Xu Hướng 2/2023 # Bí Mật…Bật Mí Về Bài Thơ “Hai Sắc Hoa Tigon” Của # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bí Mật…Bật Mí Về Bài Thơ “Hai Sắc Hoa Tigon” Của # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Bí Mật…Bật Mí Về Bài Thơ “Hai Sắc Hoa Tigon” Của được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

T.T.Kh là một câu chuyện chưa từng có trong lịch sử văn chương. Đó là câu chuyện về một thi sĩ bí ẩn bỗng nhiên tung lên thi đàn mấy bài thơ tình tuyệt tác làm ngẩn ngơ độc giả rồi lặng lẽ biến mất trong cái bàng hoàng sửng sốt của người yêu thơ. Bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày xảy ra câu chuyện kỳ lạ ấy. Rất nhiều người đã tìm cách vén lên bức màn bí ẩn của câu chuyện nhưng hầu như chưa ai làm thỏa mãn độc giả. Còn người yêu thơ vẫn luôn khát khao được biết sự thật: chúng tôi là ai và đã vì ai mà sáng tác nên những áng thơ tình đặc sắc đó?

Có một số nhân vật được các nhà sưu tầm đưa ra để giả định rằng đó là chúng tôi Nam giới có, phụ nữ có. Trong số những “nghi can” có hai nhà thơ nổi tiếng là Thâm Tâm và Nguyễn Bính. Độc giả tưởng như đã lần ra được tung tích của con người kỳ lạ này nhưng sự thực không phải như vậy. Bởi tất cả những thông tin đưa ra đều do lời người khác kể lại. Còn bản thân những người như Thâm Tâm, Nguyễn Bính chưa bao giờ có phát biểu chính thức nhận mình là chúng tôi Vì thế, tuy người kể cũng là người có uy tín trong làng văn làng báo nhưng độc giả vẫn thấy mơ hồ khó tin. Việc tìm kiếm con người thật của chúng tôi thành ra vẫn rơi vào vòng lẩn quẩn trong bao nhiêu năm qua, khiến câu chuyện thêm nhuốm màu huyền thoại.

Kieuphong Bằng cách phân tích các hình ảnh, biểu tượng, tình tiết văn học, thói quen sử dụng ngôn ngữ trong thơ, trong truyện ngắn…, tác giả Trần Đình Thu đưa ra một cách làm mới: so sánh đối chiếu với những người được cho là chúng tôi lâu nay để nhận xét xem ai là người phù hợp nhất. Đó là cách làm khá đặc biệt so với những nhà sưu tầm khác trước đây chỉ hoàn toàn dựa vào lời kể của nhân chứng. Vì thế, xin giới thiệu loạt bài viết trích từ bản thảo cuốn sách Giải mã nghi án văn học chúng tôi chưa xuất bản của tác giả để bạn đọc tham khảo.

Về hoa ty-gôn (antigone in French): loại hoa dây đẹp, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu trắng và hồng; ở miền Nam VN gọi là hoa nho vì lá giống lá nhọ Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua nhữg sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ…

Có thể nhiều bạn đọc đã biết, đã thuộc làu thơ chúng tôi nhưng vẫn có một số người khác chưa nắm rõ câu chuyện như thế nào. Vì thế, trước khi bước vào phân tích lý giải, Kieuphong chúng tôi xin dẫn lại toàn bộ câu chuyện này một cách có hệ thống. Câu chuyện chúng tôi bắt đầu vào tháng 7/1937, khi tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn mang tên Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu. Nội dung truyện ngắn được tóm tắt như sau:

Có một họa sĩ nghèo mới ra trường. Trong một lần đi tìm cảnh vẽ, chàng đã gặp một thiếu nữ đang hái hoa ti gôn trong vườn. Từ đó, chàng đâm ra mê người đẹp, luôn đạp xe vào làng để ngắm trộm nàng hái hoa.

Năm tháng qua đi, chàng họa sĩ trở nên nổi tiếng. Tranh vẽ của chàng bán được giá rất cao. Họa sĩ trở nên giàu có. Một mùa đông, chàng đi vẽ ở một vùng nọ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ. Chàng ngờ ngợ như đã từng gặp người này ở đâu. Cuối cùng nhớ ra, nàng chính là cô gái hái hoa ngày ấy. Trong khi khiêu vũ với nàng, chàng nhắc lại chuyện cũ. Nàng vô cùng ngạc nhiên.

Nàng kể chuyện cuộc đời mình cho chàng nghe. Nàng lấy một người chồng môn đăng hộ đối nhưng cuộc hôn nhân quá tẻ nhạt. Từ đó, nàng hay lui tới chỗ họa sĩ trọ để chơi và để chàng vẽ cho một bức chân dung. Chuyện gì đến đã đến. Một buổi sáng, hai người đi chơi ở một ngôi chùa trên đỉnh núi, chàng đã tỏ nỗi lòng mình. Nàng đáp lại tình yêu của chàng.

