Xu Hướng 12/2022 # Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 # Top 18 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nghị luận chứng minh ý kiến bàn về bài Việt Bắc- Ngữ văn 12

Gợi ý:

Mở bài : Đề tài kháng chiến là một đề tài quen thuộc trong thơ ca cách mạng VN trong đó bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10-1954 sau thắng lợi chiến dịch ĐBP lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Vì thế bài thơ vừa có ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa văn học sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: ” Bài thơ VB của TH là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”

Thân bài :

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.

2. Giải thích nhận định

Ý kiến nhận định về bài thơ hoàn toàn xác đáng, đã chạm đến thần thái của tư tưởng thơ TH. Bài thơ là một “khúc tình ca” đã khắc họa hết thảy mọi cung bậc tình cảm của tác giả hay nói đúng hơn là giữa kẻ ở – người đi, giữa nhân dân đồng bào VB với cán bộ cách mạng qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống gắn bó, mặn nồng nơi quê hương kháng chiến. Đồng thời, bài thơ cũng là “khúc hùng ca” ca khúc khải hoàn về cuộc chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta trong những ngày đêm ra trận tuy vất vả mà cũng rất đỗi hào hùng. Có thể nói, cả bài thơ VB là sự hòa quyện giữa khúc tình ca và khúc hùng ca, giữa chất trữ tình và chất hiện thực, giữa tính sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Chính sự hài hòa các yếu tố ấy đã tạo nên tuyệt tác của thi phẩm này.

3. Chứng minh nhận định

a. Trước hết, VB là khúc tình ca, ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại và con người kháng chiến. + Điều này được nhà thơ diễn tả bằng việc khắc họa miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên VB và con người kháng chiến đậm đà tình quân dân “cá – nước”. +Bức tranh thiên nhiên VB đã gợi tứ cho cảm hứng thơ TH bay xa, dội lại trong mảng ký ức tươi đẹp hiện về trong nỗi hoài niệm, ưu tư về một khung cảnh đẹp đến toàn diện toàn mĩ trong đêm trăng thanh. Đó là hình ảnh ” Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, là hình ảnh của ánh sương ban mai vào buổi sáng sớm mờ ảo quấn quýt bao phủ khắp bản làng. Để rồi mỗi sự vật địa danh được nhắc đến như một nét thân thương dội lại của thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, trữ tình: ” Ngòi thia, sông Đáy, suối Lê với đầy”. +Đặc biệt hơn, chất trữ tình lãng mạn cũng là khúc tình ca còn được viết lên trong một bản đàn thi ca mà mỗi nốt nhạc của mỗi mùa ( đông – xuân- hạ – thu) ở bức tranh tứ bình đều như đang vang lên bài ca đất nước: ” Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Bộ bức tranh tứ bình như được trạm, được khắc bằng bút pháp nghệ thuật chấm phá tả ít gợi nhiều. Hòa quyện trong bức tranh tứ bình ấy là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người đang giao hòa với nhau tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh. Vì thế có thể nói mỗi mùa đều là một bức tranh riêng độc đáo tạo nên cái đặc trưng riêng của núi rừng VB. Ta như chiêm nghiệm thấy một cái tôi TH đang ngả nghiêng, đang ngây ngất thả hồn đắm chìm trong nỗi nhớ hoài niệm của một bức tranh VB. Chính vì thế mà sự xáo trộn không tuân theo quy luật khách quan của vũ trụ ( xuân – hạ – thu – đông) đã phải những chỗ cho tâm trạng cảm xúc của thi nhân đang rung lên đồng điệu với bức tranh thiên nhiên đẹp. + Bên cạnh đó, hình dáng của con người trong bài thơ cũng được TH khắc họa hiện lên thật duyên dáng, yêu thương. TH không đi vào khắc họa vóc dáng bên ngoài của con người, của đồng bào nhân dân VB mà ông chỉ chú trọng vào diễn tả tâm tư tình cảm mà đồng bào nhân dân VB dành cho cách mạng, dành cho những người cán bộ, chiến sĩ kháng chiến. Đó là hình ảnh của sự đùm bọc yêu thương tuy thiếu thốn vất chất ( Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son) mà cũng đậm thật lãng mạn, cũng thật cảm động chan chứ niềm yêu thương : ” Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” + Trong cuộc kháng chiến ấy, tuy vất vả, trên chiến trường người chiến sĩ mạnh mẽ hiên ngang, cầm chắc tay sung tiêu diệt kẻ thù nhưng khi trở về, họ lại được chăm sóc, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân địa phương và trong hoàn cảnh ấy, TH cũng không quên nhắc đến bóng dáng của những tình yêu đôi lứa, tình yêu giữa những cô gái bản làng với anh vệ trọc, với chiến sĩ cụ Hồ: “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Hai chữ ” người thương” gói ghém biết bao tình yêu thương đong đầy, tình yêu ấy vừa là tình quân dân, vừa là tình yêu đôi lứa. + Chất trữ tình, khúc tình ca còn được thể hiện trong một bức tranh sinh hoạt đậm đà nơi kháng chiến gắn với những con người sẵn sang cùng kề vai sát cánh với chiến sĩ bộ đội trong cuộc kháng chiến một mất một còn với quân giặc: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ ao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Đó là những hình ảnh của bà mẹ vất vả vừa lo toan cho gia đình, vừa tăng gia sản xuất phục vụ cách mạng, đó là những âm thanh ” i tờ” vỡ nòng ngượng ngịu, đó là những tiếng chày nện cối giã gạo nuôi cách mạng và đó cũng là tiếng hát réo rắc ” ca vang núi đèo” ” đều đều suối xa” réo rắc ngân vang. Tất cả như hiện lên vừa là hiện thực lại vừa lãng mạn đan xen góp phần diễn tả cuộc sống nơi chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến nơi VB tuy vất vả gian nan nhưng cũng rất tự hào tình nghĩa. Như vậy, nhờ yêu tố lãng mạn bay bổng, TH đã tạo nên một bài thơ độc đáo mà mỗi sự vật thiên nhiên và con người được nhắc đến giống như một nốt nhạc trong khúc tình ca kháng chiến. Tất cả như tạo ra chất men say trong tâm hồn thơ Tố Hữu.

