hàng ngày cho Bống ăn. Nhưng mẹ con nhà Cám đã lừa tấm để giết thịt Bống. Khi Tấm phát hiện Bống chết, cô chỉ biết khóc, Bụt lại xuất hiện bảo Tấm lấy xương Bống chôn xuống bốn chân giường.

Đến ngày nhà vua mở hội chọn vợ, mẹ con Cám bắt Tấm phải nhặt hết một thúng thóc và gạo rồi mới được đi. Tấm không chống cự lại được mà chỉ biết khóc. Bụt lại hiện lên giúp đỡ Tấm. Nhặt xong, Tấm không có quần áo đẹp đi dự tiệc, Bụt bảo hãy đào bốn cái lọ ở chân giường lên.

Lạ thay, trong đó toàn thứ Tấm đang cần: Quần áo đẹp, hài đẹp, có cả ngựa để Tấm đi nữa. Nhưng khi đi ngang qua cầu, Tấm vô tình làm rơi chiếc hài xuống sông. Nhà vua sau khi nhặt được chiếc hài liền ra lệnh ai đi vừa sẽ cưới làm vợ. Mọi người trong làng, cả mẹ con Cám đến thử hài nhưng không ai vừa. Dĩ nhiên, chỉ có Tấm đi vừa, cô được vua rước về làm Hoàng Hậu.

Ngày giỗ cha, cô xin về nhà làm lễ cúng cha. Mẹ con Cám đã lừa Tấm trèo cây cau hái quả rồi giết chết Tấm để Cám vào cung làm vợ vua thay chị. Tấm chết hóa thành chim vàng anh nhưng lại bị mẹ con Cám giết. Chỗ Cám vứt lông chim mọc lên hai cây xoan đào xanh tốt. Thấy nhà vua ngày ngày ra đó mắc võng nằm, Cám lại chặt cây làm khung cửi. Trong lúc dệt vải, Cám lại nghe thấy tiếng chị nên sợ quá đốt khung cửi đi rồi đem tro đổ ra một nơi thật xa. Tại đó, mọc lên cây thị nhưng chỉ có duy nhất một quả chím vàng thơm lừng. Có bà cụ đi qua xin thị về nhà để ngửi. Sau khi bị phát hiện Tấm chui từ quả thị ra, bà cụ đã xé vụn vỏ thị. Từ đó, hai bà cháu sống vui vẻ với nhau.

Một hôm nhà vua đi ngang qua ghé vào nghỉ chân. Vua đã nhận ra vợ mình khi thấy cánh trầu được têm theo kiểu mà chỉ có Tấm mới biết têm. Vua đón Tấm về. Từ đó, hai người sống hạnh phúc bên nhau, không còn sóng gió nữa. Còn mẹ con Cám đã phải nhận lấy cái chết thích đáng cho những gì mình đã gây ra.

Rate this post

Tóm Tắt Truyện Thạch Sanh, Nêu Ý Nghĩa Truyện

Gửi đến các em học sinh lớp 6 bài tóm tắt truyện Thạch Sanh và ý nghĩa của truyện cổ tích vô cùng nổi tiếng này. Chú ý đón đọc nội dung bên dưới để hiểu rõ hơn bài học ngày hôm nay.

Tóm tắt truyện Thạch Sanh, ý nghĩa truyện

Truyện Thạch Sanh có 3 đoạn được chia cụ thể như sau:

– Đoạn 1 (Từ đầu truyện cho đến … mọi phép thần thông): cậu bé Thạch Sanh ra đời và trưởng thành.

– Đoạn 2 (tiếp theo cho đến … bị bắt hạ ngục): vượt qua khó khăn Thạch Sanh liên tiếp lập chiến công.

– Đoạn 3 (phần còn lại): tố cáo tội ác của Lí Thông, Thạch Sanh cưới công chúa và dẹp yên quân chư hầu đang có ý định tấn công.

2. Sự khác biệt giữa Thạch Sanh và Lí Thông

Theo dõi bảng bên dưới để hiểu hơn về sự đối lập trong tính cách và hành động của 2 nhân vật chính trong truyện Thạch Sanh và Lí Thông.

Hành động

– Giết chằn tinh giúp dân làng thoát nạn.