Chàng bàn với nàng trốn đi Nhật để chung sống với nhau. Nàng nhận lời. Chàng về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc thì nhận được thư nàng vào giờ chót. Nàng từ chối chuyến đi vì không đủ can đảm vượt qua. Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra. Chàng nhìn những nụ hoa hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu, lặng lẽ hôn lên những cánh hoa và khóc.

Bốn năm sau, một hôm chàng nhìn thấy trên bàn mình một phong thư viền đen. Mở ra xem thì đó là của người chồng nàng báo tin nàng đã chết. Chàng đáp xe lửa đến nơi để đặt lên mộ nàng dây hoa quen thuộc. Từ đó, chàng luôn mua hoa ti gôn về đặt trong phòng mình.

là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng. Truyện ký thác một tâm sự khắc khoải, nhớ nhung hoài niệm. Hình ảnh dây hoa ti gôn được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn khơi gợi một điều gì đó không tiện nói ra. Tác giả của nó – nhà văn Thanh Châu, khi đó là một chàng trai trẻ 25 tuổi, vừa quyết định bước vào nghiệp văn chương. Chàng cũng vừa trải qua một chuyện tình buồn.

Hai tháng sau ngày Thanh Châu đăng truyện ngắn nói trên, một sự kiện đặc biệt xảy ra. Vào tháng 9/1937, tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy nhận được một bài thơ của một tác giả ký tên là chúng tôi Đó là bài Hai sắc hoa ti gôn, được đăng vào ngày 23/9/1937

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc, Tôi chờ người đến với yêu đương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Dải đường xa vút bóng chiều phong Và phương trời thẳm mờ sương, cát, Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài những lúc thấy tôi vui Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Thuở đó, nào tôi đã biết gì Cánh hoa tan tác của sinh ly Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng Là chút lòng trong chẳng biến suy”

Đâu biết lần đi một lỡ làng, Dưới trời đau khổ, chết yêu đương. Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm, Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

Từ đấy thu rồi, thu, lại thu, Lòng tôi còn giá đến bao giờ? Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ… Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời Ái ân lạt lẽo của chồng tôi, Mà từng thu chết, từng thu chết Vẫn dấu trong tim bóng “một người”

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa Sắc hồng tựa trái tim tan vỡ Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi Một mùa thu trước rất xa xôi… Đến nay tôi hiểu thì tôi đã, Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ, Chiều thu, hoa đỏ rụng. Chiều thu Gió về lạnh lẽo chân mây vắng, Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng Trời ơi! Người ấy có buồn không? Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ? Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết. Giới văn nghệ xôn xao. Gần hai tháng sau, tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa. Bài thơ này có tựa đề là Bài thơ thứ nhất dù đó là bài thơ thứ hai gửi đến. Bài này được đăng trên số báo ngày 20/11/1937.

Và một năm sau nữa, tòa soạn nhận thêm bài Bài thơ cuối cùng. Bài này được đăng trên số báo ra ngày 30/10/1938.

Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ? Một mùa thu cũ, một lòng đaụ.. Ba năm ví biết anh còn nhớ, Em dã câm lời, có nói đâu !

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly, Càng khơi càng thấy lụy từng khị Trách ai mang cánh “ty-gôn” ấy, Mà viết tình em, được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng, Bài thơ “đan áo” của chồng em. Bài thơ “đan áo” nay rao bán, Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy, biết không ? ….Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung, Giận anh, em viết dòng dư lệ, Là chút dư hương : điệu cuối cùng !

Từ đây, anh hãy bán thơ anh, Còn để yên tôi với một mình, Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét, Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi, Từng mùa gió lạnh sắc hương rơị.. Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp, Đi nhớ người không muốn nhớ lời !

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây, Tôi run sợ viết, bởi rồi đây Nếu không yên được thì tôị..chết Đêm hỡi ! làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên Mà phương ngoài gió chẳng làm quên; Và người vỡ lỡ duyên thầm kín, Lại chính là anh ? anh của em !

Tôi biết làm sao được hỡi trời ? Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi ! Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt… Sợ quá đi, anh…”có một người” !…

Từ đó, tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy không còn nhận thêm bài thơ nào của con người bí ẩn này nữa. Ngược lại, có một bài thơ cũng ký tên chúng tôi gửi đến một tờ báo khác. Đó là Bài thơ đan áo.

Những bài thơ mang tên chúng tôi đã làm cho độc giả bàng hoàng sửng sốt. Nhưng tác giả của nó đã lặng lẽ rời bỏ văn đàn, không bao giờ xuất hiện ở đâu nữa. Không ai biết một chút gì về con người bí ẩn này. Nghi án văn học chúng tôi từ đó bắt đầu…

Năm 1942, Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản Thi nhân Việt Nam lần đầu tiên, chúng tôi đã được đưa vào tập sách quan trọng này. Song song đó, nhiều người lại liên tục công bố những thông tin về chúng tôi Nào Thâm Tâm, nào Nguyễn Bính, nào em gái nhà thơ Tế Hanh, nào là Trần Thị Khánh… Rất nhiều “ứng viên”.