b. Việt Bắc là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Bên cạnh yếu tố trữ tình lãng mạn, bài thơ VB còn quyện hòa trong chất sử thi hùng tráng. Đó là khúc hùng ca kháng chiến mạnh mẽ tạo nên những trang thơ đậm đà tính dân tộc. Phản ánh hết thảy khi thế anh hùng của quân và dân ta trong những ngày cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi câu thơ vang lên như biểu tượng cho tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” được tạo nên bởi những người anh hùng dũng cảm. “Những đường VB của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan Dân công công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Ấy là khí thế của những con đường ra trận, những ngả đường kháng chiến đã được TH như trạm, như khắc hiện hình nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Dưới ánh trăng đêm, hình ảnh đoàn quân ra trận thật hào hùng, thật mạnh mẽ trải dài ra vô tận “điệp điệp trùng trùng” với một khí thế mang biểu tượng của tinh thần tự do, cho khát vọng độc lập. Vì thế hình ảnh “Bước chân nát đá” như tự nó đã mang sức nặng của tinh thần yêu nước. Như HCM đã nói: ” tinh thần yêu nước sẽ nhận chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Không có một thế lực nào có thể ngăn cản được bước đi của quân dân ta. Để khắc họa được cái khí thế ấy, TH đã dùng hàng loạt các động từ, từ láy giàu sức tạo hình và biểu cảm: ” rầm rập”, ” nát đá”, “điệp điệp trùng trùng” khiến cho hình ảnh ra trận hiện lên không hề bi thương mà ngược lại rất đỗi hào hùng, mạnh mẽ. Dưới mỗi bước chân quân ta đi đều mang trong mình lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ sáng soi, vì thế mới có hai chữ ” ánh sao đầu súng” như là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa, cho lẽ phải của công lý trước vó ngựa xâm lăng của kẻ xâm lược. Để phán ánh được cuộc chiến đấu mang biểu tượng của tinh thần tự do và khát vọng độc lập ấy, TH còn khắc họa như diễn tả những chiến lược, chiến thuật mà quân dân ta đã từng sử dụng: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Khí thế hào hùng được nhà thơ diễn tả bằng nhịp điệu thơ dồn dập, nhanh, gọn, lẹ. Bộ đội ta biết dựa cả vào những địa hình tự nhiên “núi đá” để ” ta cùng đánh Tây”, biến địa hình trận đồ giống như một mê cung, một bức tường thành vũng chắc “thành lũy sắt dày” mà bủa vây quân thù. Để làm được điều ấy là do quân dân ta đoàn kết một lòng cùng hướng về non song gấm vóc, cùng chung một lý tưởng chiến đấu vì nước quên thân. Cả đất nược như đang đứng lên mà dẹp tan mọi âm mưu xâm lược. Hình ảnh đất nước ấy đã được Nguyễn Đình Thi diễn tả qua ý thơ: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước VN từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” Để cuối cùng niềm vui chiến thắng đã đến, lan tỏa khắp nẻo đường đất Việt từ địa đầu cách mạng đến cuối dải hình đất nước rồi lại trở về Việt Bắc : “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bất sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên VB, đèo De, núi Hồng” Có thể nói đây là một “bản đồ vui” khi mà mỗi câu thơ đều xuất hiện từ “vui” liên tiếp. Mỗi câu thơ hiện lên như một nốt nhạc ngân vang réo rắc trong một khúc hùng ca cách mạng. Niềm vui ấy gắn liền với địa danh: Hòa Bình, Tây Bắc đến Đồng Tháp, AN Khê rồi lại quay trở về VB, đèo De, núi Hồng… Đoạn thơ mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Kết thúc bài thơ là cái nhìn của TH về hình ảnh ĐN ngày mai tươi sáng. Khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ và đồng thời nó giống như một lời thề nguyền thiêng liêng hướng tới đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của cội nguồn dân tộc: ” Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng lên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

