Xu Hướng 2/2023 # Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu # Top 10 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân tích bài thơ Vội Vàng

Có thể nói ” Vội Vàng ” là sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu trong thể loại thơ ca trước Cách mạng. Bài thơ muốn nói đến một tâm hồn yêu cuộc sống, lạc quan, yêu đời. Không chỉ được lan truyền rộng rãi trong dân gian, internet.. Vội Vàng – Xuân Diệu còn được xuất bản sử dụng trong các chương trình SGK. Đặc biệt là các môn Văn học 11.

Bài thơ Vội Vàng 11 Xuân Diệu

Ai cũng biết đến Xuân Diệu như là Ông hoàng thơ tình. Các tác phẩm cảu ông đều thể hiện sự khao khát cháy bỏng. Thể hiện sự thèm khát tình yêu, muốn được yêu đến say mê. Điều đó được thể hiện rõ ràng qua tác phẩm ” Vội Vàng ” với nhịp điệu thơ tha thiết lại gấp gáp. Gấp gáp như một nỗi sợ, ông sợ thời gian trôi, sợ tình yêu đi mất. Cũng như sợ tuổi trẻ trôi qua một cách nhanh chóng.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần trăng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si.

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa.

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Vội vàng 13 câu đầu

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Với những từ ngữ trau chuốt, hình ảnh được sử dụng trong từng câu thơ, đoạn thơ mượt mà. Giai điệu câu thơ gấp gáp, vội vàng khiến người đọc cũng cảm thấy vội vàng theo. Qua bài thơ tác giả cũng muốn nhắn nhủ với người đọc ” Tuổi trẻ và tình yêu là những thứ mà chúng ta cần phải gìn giữ ” Đừng để nó trôi qua vô nghĩa.

Đôi nét về tác phẩm Vội vàng

Xuất xứ bài thơ Vội Vàng

– Rút ra trong tập Thơ Thơ

– Là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp thơ Xuân Diệu trước Cách mạng

Bố cục bài thơ Vội vàng

– Phần 1 (câu 1 đến câu 29): lí do phải sống vội vàng

– Phần 2 (còn lại): biểu hiện của cách sống vội vàng

Giá trị nội dung bài thơ vội vàng đem lại

– Bài thơ là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt.

Giá trị bài thơ vội vàng nghệ thuật

– Hình thức nghệ thuật điêu luyện: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch lí luận, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

Dàn ý phân tích Vội vàng

Tình yêu trần thế tha thiết

Ước muốn kì lạ

– Tắt nắng, buộc gió đó đều là những ước muốn không thể thực hiện được ⇒ tác giả muốn níu giữ thời gian, níu giữ những gì đẹp đẽ nhất của cuộc sống, muốn bất tử hóa hương sắc mùa xuân trần thế.

– Thể thơ ngũ ngôn cùng điệp từ Tôi muốn được sử dụng hiệu quả.

Mùa xuân thiên đường trên mặt đất

– Câu thơ bất ngờ kéo dài mở rộng tám chữ để dễ dàng vẽ bức tranh cuộc sống, nhịp thơ nhanh hơn, dồn dập hơn, gợi niềm háo hức say mê.

– Điệp từ này đây chỉ sự phong phú, giàu có, đầy đủ, gần gũi muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên.

– Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non tràn đầy xuân sắc, gắn với tình yêu tuổi trẻ: những thảm cỏ xanh non, lá non cành tơ phơ phất, hoa đua nhau khoe sắc dâng mật ngọt, ong bướm đắm say, ái ân tuần tự,….

– Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần đầy sáng tạo mới mẻ, thú vị.

– Tất cả hài hòa cộng hưởng cùng vẽ nên mùa xuân – thiên đường trên mặt đất.

⇒ Nhà thơ muốn nhắn nhủ đến mọi người: sự đẹp đẽ, tinh túy nhất không phải tìm đâu xa mà nó là cuộc sống xung quanh chúng ta, hãy yêu mến gắn bó hết mình với cuộc sống.

– Hai câu cuối đoạn thơ 1 là niềm tiếc nuối mùa xuân ngay khi nó còn tồn tại:

Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Quan niệm thời gian, tuổi trẻ, tình yêu

a. Đẹp nhất là con người giữa tình yêu và tuổi trẻ

– Thi nhân xưa luôn coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp.