Câu chuyện về Thâm Tâm có khá nhiều người kể. Chẳng hạn Nguyễn Vỹ, một người có mặt trong đã viết một bài dài trên Tạp chí Thi nhân Việt Phổ Thông vào những năm 1960. Ông Vỹ cho biết, một buổi tối trên đường về nhà, ông gặp Thâm Tâm đang lang thang. Ông mời Thâm Tâm về nhà mình uống rượu. Ngà ngà say, Thâm Tâm cao hứng kể chuyện tình của mình. Thâm Tâm cho biết, người yêu của mình là một nữ sinh tên là Trần Thị Khánh. Nàng đã có lần gợi ý Thâm Tâm đến nhà hỏi cưới nhưng chàng bảo sự nghiệp chưa có gì. Bẵng đi một thời gian, một hôm chàng nhận được phong thư báo tin nàng sắp lấy chồng. Đã bị người yêu bỏ đi lấy chồng, lại còn bị đám bạn chế nhạo, Thâm Tâm đâm ra bị quê. Vì thế đã phải thức một đêm để làm một bài thơ tựa đề là Hai sắc hoa ti gôn, ký tên chúng tôi Thâm Tâm làm như vậy với dụng ý để các bạn của mình tin là của Khánh làm, cho khỏi mang tiếng bị tình phụ. Sau đó, Thâm Tâm gửi bài thơ tới tòa soạn. Về phần cô gái đó, sau khi đọc được bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, liền viết thư phản đối Thâm Tâm kịch liệt. Thâm Tâm bèn lấy những câu chữ trong bức thư này để viết tiếp các bài thơ sau này, vẫn ký là T.T.Kh…

Ngược với Nguyễn Vỹ thì một số tác giả, chẳng hạn như Hoàng Tiến, lại cho rằng chính cô Trần Thị Khánh, cô người yêu của Thâm Tâm đã sáng tác ra những bài thơ ký tên chúng tôi Một số tác giả khác còn tiến thêm một bước cụ thể hơn nữa khi cho rằng Trần Thị Khánh chính là em gái họ của nhà thơ Tế Hanh…

Với Nguyễn Bính, không thấy có những câu chuyện cụ thể như trường hợp của Thâm Tâm. Người ta chỉ dựa vào bài thơ Cô gái vườn Thanh đề tên tác giả Nguyễn Bính để cho rằng Nguyễn Bính chính là chúng tôi

Vậy chúng tôi – Nàng là ai? Vào khoảng 6/1937, báo “Tiểu thuyết thứ bảy” xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn Hoa Ti Gôn của ký giả Thanh Châu. Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ. ra Bắc mấy lần. Một lần dong ruổi, gặp đêm mưa lớn, ông ghé vào trọ tại một nhà ở vùng Thanh Hóa, được người lão bộc tiếp đãị Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ ngồi quay tơ -mà ông gọi là “Người Vườn Thanh” – đã khiến ông run động, thao thức bâng quơ, nhưng nghĩ mình còn nặng kiếp giang hồ nên chưa dám tính đến chuyện tình duyên.

Sau đó không lâu, toà soạn nhận được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ Hai sắc hoa ty-gôn, dưới ký tên chúng tôi Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kia. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Rồi mấy năm sau, ông lại có dịp qua vùng Thanh Hóa, bèn tìm đến chốn cũ, thì được người lão bộc năm xưa kể cho nghe “một thiên hận tình”. Thời gian lại qua đi, ông gần như đã quên câu chuyện đó, thì đọc được những bài thơ của chúng tôi xuất hiện trên báọ Ông thấy những bài thơ đó giống hệt thiên hận tình của “Người Vườn Thanh” năm nào, ông nghĩ rằng “Người Vườn Thanh” chính là T.T.Kh., và viết bài thơ “Dòng dư lệ để tặng nàng.

Mặc dầu xôn xao bàn tán và tranh dành lấy mình và lấy thơ của mình. chúng tôi đã biến mất. Cho đến muà xuân năm 1938 ngày 30 tháng 10 thì trên tiểu thuyết thứ bảy laị xuất hiện chúng tôi với Bài thơ cuối cùng. Đó là ba bài thơ mà chúng tôi đã để laị trong lòng tất cả người yêu thơ của bà. Cho đến thập kỷ 80, vẫn có người noí rằng bà còn sống và đã gặp bà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một lời noí mà thôi.

Vậy chúng tôi nàng là ai? Và vì ai mà làm thơ? Cái nghi vấn đã kéo daì hơn 50 năm cho đến năm 1994. Bà Đ.T.L (tạm dấu tên) đã tiết lộ cái mà thiện hạ cho là “Thiên cơ bất khả tiết lộ” cho nhà văn Thế Nhật, và đó cũng là cái chià khoá để mở cái cửa nghi vấn cho làng văn học Viet Nam.

chúng tôi là gì? T chữ thứ nhất là TRẦN T chữ thứ hai là THANH KH chữ thứ ba là KHÓC

KHÓC ở đây là khóc cho mối tình có duyên không nợ, khóc cho cái éo le cuộc đờị Tạo hoá chớ trêu kiến cho họ gặp nhau rồi đem cho họ bao nhiêu là nước mắc ngậm ngùi khi xa nhau.