Kết bài :

Bài thơ VB là một tác phẩm tuyệt tác viết về tình yêu đất nước, Sự thể hiện độc đáo trong nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, kết cấu đối đáp trong ca dao giao duyên cùng một ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian… tất cả đã góp phần đắc lực trong việc diễn tả tư tưởng tình cảm sâu đậm giữa kẻ ở – người đi, giữa cán bộ cách mạng về xuôi với đồng bào nhân dân VB, giữa núi rừng cội nguồn cách mạng với những người chiến sĩ cộng sản…VB vì thế vừa là khúc hùng ca có ý nghĩa biểu tượng ca ngợi tinh thần yêu nước quân dân đoàn kết một lòng lại vừa là khúc tình ca về cách mạng, về con người kháng chiến trong sự yêu thương, gắn bó chia sẻ ngọt bùi bên nhau. Tác phẩm xứng đáng trở thành bài ca bất hủ trong văn học dân tộc viết về đất nước.

Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023

Đề bài:  “ Bài thơ Việt Bắc  của Tố Hữu  là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”. Nghị luận chứng minh ý kiến bàn về bài Việt Bắc- Ngữ văn 12 Gợi ý: Mở bài : Đề tài kháng chiến là một đề tài quen thuộc trong thơ ca cách mạng VN trong đó bài thơ Việt Bắc của Tố  Hữu  là thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10-1954 sau thắng lợi chiến dịch ĐBP lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Vì thế bài thơ vừa có ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa văn học sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ VB của TH là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến” Thân bài :

Vài nét về tác giả tác phẩm:

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa. 2. Giải thích nhận định Ý kiến nhận định về bài thơ hoàn toàn xác đáng, đã chạm đến thần thái của tư tưởng thơ TH. Bài thơ là một “khúc tình ca” đã khắc họa hết thảy mọi cung bậc tình cảm của tác giả hay nói đúng hơn là giữa kẻ ở – người đi, giữa nhân dân đồng bào VB với cán bộ cách mạng qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống gắn bó, mặn nồng nơi quê hương kháng chiến. Đồng thời, bài thơ cũng là “khúc hùng ca” ca khúc khải hoàn về cuộc chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta trong những ngày đêm ra trận tuy vất vả mà cũng rất đỗi hào hùng. Có thể nói, cả bài thơ VB là sự hòa quyện giữa khúc tình ca và khúc hùng ca, giữa chất trữ tình và chất hiện thực, giữa tính sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Chính sự hài hòa các yếu tố ấy đã tạo nên tuyệt tác của thi phẩm này. 3. Chứng minh nhận định: a. Trước hết, VB là khúc tình ca, ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại và con người kháng chiến. + Điều này được nhà thơ diễn tả bằng việc khắc họa miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên VB và con người kháng chiến đậm đà tình quân dân “cá – nước”. +Bức tranh thiên nhiên VB đã gợi tứ cho cảm hứng thơ TH bay xa, dội lại trong mảng ký ức tươi đẹp hiện về trong nỗi hoài niệm, ưu tư về một khung cảnh đẹp đến toàn diện toàn mĩ trong đêm trăng thanh. Đó là hình ảnh “ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, là hình ảnh của ánh sương ban mai vào buổi sáng sớm mờ ảo quấn quýt bao phủ khắp bản làng. Để rồi mỗi sự vật địa danh được nhắc đến như một nét thân thương dội lại của thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, trữ tình: “ Ngòi thia, sông Đáy, suối Lê với đầy”. +Đặc biệt hơn, chất trữ tình lãng mạn cũng là khúc tình ca còn được viết lên trong một bản đàn thi ca mà mỗi nốt nhạc của mỗi mùa ( đông – xuân- hạ – thu) ở bức tranh tứ bình đều như đang vang lên bài ca đất nước: “ Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Bộ bức tranh tứ bình như được trạm, được khắc bằng bút pháp nghệ thuật chấm phá tả ít gợi nhiều. Hòa quyện trong bức tranh tứ bình ấy là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người đang giao hòa với nhau tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh. Vì thế có thể nói mỗi mùa đều là một bức tranh riêng độc đáo tạo nên cái đặc trưng riêng của núi rừng VB. Ta như chiêm nghiệm thấy một cái tôi TH đang ngả nghiêng, đang ngây ngất thả hồn đắm chìm trong nỗi nhớ hoài niệm của một bức tranh VB. Chính vì thế mà sự xáo trộn không tuân theo quy luật khách quan của vũ trụ ( xuân – hạ – thu – đông) đã phải những chỗ cho tâm trạng cảm xúc của thi nhân đang rung lên đồng điệu với bức tranh thiên nhiên đẹp. + Bên cạnh đó, hình dáng của con người trong bài thơ cũng được TH khắc họa hiện lên thật duyên dáng, yêu thương. TH không đi vào khắc họa vóc dáng bên ngoài của con người, của đồng bào nhân dân VB mà ông chỉ chú trọng vào diễn tả tâm tư tình cảm mà đồng bào nhân dân VB dành cho cách mạng, dành cho những người cán bộ, chiến sĩ kháng chiến. Đó là hình ảnh của sự đùm bọc yêu thương tuy thiếu thốn vất chất ( Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son) mà cũng đậm thật lãng mạn, cũng thật cảm động chan chứ niềm yêu thương : “ Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” + Trong cuộc kháng chiến ấy, tuy vất vả, trên chiến trường người chiến sĩ mạnh mẽ hiên ngang, cầm chắc tay sung tiêu diệt kẻ thù nhưng khi trở về, họ lại được chăm sóc, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân địa phương và trong hoàn cảnh ấy, TH cũng không quên nhắc đến bóng dáng của những tình yêu đôi lứa, tình yêu giữa những cô gái bản làng với anh vệ trọc, với chiến sĩ cụ Hồ: “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Hai chữ “ người thương” gói ghém biết bao tình yêu thương đong đầy, tình yêu ấy vừa là tình quân dân, vừa là tình yêu đôi lứa. + Chất trữ tình, khúc tình ca còn được thể hiện trong một bức tranh sinh hoạt đậm đà nơi kháng chiến gắn với những con người sẵn sang cùng kề vai sát cánh với chiến sĩ bộ đội trong cuộc kháng chiến một mất một còn với quân giặc: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ ao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Đó là những hình ảnh của bà mẹ vất vả vừa lo toan cho gia đình, vừa tăng gia sản xuất phục vụ cách mạng, đó là những âm thanh “ i tờ” vỡ nòng ngượng ngịu, đó là những tiếng chày nện cối giã gạo nuôi cách mạng và đó cũng là tiếng hát réo rắc “ ca vang núi đèo” “ đều đều suối xa” réo rắc ngân vang. Tất cả như hiện lên vừa là hiện thực lại vừa lãng mạn đan xen góp phần diễn tả cuộc sống nơi chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến nơi VB tuy vất vả gian nan nhưng cũng rất tự hào tình nghĩa. Như vậy, nhờ yêu tố lãng mạn bay bổng, TH đã tạo nên một bài thơ độc đáo mà mỗi sự vật thiên nhiên và con người được nhắc đến giống như một nốt nhạc trong khúc tình ca kháng chiến. Tất cả như tạo ra chất men say trong tâm hồn thơ Tố Hữu. b. Việt Bắc là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Bên cạnh yếu tố trữ tình lãng mạn, bài thơ VB còn quyện hòa trong chất sử thi hùng tráng. Đó là khúc hùng ca kháng chiến mạnh mẽ tạo nên những trang thơ đậm đà tính dân tộc. Phản ánh hết thảy khi thế anh hùng của quân và dân ta trong những ngày cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi câu thơ vang lên như biểu tượng cho tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” được tạo nên bởi những người anh hùng dũng cảm. “Những đường VB của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan Dân công công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Ấy là khí thế của những con đường ra trận, những ngả đường kháng chiến đã được TH như trạm, như khắc hiện hình nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Dưới ánh trăng đêm, hình ảnh đoàn quân ra trận thật hào hùng, thật mạnh mẽ trải dài ra vô tận “điệp điệp trùng trùng” với một khí thế mang biểu tượng của tinh thần tự do, cho khát vọng độc lập. Vì thế hình ảnh “Bước chân nát đá” như tự nó đã mang sức nặng của tinh thần yêu nước. Như HCM đã nói: “ tinh thần yêu nước sẽ nhận chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Không có một thế lực nào có thể ngăn cản được bước đi của quân dân ta. Để khắc họa được cái khí thế ấy, TH đã dùng hàng loạt các động từ, từ láy giàu sức tạo hình và biểu cảm: “ rầm rập”, “ nát đá”, “điệp điệp trùng trùng” khiến cho hình ảnh ra trận hiện lên không hề bi thương mà ngược lại rất đỗi hào hùng, mạnh mẽ. Dưới mỗi bước chân quân ta đi đều mang trong mình lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ sáng soi, vì thế mới có hai chữ “ ánh sao đầu súng” như là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa, cho lẽ phải của công lý trước vó ngựa xâm lăng của kẻ xâm lược. Để phán ánh được cuộc chiến đấu mang biểu tượng của tinh thần tự do và khát vọng độc lập ấy, TH còn khắc họa như diễn tả những chiến lược, chiến thuật mà quân dân ta đã từng sử dụng: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Khí thế hào hùng được nhà thơ diễn tả bằng nhịp điệu thơ dồn dập, nhanh, gọn, lẹ. Bộ đội ta biết dựa cả vào những địa hình tự nhiên “núi đá” để “ ta cùng đánh Tây”, biến địa hình trận đồ giống như một mê cung, một bức tường thành vũng chắc “thành lũy sắt dày” mà bủa vây quân thù. Để làm được điều ấy là do quân dân ta đoàn kết một lòng cùng hướng về non song gấm vóc, cùng chung một lý tưởng chiến đấu vì nước quên thân. Cả đất nược như đang đứng lên mà dẹp tan mọi âm mưu xâm lược. Hình ảnh đất nước ấy đã được Nguyễn Đình Thi diễn tả qua ý thơ: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước VN từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” Để cuối cùng niềm vui chiến thắng đã đến, lan tỏa khắp nẻo đường đất Việt từ địa đầu cách mạng đến cuối dải hình đất nước rồi lại trở về Việt Bắc : “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bất sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên VB, đèo De, núi Hồng” Có thể nói đây là một “bản đồ vui” khi mà mỗi câu thơ đều xuất hiện từ “vui” liên tiếp. Mỗi câu thơ hiện lên như một nốt nhạc ngân vang réo rắc trong một khúc hùng ca cách mạng. Niềm vui ấy gắn liền với địa danh: Hòa Bình, Tây Bắc đến Đồng Tháp, AN Khê rồi lại quay trở về VB, đèo De, núi Hồng… Đoạn thơ mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Kết thúc bài thơ là cái nhìn của TH về hình ảnh ĐN ngày mai tươi sáng. Khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ và đồng thời nó giống như một lời thề nguyền thiêng liêng hướng tới đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của cội nguồn dân tộc: “ Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng lên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” Kết bài : Bài thơ VB là một tác phẩm tuyệt tác viết về tình yêu đất nước, Sự thể hiện độc đáo trong nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát dân tộc, kết cấu đối đáp trong ca dao giao duyên cùng một ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian… tất cả đã góp phần đắc lực trong việc diễn tả tư tưởng tình cảm sâu đậm giữa kẻ ở – người đi, giữa cán bộ cách mạng về xuôi với đồng bào nhân dân VB, giữa núi rừng cội nguồn cách mạng với những người chiến sĩ cộng sản…VB vì thế vừa là khúc hùng ca có ý nghĩa biểu tượng ca ngợi tinh thần yêu nước quân dân đoàn kết một lòng lại vừa là khúc tình ca về cách mạng, về con người kháng chiến trong sự yêu thương, gắn bó chia sẻ ngọt bùi bên nhau. Tác phẩm xứng đáng trở thành bài ca bất hủ trong văn học dân tộc viết về đất nước. Bài viết sưu tầm