– Xuân Diệu lấy con người giữa tuổi trẻ, tình yêu làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp ở đời.

b. Quan niệm sống mới

– Xuân Diệu đã nồng nhiệt khẳng định thiên đường ở ngay trên mặt đất trong cuộc sống này.

– Vậy nên hãy sống cao độ, quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời này nhất là những khoảnh khắc của tuổi trẻ, tình yêu.

Lí do tiếc nuối mùa xuân, tuổi trẻ

– Với Xuân Diệu mùa xuân, tuổi trẻ là một đi không trở lại thế nên thi sĩ tiếc nuối, lo âu.

– Hàng loạt các câu thơ định nghĩa, điệp ngữ nghĩa là đã giúp thi nhân khẳng định chắc nịch mùa xuân, tuổi trẻ sẽ qua sẽ hết sẽ già, sẽ mất.

– Giữa cái mênh mông vô cùng, vô tận của vũ trụ, thời gian, sự hiện diện của con người, tuổi trẻ là quá ngắn ngủi mong manh.

– Lời thơ chứa đựng nỗi ngậm ngùi mới mẻ mà thấm thía.

– Và tác giả đã cảm nhận rõ mồn một sự phôi pha phai tàn đang âm thầm diễn ra: thời gian rớm vị chia phôi, sông núi than thầm tiễn biệt, từ cơn gió xinh đến ngọn lá biếc đến bày chim non đều ngậm ngùi vì sự tàn úa, phôi phai.

Lời đề nghị và biểu hiện của cách sống vội vàng

– Xuân Diệu giục giã hối thúc mọi người hãy sống chạy đua với thời gian, sống vội vàng: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm.

– Câu thơ 3 chữ Tôi muốn ôm rất đặc biệt gợi hình ảnh cái tôi ham hố đang ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn.

– Thi sĩ muốn tận hưởng tất cả những gì non nhất, ngon nhất của sự sống: đó là mây đưa và gió lượn, cánh bướm với tình yêu, là non nước và cây và cỏ rạng.

⇒ Với Xuân Diệu nàng xuân phải thanh tân và quyến rũ.

– Đâu chỉ có thế thi sĩ còn muốn tận hưởng thiên nhiên như tận hưởng ái tình và phải đạt đến độ ngây ngất no nê:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

– Và thậm chí là tận hưởng bằng tất cả các giác quan để rồi lịm đi trong niềm mê đắm ngây ngất: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.

Nghệ thuật trong bài thơ

– Giọng thơ yêu đời vồ vập thấm vào từng câu từng chữ.

– Câu ngắn dài đan xen linh hoạt, nhịp thơ nhanh mạnh.

– Hàng lạt các điệp từ, điệp ngữ tuôn trào hối hả, dồn dập.

– Tất cả tạo nên một hơi thở sôi nổi, mãnh liệt chưa từng thấy.

Bài Thơ Vội Vàng (Xuân Diệu)

Bài thơ Vội vàng Xuân Diệu là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông khi viết về mùa xuân, tuổi trẻ. Đó là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình và trân quý những phút giây mình được sống. Và bài thơ này cũng chính là tiếng nói trong con tim cảu một người đang say mê trong tình yêu.

Bài thơ Vội vàng được in trong tập Thơ Thơ (1933 – 1938) và được xuất bản năm 1938. Đây là một trong những sáng tác lấy cảm hứng từ một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt. Và chất chứa đằng sau những vần thơ này là quan niệm về nhân sinh sâu sắc. Qa thơ ông ta có thể cảm nhận sâu sắc một sức sống mới, đầy mạnh mẽ như mùa xuân của tuổi trẻ.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại. Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt… Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Cảm nhận sức sống mới thông qua bài thơ Vội vàng

Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu chuyển tải tới người đọc một nguồn cảm hứng mạnh mẽ về một sức sống căng tràn. Và nó được thể hiện thông qua các đoạn thơ:

Đoạn 1: 13 câu thơ đầu bộc lộ tình yêu tha thiết

Đoạn 2: Tiếp đến câu 29 thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người

Đoạn 3: Cảm xúc vội vàng để tận hưởng.