THANH là Thanh Tâm. là tác giả của bài “Hoa Ti-gôn” mà tôi đã nhắc ở trên, Ông hiện cư ngụ tại Hà nội, là người đã tạo cho chúng tôi những cảm xúc để viết lên những giận hờn, thương xót, và khoc’ thương. Người đã mang nặng chữ chung, thủy với chữ tình, đã gắn bó với thơ chúng tôi với cái hồn của nàng suốt hơn 50 năm trời đằng đẵng. Môt. người mà hôm nay thân đã tàn sức đã tận, nhưng tâm hồn vẫn lâng lâng cái trẻ trung, cái nhớ thương ray rứt về cố nhân. Một người có tâm hồn cao thương và sắc đá, trước những thử thách chơ trêu của tạo hoá, nhưng laị mềm mại, đắng cay trong từng ngòi bút ông buông lợi.

TRẦN là Trần Thị Chung, (Tên thường gọi là Trần Thị Vân Chung) Sinh ngày 25-8-1919 tại thị xã Thanh Hoá, Hà Nội. Sinh trưởng trong một gia đình Quan lại thời bấy giờ, Vân Chung có một người anh cả, hai người em gái và một người em trai út. Năm 1934, qua mối mai, gia đình nàng đã hứa gả nàng cho môt. luật sư (Lê Ngọc Chấn, ông đã chết sau khi mãn tù cải tạo học tập). Hiện nay bà cùng các con sinh sống ở miền nam nước Pháp trong một thị xã nhỏ và bà vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu khác khau như vân nương, tơ sương v.v…

Tôi xin gửi đến bà Vân Chung lời cảm khích vô cùng về những cống hiến của bà cho nền văn hoc. việt nam, cảm ơn nhà văn Thế Nhật, bà Đ.T.L cùng những người yêu chúng tôi Ruốt cuộc cái nghi án văn hoc. nay đã được công bố

Câu chuyện “Hoa ti-gôn” đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới dàn hoa ti-gôn. Rồi chàng ra đi; nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải tỏa niềm tâm sự.

Trong “Hai sắc hoa ti-gôn”, tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một ông chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên chúng tôi Đó là các bài Bài Thơ Thứ Nhất, Bài thơ đan áo (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và Bài thơ cuối cùng.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của chúng tôi nữa và không hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti-gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất”.

Từ lúc T.T. Kh góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người ta đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T.Kh.. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thị Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà nộị Có kẻ cho cô là người yêu của thi sĩ Thâm Tâm, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hoá hay thi vị hoá một mối tình tưởng tượng. Rồi, ký giả Thanh Châu, các thi sĩ Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận chúng tôi là người yêu của mình! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng. Như ta đã thấy “Bài thơ cuối cùng”, xuất hiện vào giữa năm 1938, trong đó chúng tôi giận trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báọ làm lộ chuyện thầm kín “cho khắp người đời thóc mách xem”, thì không còn thấy xuất hiện bài thơ nào khác của nàng nữa.

Mãi tới 2 năm sau, vào giữa 1940, mới thấy xuất hiện bài thơ Gửi chúng tôi với bút hiệu Thâm Tâm (Nguyễn Tuấn Trình,1917-1948), có lẽ là ông ở xa vừa mới về. Ông tự nhận là người tình cũ của chúng tôi gọi nàng bằng tên “Khánh” và nhắc tên nầy tổng cộng 4 lần. Bài thơ nầy là để trả lời cho 4 bài thơ của nàng, nhưng với giọng điệu cay đắng, mỉa mai!

Ngoài ra Thâm Tâm còn 2 bài thơ khác viết cho chúng tôi như sau: Màu Máu Ty-gôn, Dang Dở

Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho chúng tôi xuất hiện trong năm 1940. Bài thơ “Dang dở” trên đã chấm dứt “mối tình bí mật” đó. Nhưng…

Sau đó, người ta lại được “biết chút ít” về chúng tôi qua bài thơ Dòng dư lệ của Nguyễn Bính. Lúc bấy giờ ai chẳng nghỉ chúng tôi chính là người tình vườn Thanh của Nguyễn Bính. Nhưng đó chỉ là sự ngộ nhận của một kẻ si thơ chúng tôi mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Bính lúc còn trẻ có máu giang hồ, vào

Người ta trả lại cánh hoa tàn Thôi thế duyên tình cũng dở dang ! Màu máu Tigôn đà biến sắc Tim người yêu cũ phủ màu tang !