Bài Thơ Việt Bắc Vừa Là Khúc Tình Ca Ca Ngợi Nghĩa Tình Cách Mạng Son Sắt, Thủy Chung Vừa Là Bản Hùng Ca Tráng Lệ Về Một Việt Bắc Anh Hùng Trong Kháng Chiến / 2023

Bàn về bài thơ “Việt Bắc” có ý kiến cho rằng: “Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng son sắt, thủy chung”. Nhưng có ý kiến lại cho rằng: “Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là bản hùng ca tráng lệ về một “Việt Bắc”anh hùng trong kháng chiến”.

Qua việc học đoạn trích “Việt Bắc”, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về hai ý kiến trên?

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu và tiên phong cho nền thơ cách mạng Việt Nam. Thơ ông mang tiếng nói của dân tộc và sự nghiệp cách mạng với hình ảnh quê hương, con người và đất nước được ông đưa vào thơ ca vừa trữ tình, cũng vừa sâu sắc. Bài thơ Việt Bắc đực viết trong sự kiện Ủy ban kháng chiến rời chiến khu Việt bắc về Hà Nội. Với lời lẽ tâm tình, ngọt ngào, thắm thiết xem lẫn niềm tự hào lớn lao, bài thơ “Việt Bắc” vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng son sắt, thủy chung” vừa là “bản hùng ca tráng lệ về một “Việt Bắc” anh hùng trong kháng chiến”.