– Giết đại bàng, vào hang đại bàng cứu công chúa và con vua thủy tề

– Đẩy lui quân của 18 nước chư hầu nhưng vẫn hòa bình, yê n ấm

– Cướp công giết chằn tinh của Thạch Sanh nhằm đoạt công trạng.

– Cướp công cứu công chúa, lừa Thạch Sanh, lấp miệng hang hòng giết hại Thạch Sanh

3. Bài tóm tắt truyện Thạch Sanh tham khảo

Ngày xưa có đôi vợ chồng nghèo, tốt bụng mà mãi vẫn chưa có con, thương tình Ngọc Hoàng phái con trai xuống đầu thai làm con của họ. Hai vợ chồng mất sớm, chỉ còn lại Thạch Sanh kiếm sống bằng nghề hái củi.

Người hàng rượu tên là Lí Thông vờ kết nghĩa Thạch Sanh với mục đích xấu. Đến năm Lí Thông phải đi nộp mạng cho Chằn Tinh, Lí Thông lừa Thạch Sanh đi nộp mạng thay. Nhưng Thạch Sanh với sức khỏe và tài nghệ đã giết được chằn tinh, thấy vậy Lí Thông dùng lời ngon ngọt dụ dỗ Thạch Sanh bỏ trốn còn hắn mang đầu chằn tình đi lãnh thưởng và được phong làm chức làm Quận công.

Công chúa đến tuổi cập kê, nhưng lại bị đại bàng khổng lồ bắt. Thạch Sanh thấy vậy liền giương cung bắn đại bàng bị thương, Thạch Sanh lần theo đến nơi đại bàng giấu công chúa. Nhà vua ra lệnh Lí Thông phải giải cứu công chúa, hứa gả công chúa và truyền ngôi cho ai cứu nước công chúa. Lại một lần nữa Lí Thông tìm đến Thạch Sanh. Khi Thạch Sanh cứu được công chúa, Lí Thông băng cướp công chúa và nhốt Thạch Sanh dưới hang.

Trong hang động, Thạch Sanh giải cứu được con vua Thủy Tề nên được vừa mời xuống thủy cung, vua Thủy Tề tặng thưởng nhưng chàng chỉ xin 1 cây đàn.

Thạch Sanh lấy công chúa, các nước chư hầu tức giận đem quân sang đánh. Thạch Sanh dùng tiếng đàn làm cho quân địch phải đầu hàng. Dùng niêu cơm chiêu đãi quân địch khiến họ thán phục và rút quân. Cuối cùng vua cha truyền ngôi cho Thạch Sanh.

3. Ý nghĩa truyện Thạch Sanh

– Nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo của truyện cổ tích.

– Khẳng định chân lý “ở hiền gặp lành”, thể hiện niềm tin và mong muốn của người xưa về một xã hội công bằng.

– Những kẻ tham lam, ích kỉ, lợi dụng người khác chắc chắn sẽ gánh chịu hậu quả.

Tóm Tắt Nội Dung Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt

Tóm tắt nội dung bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

Tóm tắt:

“Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước. Từ phương trời Tây, người cháu nhớ về bà, nhớ về bếp lửa quê hương trong cảm xúc ngậm ngùi. ngày ấy, kẻ thù xâm chiếm, gây cảnh đau thương. Bố mẹ đi kháng chiến, người cháu ở cùng bà. Bà thay bố mẹ chăm sóc và dạy bảo cháu từng ngày. Nhớ nhất là hình ảnh bếp lửa do bà nhóm mỗi ngày. Từ bàn tay bà, bếp lửa đã cháy lên trong mọi hoàn cảnh, cháy lên xuyên suốt những tháng ngày tuổi thơ của người cháu. Bếp lửa là nguồn sưởi ấm, chở che, là nguồn sống, nguồn sẻ chia, trở thành kỷ niệm không bao giờ quên được. Bếp lửa chứa đựng tình bà cháu thiêng liêng, bất diệt. Nay người cháu đã xa bà, xa quê hương nhưng hình ảnh người bà hiền hậu, hình ảnh bếp lửa nồng ấm được thắp lên mỗi sớm mai từ đôi bàn tay bà mãi mãi trở thành kí ức không bao giờ quên.

Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Giá trị nội dung:

“Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp.

Giá trị nghệ thuật:

– Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ,9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà. – Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành. – Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bố Cục, Tóm Tắt Bài Thơ Hầu Trời Lớp 11 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!