K. hỡi! Người yêu của tôi ơi Nào ngờ em giết chết một đời ! Dưới mồ đau khổ em ghi nhớ Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi .

Quên làm sao được thuở ban đầu, Một cánh Tigôn dạ khắc sâu ! Một cánh hoa xưa màu hy vọng ! Nay còn dư ảnh trái tim đau .

Anh biết làm sao được hỡi trời ! Dứt tình bao nỡ, nhớ không thôi ! Thôi em hãy giữ cành hoa úa Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời !

Bí Mật Phòng The Luôn Được Che Giấu Của Từ Hy Thái Hậu

Cuộc đời của Từ Hy Thái hậu gắn liền với triều đại Mãn Thanh- triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa đang trong giai đọan suy tàn và khủng hoảng tột độ. Từ một mỹ nữ trong dân dã được chọn vào cung làm quý nhân, rồi từ địa vị quý phi nhảy lên ngôi thái hậu, thâu tóm quyền lực, gây bao tội ác.

Từ Hy Thái hậu là mẹ của hoàng đế Đồng Trị, dì (thực chất cũng là mẹ) của hoàng đế Quang Tự, thực hiện cái gọi là “buông rèm nghe chính sự” trong suốt 48 năm – 48 năm tai ương, khủng khiếp nhất của lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa.

Phó viện trưởng thư viện Cố Cung Bắc Kinh đã từng kể rằng: “Từ Hy có thói quen nghe kể truyện sex hoặc nghe truyện cười trước khi đi ngủ. Sau này tuổi càng cao, cuối đời bà ta đặc biệt thích nghe những câu chuyện sex dân gian, sau này còn phải xem kịch sex mới có thể ngủ được”.

Từ hy thái hậu

Trong thực tế, chuyện đời tư của Từ Hy Thái Hậu đã diễn ra từ rất sớm, cũng có rất nhiều tình nhân, có quân cơ đại thần Rong Lu, Vương Lão Ngũ bán đậu phụ, tiểu tình nhân Anh Quốc Edmund Backhouse… Khang Hữu trong một cuốn sách đã nói rằng: “Từ Hy thái hậu là một ác nữ hung bạo, là một bà lão khiến cho mọi người đều thảo ác, sống một cuộc sống phong lưu, phóng đãng. Là một thái hậu, một cung phi sa đọa, sức khỏe của bà rất tốt, ham muốn tình ái cũng rất mạnh mẽ. Đứng đầu trong những hoạn quan của bà cũng không phải chỉ đơn thuần là một vị thái giám, mà còn là một trong những tình nhân trong suốt quãng đời của bà.

Mặc dù tình sử phong lưu của Từ Hy thái hậu đã được ghi chép lại rất nhiều nhưng cũng chưa tiến tới hiện thực được. Sau khi cuốn tự truyện của chính “người tình Anh quốc” bí ẩn được xuất bản thì mọi việc mới được đưa ra ánh sáng, hóa ra, trong chốn cấm cung, chẳng có điều gì là không thể…

Bìa cuốn sách “Thái hậu và tôi” gây tranh cãi

Trong cuốn tự truyện “Thái hậu và tôi” của mình, Edmund Backhouse nói rằng, mối quan hệ đặc biệt giữa mình và Từ Hy bắt đầu vào năm 1902, khi đó ông mới chỉ 29 tuổi, còn Từ Hy thái hậu đã bước vào tuổi 67. Ông còn viết “Ngoài Từ Hy thái hậu, không có có thể khiến cho ông có được niềm đam mê thực sự”. Ông viết: “Từ Hy Thái hậu mặc dù đã gần bước sang tuổi 70 nhưng vẫn có một khuôn mặt sáng đẹp và trẻ trung. Vóc dáng bà thon nhỏ, duyên dáng, đôi bàn tay với những ngón thon dài, mềm mại, mái tóc dài vẫn đen mượt. Khi bà cười thì khiến ai cũng si mê…”.

Nhưng thực ra, người Edmund Backhouse yêu nhất trong đại nội không phải là Từ Hy mà chính mà mối tính đồng tính với đại thái giám Lý Liên Anh. Ông ta cũng không hề có ý định giấu giếm Từ Hy mối quan hệ này. Theo “Trung Quốc thời báo”, Edmund Backhouse đã từng có quan hệ đồng tính hàng nghìn lần với thái giám trong cung nhà Thanh, và chỉ có hơn hai trăm lần là có quan hệ với Từ Hy thái hậu. Khi Từ Hy biết ông ta quan hệ đồng tính với đám thái giám thì “dục vọng” cũng trỗi dậy, bà ta đã chỉ thị Lý Liên Anh sắp xếp “cuộc chơi tình dục tập thể” cho bà ta cùng tham gia.