1. Giải thích ý kiến:

* Ý kiến thứ nhất: “Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng son sắt, thủy chung”:

– Ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, những con người kháng chiến (nhân dân và cán bộ cách mạng) anh hùng trong chiến đấu, căm thù giặc cao độ, có tinh thần đoàn kết.

– Thể hiện tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân nghĩa ân tình giữa nhân dân và cách mạng

* Ý kiến thứ hai: “Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là bản hùng ca tráng lệ về một “Việt Bắc”anh hùng trong kháng chiến”.

– Khẳng định vẻ đẹp về nghệ thuật thơ Tố Hữu: đậm đà tính tính dân tộc, thể hiện ở kết cấu đậm chất ca dao, thể thơ lục bát điêu luyện, ngọt ngào, ở việc sử dụng cặp đại từ “mình”, “ta”.

– Thể hiện niềm tự hào lớn lao về sức mạnh kháng chiến của dân tộc và niềm tin vững chắc ở tương lai.

2. Cảm nhận đoan thơ “Việt Bắc”:

– “Việt Bắc” là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng son sắt, thủy chung”:

+ Tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân tình thủy chung của đồng bào Việt Bắc (8 câu thơ đầu).

+ Thể hiện qua những kỉ niệm của tác giả về những năm tháng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ của đồng bào Việt Bắc (“Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”).

+ Ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc: cảnh đẹp, hài hòa từ đường nét, màu sắc, âm thanh; con người đẹp trong lối sống nghĩa tình ” Rừng xanh…trăng rọi hòa bình”

– “Việt Bắc” là bản hùng ca tráng lệ về một “Việt Bắc”anh hùng trong kháng chiến”.

+ Anh hùng trong chiến đấu: khung cảnh hùng tráng đậm chất sử thi, cảm hứng lãng mạn thể hiện qua giọng điệu dồn dập, âm hưởng hào hùng, những hoạt động sôi nổi… góp phần diễn tả sức mạnh và khí thế chiến đấu của cuộc kháng chiến (“Những đường Việt Bắc của ta…muôn tàn lửa bay”).

+ Sức mạnh bắt nguồn từ lòng căm thù trước tội ác của giặc “Nhớ khi giặc đến giặc lùng”, “…mối thù nặng vai”, từ tinh thần đoàn kết “Rừng cây núi đá, ta cùng đánh Tây”, “Đất trời ta cả chiến khu một lòng”.

+ Sức mạnh của đau thương biến thành hành động và lập được những chiến công vang dội “Tin vui chiến thắng trăm miền”.

+ Sức mạnh của niềm tin, lạc quan tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ; khẳng định Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến (“Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”)

– Việt Bắc thể hiện rõ nét tính dân tộc….

+ Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ, nương theo những câu hỏi, theo lối đối đáp của ca dao ta- mình để khơi gợi kỉ niệm về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

+ Sử dụng ngôn ngữ xưng hô “ta- mình” khá linh hoạt, hình thành một cuộc đối đáp thực sự, cũng là sự phân thân, tự vấn của người đi (cán bộ cách mạng) để đáp lại tấm chân tình sâu nặng của người ở lại (Đồng bào Việt Bắc), tạo nên cảnh tiễn biệt dùng dằng thương nhớ, tạo độ sâu về tư tưởng cho bài thơ.

+ Là những đánh giá về giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật độc đáo về bài thơ Việt Bắc – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.

+ Tác dụng: Nói lên được những vấn đề có ý nghĩa lớn lao của thời đại, khơi được đúng chỗ sâu thẳm nhất trong truyền thống ân tình thủy chung ngàn đời của dân tộc ta.

⇒ Đây là những ý kiến đánh giá đúng đắn về giá trị của bài thơ Việt Bắc, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thi phẩm. Đây là câu chuyện lớn, là một vấn đề tư tưởng được diễn đạt bằng một hình thức nghệ thuật dân tộc. Bài thơ vừa làm sống dậy những kỉ niệm ân nghĩa, ân tình của đời sống cách mạng và kháng chiến vừa là lời nhắc nhở về sự thủy chung của con người với con người và đối với quá khứ cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Việt Bắc là một bản trường ca về cuộc kháng chiến chống Pháp chông gai, gian khổ nhưng đầy tự hào, anh dũng. Ở đó còn là nỗi nhớ thương da diết khôn nguôi giữa những người cách mạng và Việt Bắc, tình cảm tha thiết, đậm sâu giữa quân và dân ta. Từng lời thơ còn thấm đượm tình yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào non sông gấm vóc.