Phần 1: Cảm nhận tình yêu tha thiết

Xuân Diệu là một nhà thơ yêu cái đẹp đến mãnh liệt và cũng chính là tình yêu. Tuy nhiên tình yêu không phải bao giờ cũng là màu hồng và trong đó cũng sẽ chứa đựng những cảm xúc thiêng liêng , sự chênh vênh hụt hẫng. Nên có thể nói tình yêu không thể tồn tại vĩnh hằng được.

Với Vội vàng ta có thể cảm nhận được một thiên đường trên mặt đất. Đó là những hình ảnh được thể hiện vô cùng lãng mạn và độc đáo. Ở đây tác giả đã sử dụng những động từ mạnh như “tắt nắng”, “buộc gió” để thể hiện điều này. Tuy nhiên làm sao con người ta có thể cưỡng cầu được những quy luật của thiên nhiên. Nhưng chính cái phi lý ấy đã tạo nên một sức mạnh ấn tượng của bài thơ.

Chính tình yêu luôn tràn ngập trong cảm xúc của nhà thơ nên ông cảm nhận nơi mình đang sống như là một thiên đường. Đó là một bức tranh về mùa xuân tràn ngập ánh sáng mới mẻ và tinh khôi. Đó cũng chính là mùa của cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Là mùa của sự sinh sôi và nảy nở. Với việc lặp lại điệp từ này đã giúp ta phần nào cảm nhận được điều đó. Đó cũng chính là nét đẹp trong thơ ông.

Là một nhà thơ nên ông rất nhạy cảm trước những sự dịch chuyển của thời gian. Đó chính là xuân sẽ qua. Nếu thơ ca cũ cho rằng xuân sẽ tuần hoàn thì với Xuân Diệu xuân sẽ mất đi. Bởi sự tuần hoàn chỉ là mùa xuân của thời gian của đất trời chứ tuổi trẻ, con người, thì sẽ vĩnh viễn qua đi.

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Cũng chính vì điều này mà nó thôi thúc một cuộc sống mãnh liệt hơn, hãy sống làm sao cho có nghĩa nhất và làm sao để tích cực nhất. Bởi sống hết mình từng giây từng phút để cống hiến để yêu sẽ là một trong những điều hạnh phúc nhất của đời người.

Chính mạch cảm xúc này mà nhà thơ đã bắt đầu xưng “tôi”. Đó chính là sự gấp gáp và cuống quýt, vồ vập trong tình yêu. Và Xuân Diệu muốn ôm lấy những nét đẹp của cuộc sống: đó là sự sống, là mây đưa gió lượn…. Tuy nhiên thật khó để giữ được mọi thứ thật trọn vẹn. Và trái tim của ông như muốn rộng ra nhiều hơn để chứa được vũ trụ này.

“Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

Soạn Văn Bài: Vội Vàng (Xuân Diệu)

Soạn văn bài: Vội vàng (Xuân Diệu)

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

– Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (câu 14 – 29): băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời.

– Đoạn 3 (đoạn còn lại): hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu thơ (câu 14 – 24) mang ý vị triết lí nhân sinh sâu sắc. Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm, nên mang nét riêng của Xuân Diệu rất rõ.

a) Thời gian và mùa xuân

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân đã già,

Xuân Diệu viết bài thơ này khi mới ngoài hai mươi tuổi, nghĩa là còn rất trẻ. Người trai trẻ ấy nghĩ về mùa xuân như vậy, mới biết sức tàn phá của thời gian như thế nào, và thi nhân “sợ” thời gian trôi nhanh ra sao! Ở cái tuổi ấy, có lẽ ít người nghĩ thế, và nhất là viết như thế để giãi bày lòng mình trong thơ. Hai câu trên là đối lập (đương tới / đương qua, còn non / sẽ già) để đi đến một kết luận khẳng định về sự đồng nhất giữa mùa xuân và tác giả (con người):

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Mùa xuân trôi đi thì cuộc đời con người cũng chấm hết. Cảm thức về sự tàn phá của thời gian thật mạnh và sâu, được nâng lên như một triết lí nhân sinh của Xuân Diệu. Một con người bình thường không thể nghĩ về thời gian, không gian “sợ” thời gian trôi nhanh đến mức như thế. Hẳn là trong ông có chứa chất bi kịch của nhà thơ lãng mạn trong thân phận một thi nhân mất nước lúc bấy giờ, hay chính vì ông quá yêu cuộc sống nồng nhiệt và say đắm mà “sợ” thời gian cướp mất mùa xuân của mình.