Từ Hy thái hậu

Từ Hy cũng yêu cầu vô độ, bà ta còn đòi dùng cả đồ chơi tình dục và thuốc kích thích để tăng cảm giác mạnh khi yêu. Những lúc rảnh rỗi Từ Hy cũng thường ngồi với Edmund Backhouse đàm đạo về nữ hoàng Victoria nước Anh. Cũng có người cho rằng, Từ Hy thực ra cũng không yêu Backhouse mà chỉ dùng anh ta để phục vụ cho những trò vui tình dục, thỏa mãn ham muốn của bản thân mà thôi.

Nghĩ Vui Về Ong Và Mật…

(GLO)- Những cái đang viết, nói, hiểu về Tây Nguyên giờ vẫn còn nhiều cái đúng nhưng cũng nhiều cái chưa chính xác. Có những cái sai do nhận thức, do suy diễn, do sự hiểu biết có hạn, nhưng cũng có những cái sai do mặc định, do thói quen. Ví dụ, cứ nói tới tháng 3 Tây Nguyên là người ta lại nói “Tháng 3 mùa con ong đi lấy mật”. Hình như có gì đấy sai sai theo cách nói bây giờ?  

Đấy là một câu trong bài hát “Tháng ba Tây Nguyên” của nhạc sĩ Văn Thắng, phổ thơ Thân Như Thơ. Bài hát một thời cực kỳ nổi tiếng, cứ nhắc tới Tây Nguyên là người ta nhắc tới nó và nhắc tới nó thì người ta nhớ “mùa con ong đi lấy mật”. Nhưng hóa ra có mấy điểm bị “mặc định”. Thứ nhất là ong không đi lấy mật, mà nó đi lấy phấn hoa về làm mật. Nếu ong đi lấy mật được rồi thì nó còn làm mật làm gì nữa? Từ phấn hoa thành mật là một chu trình tuyệt vời của loài ong để loài người phải xuýt xoa kinh ngạc, về khả năng… chế biến thực phẩm, khả năng kiến trúc (làm tổ, nghe nói các kiến trúc sư học bò ra để… bắt chước ong xây tổ). Và như thế thì tất cả các mùa có hoa nở thì ong đều đi lấy phấn hoa chứ không chỉ tháng 3. Ai chịu khó tìm hiểu thì biết, khí hậu Tây Nguyên chia làm 2 mùa rất rõ rệt, chỉ 2 mùa thôi, là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau. Và, cũng là một điều hết sức dễ hiểu, chỉ mùa khô thì hoa mới nở được, dù nó khá khô khát, còn mùa mưa thì chịu. Loài hoa mà ong lấy về và làm mật ngon nhất, quý nhất là hoa cây sâm Ngọc Linh. Nó chỉ có ở đỉnh Ngọc Linh quanh năm mây phủ. Giờ đã rất hiếm loại này bởi sâm Ngọc Linh giờ cũng cực hiếm. Hoa trắng là thứ cũng được ong ưa chuộng và nghe nói mật thứ hoa này cũng tốt. Nó là một loài cây có bông hoa trắng nở đầy thảo nguyên, lá cây hăng và hơi giống cây cộng sản, người ta hay dùng để cầm máu và chữa đau bụng. Người Tây Nguyên bản địa không nuôi ong, mà họ đi lấy ong rừng. Gọi bắt ong cũng không đúng, vì ong không bị bắt. Họ đi lấy mật ở các tổ ong trong rừng, bằng cách đuổi ong đi, rất nhẹ nhàng. Và ong sẽ đi làm tổ ở nơi khác. Thường khi vào rẫy, vào rừng, họ gặp các tổ ong trên cây. Ai gặp đầu tiên thì tức là của người ấy. Chỉ cần đánh dấu lại bằng những ký hiệu thô sơ, báo rằng đã có người thấy nó rồi, là tổ ong ấy không bị ai lấy nữa. Đợi đến khi tổ ong ấy đầy mật thì người phát hiện ra đầu tiên đến lấy. Rất nhẹ nhàng, họ leo lên dùng khói xua ong. Leo cây là sở trường của người Tây Nguyên. Mới đây nhất, tôi chứng kiến 2 người đàn ông Jrai được một bà chủ quán mì Quảng ở đường Nguyễn Du (TP. Pleiku) thuê lấy tổ ong trên cái cây trước cửa quán. Họ làm rất gọn ghẽ, nửa tiếng là xong, dù cái cây rất cao và tổ ong bằng cái thúng trên tận ngọn cây. Giờ thì có áo mưa hoặc màn trùm người, chứ ngày xưa họ chỉ có cái khố, mà có khi cũng… tụt luôn ra cho dễ leo, thế mà chả làm sao. Mỗi ngày họ leo và lấy hàng chục tổ mật như thế, đựng vào những quả bầu khô, mang về cất dùng dần. Giờ thì mật ong rừng rất hiếm bởi nhiều lý do. Một là… rừng đang mất dần. Rừng hết thì hoa rừng cũng không còn, thậm chí chỗ cho ong làm tổ cũng chả có. Thứ 2, thấy tổ nào, dù mới nhu nhú, dù mới có vài giọt mật, thì cũng lo mà lấy, bởi mọi sự đánh dấu công nhận sở hữu giờ đây đều vô nghĩa khi mà ngay cửa nhà khóa mấy lớp cũng vẫn bị mất tài sản. Thế nên mật ong rừng nếu có, cũng là mật non; chưa kể, rất nhiều mật ong rừng mà… không phải rừng, được bán tràn lan, không biết đường nào mà lần. Chỉ người Kinh mới biết nuôi ong lấy mật. Thực ra thì mật ong đều tốt. Tuy thế mật ong rừng thì chất lượng tốt hơn. Dân dùng mật giờ chỉ thích mua mật ong rừng và đặt những người ở “gần rừng” mua loại mật ong hảo hạng này. Chính vì tâm lý ấy nên tôi đã từng thấy những người dân Tây Nguyên gùi mật ong rừng đi bán, nhưng lại là… ong nuôi, họ lấy của những người Kinh nuôi ong thả. Nói thêm về bài hát. Theo nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha thì nhạc sĩ Văn Thắng chả lấy một chữ nào trong bài thơ “Tháng ba Tây Nguyên” của nhà thơ Thân Như Thơ cả, mà ông lấy ý, lấy hồn trong cả chùm thơ của Thân Như Thơ. Thế nhưng ông vẫn rất trân trọng ghi rõ từ đầu và cho đến giờ là “nhạc Văn Thắng, thơ Thân Như Thơ”. Một sự trung thực và tôn trọng nhau đáng nể. Và bài hát ấy vẫn hay, vẫn đúng, chỉ có điều người dẫn lại và mặc định “Tháng 3 mùa con ong đi lấy mật” là hình như lại chưa chuẩn…