Nói Về Ca Khúc Và Thơ Phổ Nhạc / 2023

Chi tiết

Phạm Duy Lượt xem: 11783

Vào năm 1970, nhà xuất bản BORDAS, Paris-Montreal cho ra đời một cuốn sách nhan đề LA LITTÉRATURE EN FRANCE DEPUIS 1945. Các tác giả là Jacques Bersani, Michel Autrand, Jacques Lecarme, Bruno Versier… đã cho rằng từ năm đó trở đi, Văn Học Pháp Quốc không phải chỉ là thơ, tiểu thuyết và kịch bản mà thôi. Vào thời đại này, trong văn học phải kể thêm truyện trinh thám, truyện bằng tranh và ca khúc.

Riêng về ca khúc, người ta nhận định rằng: sau thế chiến 2, vì sự góp mặt của các thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ như Jacques Prévert, Boris Vian, Joseph Kosma, Georges Brassens, Charles Trenet v.v… ca khúc (chanson) của nước Pháp phải đi vào văn học sử bởi vì nó đã không còn là một thứ nghệ thuật yếu kém (un art mineur) nữa rồi. Thơ Prévert được phổ thành ca khúc và rất thành công cho nên vào lúc đó triết gia Jean Paul Sartre làm lời ca cho bài La Rue Des Blancs Manteaux, nhà thơ Raymond Queneau soạn lời cho ca khúc Si Tu T’imagines. Georges Brassens thì đem thơ Victor Hugo, Paul Fort ra phổ nhạc. Léo Ferré phổ thơ Aragon và Hélène Martin phổ thơ Jean Genet… Trong sách, có nói rõ về chỗ đứng của ca khúc : En quelques années, la chanson est devenue intelligente, humoristique, sensible, satirique, enfin intéressante. La chanson a pénétré dans toutes les couches sociales. (…) Elle fait partie de notre vie quotidienne. Biên giới giữa ca khúc và thơ gần như không còn nữa. Nhạc còn làm cho thơ (hay lời ca cũng vậy) đi nhanh vào lòng người.

Bây giờ ta nói đến Văn Học Sử Việt Nam. Phần nhiều nó là những thi phẩm được hát lên như TRUYỆN KIỀU, LỤC VÂN TIÊN với lối kể Kiều và nói thơ Vân Tiên. Dân chúng thường biết đến văn chương thi ca qua hình thức ca ngâm cho nên tác phẩm thường có thêm chữ NGÂM hay chữ CA vào, ví dụ CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM KHÚC, GIA HUẤN CA. Còn HÁT Ả ÐÀO thì hoàn toàn là thơ của những thi sĩ lỗi lạc như Tú Xương, Nguyễn Khắc Hiếu v.v… Ta có thể nói văn học Việt Nam của thời trước là những ca khúc ngắn hay những ca khúc dài.

Trong Nhạc Sử Việt Nam, kể từ khi có Tân Nhạc để thay thế cho Cổ Nhạc, ca khúc dù là những đoản khúc hay những trường ca, dù sử dụng nhạc ngũ cung của dân tộc hay đi theo đường lối nhạc chủ âm của Âu Mỹ… ca khúc đều đã đóng một vai trò rất lớn. Nó có một chỗ ngồi rất vững trong lòng người, không phải là một mà tới ba, bốn thế hệ. Chẳng cần phải nghiên cứu kỹ càng, ta cũng thấy rằng trong 50 năm qua, nhạc điệu của ca khúc Việt Nam mỗi ngày một phong phú thêm, lời ca mỗi ngày một trí thức hơn, mỗi thời đại, mọi tình cảm đều được diễn dịch qua hàng ngàn ca khúc của hàng trăm tác giả, từ Lê Thương, Ðặng Thế Phong qua Văn Cao tới Trịnh Công Sơn… Và nếu thế hệ nhạc sĩ đương thời hay tương lai rất giỏi về nhạc lý, về nhạc thuật, chịu bỏ công ra để soạn phần hoà âm, phối khí mới mẻ cho những ca khúc cũ của các bậc cha chú thì nhạc Việt Nam chắc chắn sẽ không thua nhạc cổ điển hay tân thời của Âu Mỹ đâu ! Hơn nữa, vì hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của nước ta cho nên nhạc Việt còn có rất nhiều sự sống mà chưa chắc nhạc cổ điển hay nhạc tân kỳ của Âu Mỹ có thể có được.

Khởi sự là một người soạn ca khúc, rồi không hề có một mặc cảm nào cả, tôi cứ mãi mãi là người soạn ca khúc bởi vì sau khi đi học ở Pháp về và nhìn vào tình trạng sinh hoạt âm nhạc ở nước mình thì tôi thấy không thể đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điển Tây Phương được. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tiếp tục soạn ca khúc thì phải thăng hoa nó lên, nghĩa là phải làm sao cho cả hai phần nhạc và lời càng ngày càng tiến bộ. Nghĩa là vào lúc cuối đời, làm sao nhạc của mình có thể tiến dần tới cõi giao hưởng mà hình như mọi người đều coi là cái đỉnh của nghệ thuật âm thanh và làm sao cho lời ca của mình có thể được cho vào văn học sử.