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu ở đây, thực ra, suy cho cùng, cũng chính là hệ quả tất yếu phải có của lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông.

b) Thời gian và tuổi trẻ

Thời gian cướp đi mùa xuân cũng có nghĩa là cướp mất tuổi trẻ của nhà thơ. Đây chính là nỗi xót đau và lo lắng nhất của Xuân Diệu. Bởi chính ông là con người trân trọng tuổi trẻ nhất và lo sợ thời gian trôi nhanh thì tuồi trẻ sẽ không còn nữa. Điều đó được ông bộc lộ thật chân thành, tha thiết:

Làm sao cuộc đời con người lại có hai lần “tuổi trẻ”? Và khi thời gian đã trôi nhanh thì liệu tuổi trẻ có còn? Như vậy, “xuân vẫn tuần hoàn” thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì khi tuổi trẻ đã hết? Với Xuân Diệu, cái quý nhất cua đời người là tuổi trẻ, tuổi trẻ là đẹp nhất, cuộc sống thời tuổi trẻ là hạnh phúc nhất, đáng sống nhất. Và điều ông lo sợ nhât là mất đi cái thời quý giá ấy của cuộc sống con người. Nếu không còn tuổi trẻ thì cuộc sống con người cùng chẳng còn ý nghĩa:

Qua cảm nhận về thời gian – cũng là qua nỗi băn khoăn của Xuân Diệu trước cuộc đời, ta thấy hiện lên cái đẹp nhất, hấp dẫn nhất trên cõi đời mà nhà thơ khao khát. Đó là tình yêu mùa xuân, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc đời tha thiết như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộc đời.

– Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa (hoặc ở một cõi khác) mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta, là sự sống quen thuộc của trần thế. Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc; được sống trong một “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”… Vì vậy, phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng những ý tưởng thật táo bạo:

Và chính vì thế, nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, của mùa xuân như nhan đề bài thơ mà ông đã bày tỏ nỗi lòng.

Câu 4: Đoạn cuối bài thơ:

Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

– Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn.

– Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: điệp cú pháp; điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết … Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê …).

II. Luyện tập

– Câu nói của Vũ Ngọc Phan là một nhận định chung, mang tính khái quát về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu. Nhận định đó có hai ý:

+ Thơ Xuân Diệu có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

+ Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

– Cần vận dụng câu nói đó vào trường hợp bài thơ Vội vàng của ông, có nghĩa là phân tích bài thơ đế làm sáng tỏ nhận định của Vũ Ngọc Phan. Cách vận dụng như sau:

+ Trong bài Vội vàng, ý “yêu đương” chưa rõ, cần khai thác cảm hứng “tuổi xuân” (tức tuổi trẻ) để làm bài.

+ Chứng minh rằng, với cảm hứng “tuổi xuân” lúc nào Xuân Diệu cũng là thanh niên với giọng yêu đời thắm thiết. Cụ thể là:

Lúc vui: đoạn 1 và đoạn 3 đều ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết (chứng minh qua bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống con người; qua sự cuồng nhiệt, hối hả, vội vàng của nhà thơ đến với cuộc sống để “ôm” cuộc sống ấy vào lòng mà tận hưởng).

Lúc buồn: đoạn 2: Ngay cả khi lo sợ thời gian trôi nhanh cướp mất tuổi xuân của mình, nhà thơ băn khoăn lo lắng, nhưng trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình bằng những câu thơ tha thiết với tuổi trẻ và mùa xuân như muốn níu kéo tuổi xuân ở mãi với mình.

Soạn Bài Vội Vàng Của Xuân Diệu

I.Gợi ý trả lời câu hỏi.

Câu 1. Cả bài thơ là một dòng cảm xúc hối hả, tuôn trào nhưng vẫn tuân theo một bố cục khá rõ ràng, chặt chẽ – Bài thơ có thể chia làm bốn đoạn:

-4 câu đầu: Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.

-Câu 5 – 13: Vui thích, say mê trước cảnh sắc mùa xuân.

-Câu 14 – 29: Băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời.

-Đoạn còn lại: Hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2. Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.