Văn Công Hùng

Bài Thơ Về Bí Đao

BÀI THƠ VỀ BÍ ĐAO

Bí đao là loại quả mát lành, thường dùng như rau ăn. Bí đao còn có tác dụng tốt với sức khỏe, các món ăn, đồ uống từ bí đao đều giúp hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính.

1.    Bài thơ về bí đao

Bí đao vị thuốc quýGiúp tuổi thọ kéo dàiChữa béo mập rất tốtChữa phù thận rất tàiNhững người tiểu tiện khóĂn bí đao đỡ ngayBệnh tiểu đường cũng vậyĂn nó cũng rất hayChữa phù thũng cũng lànhNấm cùng hành cá chépTrị xơ động mạch vànhHay bệnh cao huyết ápBí đao rất dễ nấuCanh tôm hay canh xươngHoặc luộc lên rồi chấmRẻ tiền mà lại ngon!

(Sưu tầm)

2.    Cách dùng bí đao làm thuốc

Bí đao (đông qua), thường được kết hợp với các dược liệu khác thành thức uống mát bổ, thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy.

•    Nấu trà bí đao

-    Nguyên liệu: Bí đao 1 quả khoảng 2kg, 20g thục địa, 1 quả la hán, 60g đường phèn, 5 lá dứa.-    Cách làm: Bí đao rửa sạch, cắt khúc. Thục địa la hán rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ thêm 3,5 lít nước vào đun sôi, sau đó hạ lửa nhỏ, đến khi nào bí mềm thì bỏ ra, để nguội bỏ bã. Lấy nước cất tủ lạnh dùng dần.-    Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, bổ dưỡng, giảm cân

•    Trà bí đao lá sen

-    Nguyên liệu: Bí đao 200g, Lá sen 20g. -    Cách làm: Rửa sạch bí đao và lá sen cho vào nồi, đổ khoảng 1 lít nước. Đun sôi thì hạ lửa nhỏ trong 1 giờ, có thể thêm 1 chút muối cho dễ uống.-    Tác dụng: Thanh nhiệt trừ phiền, lợi thủy tiêu thũng.

Theo như bài thơ trên, bí đao dùng để nấu thành các món ăn (canh, xào, luộc, hấp…) đều có tác dụng tốt. Lưu ý, không nên nấu quá kỹ, bởi có thể sẽ làm mất đi những hợp chất tự nhiên có trong bí đao.

Quý vị muốn được tư vấn về sức khỏe? Hãy liên hệ ngay số điện thoại 0943 406 995 hoặc 0937 63 8282 để được các bác sĩ của Nhà thuốc giúp đỡ!

Bác sĩ: Thúy Hường (Thọ Xuân Đường)

Thu Vàng Nắng Rót Mật Ong

Thu vàng nắng rót mật ong Cập nhật lúc 16:39 11/10/2019

Mùa thu, ta thường gọi là thu vàng. Thật ra đó là lá vàng, nắng vàng. Có một nhà thực vật học thật có lý khi ông cho rằng: Phần lớn thời gian trong năm, lá là thành phần nuôi sống cây. Lá liên tục chuyển đổi cacbon dioxide, nước và ánh sáng mặt trời thành năng lượng trong quá trình quang hợp. Thành phần đặc biệt trong quá trình này là các sắc tố diệp lục giúp lá có màu xanh tươi sáng. Khi mùa hè kết thúc, ngày thu ngắn lại, lá sẽ ít quang hợp. Sau đó nó chậm dần sản xuất chất diệp lục (xanh), và lúc đó sắc tố màu vàng có cơ hội tỏa sáng trước khi lá rụng để bảo toàn năng lượng cho cây.

Sự tuần hoàn biến đổi của thiên nhiên sao mà kỳ diệu thế. Lá vàng thu như một phiên bản thu vào mình bằng năng lượng nắng vàng để hồi quang cháy hết mình trước khi rụng về cội. Tôi mới hiểu vì sao chỉ hai câu thơ của Bích Khê trong bài “Tỳ Bà”: “Ơ hay buồn vui cây ngô đồng – Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông… ” đã gói cả hồn cốt sắc màu của mùa thu để còn vương mãi dấu lưu luyến trong ký ức con người, thời gian, ký ức của sự chuyển dịch kỳ diệu của tạo hóa.

Nắng thu lạ lắm. Trời đang chói gắt, ngột ngạt và oi bức của mùa hè sau một cơn mưa nhuần nhị tươi mát của mùa thu như chiếc chổi lông thần kỳ quét đi bao bụi bặm để tỏa ra cái nắng vàng rực rỡ. Từng sợi nắng ngỡ như chuốt sợi tơ vàng sau kẽ lá cây vườn. Vòm trời như bỗng cao hơn. Mây bây giờ tơ vương và bàng bạc thảng thốt. Cánh chim trời cũng chớm sự vội vã, hun hút. Nắng thu mọng nước ngọt cho bưởi, sánh vị đường cát cho hồng. Tất cả đánh thức râm ran tuổi thơ nâng bỗng cánh diều bay lên trời thu lộng gió với bao ước vọng. Nắng thu cũng ngọt dậy những quả đồi sim treo từng túi mật chín. Sim như một tín hiệu để báo thu về. Ai bảo sim là loài cây dại, mọc hoang. Sim đã hút bao tinh chất của đất đồi sỏi đá cằn khô để hoa sim cứ thế mà tím, tím lặng lẽ bền bỉ qua bao gió mưa. Ôi cái miền sim cứ tưởng là cằn, mọc lúp xúp mà đội lên những mâm – xôi – sim ứa ngọt. Ta càng thương đất nghèo chiu chắt bao trọn vẹn thủy chung…

Nắng thu vàng như một hồi quang ấm no của mùa lúa chín. Đến miền cao của phía Bắc, những ruộng lúa bậc thang như có nhịp điệu từng ngấn, từng ngấn một như những bậc cầu thang lên nhà sàn. Nắng thu uyển chuyển theo thảm vàng của lúa đã tạo ra bao dào dạt như sóng vỗ, sóng lượn lòng người. Nắng của thu vàng như một hợp âm reo vang hồ hởi khi ta hòa chung nhịp trống tựu trường của con trẻ. Nắng như những dấu chân son lọt qua khe hở lá bàng rộn ràng chạy nhảy. Nắng thật vô tư và hiếu động như tuổi thơ. Nắng tỏa ra, nắng không viền lại. Nắng dệt tơ, nắng giăng mắc. Nhà thơ Hoàng Cầm có những câu thơ thật hay về nắng trong bài “Bên kia sông Đuống”: ” Những cô hàng xén răng đen – Cười như mùa thu tỏa nắng“. Ôi cái vị nắng đậm vị trầu cay, đậm vị tình người cứ lan tỏa, cứ rưng rức chắc bền bén duyên.

Ta cứ ngỡ nắng thu như một người bạn đồng hành có thể sẻ chia, bày tỏ tin cậy. Bởi tất cả đều trong veo, đều tươi sáng, đều thanh cao. Thu thì điềm tĩnh, nắng vàng lại dịu dàng lưu luyến. Lắng đọng thành múi quả tỏa hương mọng nước. Hoa mùa thu không tưng bừng rực rỡ, nồng nhiệt như hè mà chầm chậm bung nở chạm dần vào cái lõi của tâm trạng như một câu thơ xuất thần của Lưu Trọng Lư: ” Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa “. Dây dưa lắm với nắng thu, bịn rịn lắm với bao hẹn ước. Cúc vàng là nhụy của nắng thu, thu hết bao nỗi niềm, bao e ấp. Chỉ một màu vàng của cúc thôi mà thổn thức lòng mình bao cung bậc. Cúc là chấm nhỏ điểm xiết của nắng như một lúm đồng tiền bén duyên vào thu. Chợt dâng lên, dào dạt trong mình ắp đầy bao hoài niệm: Thu vẫn ở lại, lắng lại trong tình đời, tình người không phôi phai. Bởi trong thu vàng, nắng vẫn rót mật ong…

Cập nhật thông tin chi tiết về Bí Mật…Bật Mí Về Bài Thơ “Hai Sắc Hoa Tigon” Của trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!