-“Tắt nắng”, “buộc gió” là quyền uy của Tạo Hóa. Cho dù Xuân Diệu là thi sĩ thì ông vẫn là con người làm sao có được khả năng vô hình đó. Chỉ vì quá yêu cuộc sống nên mới ước ao và nảy sinh ý tưởng táo bạo. Muốn níu giữ sắc hương, níu giữ mùa xuân cũng có nghĩa là muốn níu giữ thời gian cùng với vẻ đẹp cuộc sống cho mình, cho người. Cách biểu đạt mới lạ, độc đáo.

-Bốn dòng thơ, mỗi dòng năm chữ, ngắn, gấp. Nhịp thơ góp phần diễn tả sự khẩn trương muốn ngăn lại không cho màu nhạt, hương bay. Điệp kiểu câu “Tôi muốn … cho” càng làm nổi bật khát khao lưu giữ được sắ hương cuộc đời để mãi được cùng sống với nó.

Câu 3. Bức tranh mùa xuân ở độ “thời tươi” qua cảm nhận của một tâm hồn đang ở “thời trẻ”:

Của ông bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

-Hình ảnh thơ tập trung làm nổi bật vẻ tinh khôi, thanh tân, nõn nà, rực rỡ của mùa xuân (Muôn sắc hoa tươi thắm trên nền “xanh rì” đầy sức sống của đồng nội; cành tơ, lộc non mơn mởn, mượt mà…).

-Cảnh xuân không chỉ đẹp mà còn gợi tình (ong bướm “tuần tháng mật”, yến anh ca “khúc tình si”…)

-Cảnh sắc vốn quen thuộc nhưng bằng lỗi cảm nhận riêng, mới lạ, Xuân Diệu đã thổi vào thiên nhiên một tình yêu rạo rực khiến những hình ảnh vô tri vô bỗng sống dậy tràn ngập xuân tình. Câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mang dấu ấn thơ Xuân Diệu rất rõ. Trước hết là cách dùng từ chuyển đổi cảm giác quen thuộc của Xuân Diệu. Thi sĩ không thưởng thức mùa xuân bằng giác gian thông thường (nhìn, ngắm, lắng nghe) mà ông đang say sưa nhấm nháp hương vị của nó, cảm nhận được độ “ngon” mà mùa xuân đang dâng hiến. Mặt khác, ta còn thất ở câu thơ hấp dẫn, quyến rũ như hưởng thụ thiên nhiên rất Xuân Diệu. Mùa xuân hấp dẫn mà như đang thưởng thức “cặp môi” giai nhân. Quả là một cách ví von so sánh mới mẻ, táo bạo góp phần làm nổi bật niềm say mê cái đẹp trần thế đáng quý ở tác giả.

-Điệp ngữ “Này đây…” cùng với hàng loạt âm hình ảnh, màu sắc, âm thanh, Xuân Diệu đã liệt kê vẻ đẹp muôn màu của xuân, bày sẵn quanh ta, chẳng cần phải tìm kiếm. Chỉ cần có tâm hồn yêu thiết tha cuộc sống thì tha hồ nhìn ngắm, thưởng thức.

Câu 4. Đoạn 3 thể hiện cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu.

-Người xưa quan niệm thời gian tuần hoàn đi rồi trở lại như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông vì vậy họ thường ung dung, đủng đỉnh. Ở bài thơ này Xuân Diệu quan niệm thời gian tuyến tính. Thời gian được cảm nhận theo thước đo giá trị sống của con người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua mang theo một sự mất mát:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.

Có thể Xuân vẫn tuần hoàn nhưng mỗi lần nó “đang qua”, “sẽ già” là một lần mang theo nhiều cái đẹp đi mất.

-Nếu xuân là độ viên mãn nhất của thiên nhiên thì tuổi trẻ là độ căng tràn nhựa sống của một cuộc đời. Xuân tuần hoàn nhưng tuổi trẻ – màu xuân của cuộc đời, chẳng có hai lần. Thời gian, sẽ mang theo tuổi xuân của con người đi qua và vì vậy mà thi sĩ càng buồn hơn khi:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

Cách cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị sống của mỗi cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời đề vô cùng quý giá bởi vì khi đã trôi qua là mất vĩnh viện. Vì vậy con người phải biết quý từng giây phút của cuộc đời, phải sống có ý nghĩa. Đây là lí do nhà thơ sống vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh của thời gian.

Câu 5. Hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống: (Đoạn cuối bài thơ).

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn chiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng.

Cho no nên thanh sắc của thời tươi

-Hởi Xuân Hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

-Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn.

-Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: Điệp cú pháp: điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết… Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê…).

II.Luyện tập

1.Xuân Diệu đặt tên bài thơ là “Vội vàng”, bởi lẽ: Xuân Diệu yêu tha thiết cuộc sống, cuộc sống quanh ta rất đẹp nhưng tuổi trẻ qua nhanh, đời người ngắn ngủi, thời gian, không chờ đợi. Phải khẩn trương, hối hả đến với cuộc sống để tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời.

chúng tôi điểm nhân sinh của Xuân Diệu được thể hiện qua bài thơ có mặt tích cực: Yêu mùa xuân và tuổi trẻ – những cái đẹp nhất của cuộc sống, hãy sống hết mình sao hco mỗi khoảnh khắc của đời mình có ý nghĩa. Đó là quan điểm sống tích cực, có giá trị nhân văn sâu sắc.

Cảm Nhận Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Cảm nhận về bài thơ Vội vàng là nội dung thi quan trọng nằm trong phạm vi kiến thức thi THPT QG 2018 môn Ngữ văn, nhưng không ít các sĩ tử vẫn còn mơ hồ về dạng bài này.

Đề bài: Nêu cảm nhận về bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

1. MỞ BÀI

“Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám.

Tác phẩm được rút ra từ tập “Thơ thơ” (1938) – đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, nhưng ẩn sau là một quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống.

2. THÂN BÀI

2.1: Nội dung

Sống vội vàng chỉ là một cách nói, trong cốt lõi đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái tôi cá nhân trong thời hiện đại.

Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả.

2.1.1: Phát hiện mới của tác giả ” Cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất”. 

Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi!

Những lời tuyên bố đó có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, nhưng bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp. Vậy lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn lại dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa, đời là chốn bụi trần, đó là lý do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con người trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn.

Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lý hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại.

Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại, họ không ngần ngại lao vào đời.

Nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung, cũng chẳng phải là cái bể khổ đầy đọa con người mà là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ.

Tất cả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi ngay trong đời thực và trong tầm tay với. Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động.

Hơn thế, cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung: đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm, đây là hoa của đồng nội xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi.

Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi, thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng, mùa Xuân sao ngon như một cặp môi gần!

2.1.2: Nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân. 

Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo, bàng hoàng, thảng thốt.

Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp : “nghĩa là (3 lần/3 dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ.

Thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não :

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi đe dọa sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật.

Thế là từ đây, thời gian không còn là một đại lượng vô ảnh, vô hình nữa, người ta nhận ra nó trong hương vị đau xót của chia phôi, người ta phát hiện nó tựa một vết thương rớm máu trong tâm hồn:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người.

Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa : lòng người rộng” mà lượng trời chật, xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại.

Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người, sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.

2.1.3: Những giải pháp điều hòa mâu thuẫn, nghịch lý. 

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian, con người chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi là vội vàng.

Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất bằng một tốc độ thật lớn và một cường độ thật lớn.

Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tượng đặc biệt, bởi nó như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi,cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng, lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói, đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất.

Xuân Diệu từng tuyên ngôn : “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. Vội vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ, hiện đại.

Tuy chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhưng dù sao, trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh, “ép xác, diệt dục” là không còn phù hợp nữa, nó là lời cổ động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của cái tôi.

Tuy nhiên, lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hòa : không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

2.2: Về nghệ thuật

Bài thơ Vội vàng có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố : Trữ tình và chính luận. Trong đó, chính luận đóng vai trò chủ yếu.

Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian.

Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả, được trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý, mâu thuẫn đến giải pháp.

Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây, Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như : ôm” ( Ta muốn ôm ), riết (Ta muốn riết ),“say” ( Ta muốn say ), thâu ( Ta muốn thâu )…

Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng.

Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: “chếnh choáng, đã đầy, no nê…diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

3. KẾT BÀI

Lòng yêu tuổi xuân, mùa xuân, yêu cuộc sống, khao khát hòa nhập với thiên nhiên, với cuộc đời một cách say mê, cuồng nhiệt của Xuân Diệu. Là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu; hình ảnh, từ ngữ, cách diễn đạt táo bạo, mới lạ. Thể hiện hồn thơ Xuân Diệu: một tấm lòng tha thiết yêu cuộc đời, niềm khát khao giao cảm với đời mang đậm chất nhân văn.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!