1945Tiếng Thu(theo thơ Lưu Trọng Lư)

1947Thanh Niên Ca(theo thơ Ðào Duy Kỳ)

1952Tiếng Sáo Thiên Thai(theo thơ Thế Lữ)

1953Thuyền Viễn Xứ(theo thơ Huyền Chi)

1958Kiếp Nào Có Yêu Nhau(theo thơ Hoài Trinh)Tình Quê(theo thơ Hàn Mặc Tử)Hoa Rụng Ven Sông — Vần thơ Sầu Rụng — Thú Ðau Thương(theo thơ Lưu Trọng Lư)

1959Mùa Thu Paris — Kiếp Sau — Chiều Ðông — Về Ðây — Bên Ni Bên Nớ — Tiễn Em(theo thơ Cung Trầm Tưởng)

1960Nhạc Cảnh Mầu Tím Hoa Trinh Nữ(theo thơ Kiên Giang)

1961Ngậm Ngùi(theo thơ Huy Cận)

1962Mộ Khúc(theo thơ Xuân Diệu)Tâm Sự Gửi Về Ðâu(theo thơ Lê Minh Ngọc)Nhạc Cảnh Chức Nữ Về Trời — Nhạc Cảnh Tấm Cám(libretto của Năm Châu)Quán Bên Ðường(theo thơ Bình Nguyên Lộc)Mùa Xuân Yêu Em(theo thơ Ðỗ Qúy Toàn)

1966Nhân Danh(theo thơ Nguyễn Ðắc Xuân)Bi Hài Kịch(theo thơ Thái Luân)Ði Vào Quê Hương(theo thơ Hoa Ðất Nắng)

1968Kỷ Vật Cho Em(theo thơ Linh Phương)Khi Tôi Về(theo thơ Kim Tuấn)

1969Ðừng Bỏ Em Một Mình(theo thơ Hoài Trinh)Tỳ Bà(theo thơ Bích Khê)

1970Con Qùy Lạy Chúa Trên Trời(theo thơ Nhất Tuấn)Mùa Thu Chết(theo Apollinaire)Thu Ca Ðiệu Ru Ðơn(theo Verlaine)

1971MƯỜI BÀI ÐạO CAPháp Thân — Ðại Nguyện — Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng — Quán Thế Âm — Một Cành Mai — Lời Ru Bú Mớm Nâng Niu — Qua Suối Mây Hồng — Giọt Chuông Cam Lộ — Chắp Tay Hoa — Tâm Xuân(theo theo thơ Phạm Thiên Thư)Ngày Xưa Hoàng Thị — Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng — Em Lễ Chùa Này – Gọi Em Là Ðoá Hoa Sầu(theo thơ Phạm Thiên Thư)Huyền Thoại Trên Một Vùng Biển(theo thơ Thái Phương Thư tức Phạm Thiên Thư)Tình Khúc Trên Chiến Trường Tồi Tệ — Thầm Gọi Tên Nhau Trên Chiến Trường Tồi Tệ(theo thơ Ngô Ðình Vận)Thôi — Anh Yêu Em Vào Cõi Chết(theo thơ Nguyễn Long)Mười Hai Tháng Anh Ði — Chuyện Tình Buồn(theo thơ Phạm Văn Bình)Tưởng Như Còn Người Yêu(theo thơ Lê Thị Ý)Mầu Tím Hoa Sim(theo thơ Hữu Loan – sửa lại ca khúc đã soạn từ lâu)Nụ Hôn Ðầu(theo thơ Trần Dạ Từ)

1972Còn Chút Gì Ðể Nhớ(Vũ Hữu Ðịnh)Rừng U Minh Ta Không Thấy Em(Nguyễn Tiến Cung)CHIẾN CA MÙA HÈQua Cầu Ái Tử — Bên Giòng Thạch Hãn –Lời Dặn Dò — Suối Trăng Hờn — Ðêm Hội Máu — Một Tình Thương — Ðêm Hội Pháo — Bất Khuất — Ðưa Mẹ Về — Trị Thiên Yêu Dấu — Sữa Trắng Rừng Xanh — Mặc Niệm — Xin Tha Thứ(theo thơ Phạm Lê Phan)Khúc Lan Sầu(theo thơ Thanh Lan)Xin Tình Yêu Giáng Sinh(theo thơ Trụ Vũ)

1973Thà Là Giọt Mưa — Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ — Em Hiền Như Ma Soeur — Anh Vái Trời — Hãy Yêu Chàng — Hai Năm Tình Lận Ðận(theo thơ Nguyễn Tất Nhiên)

1975Ta Yêu Em Lầm Lỡ(theo thơ Ðào Văn Trương)

1978Thư Em Ðến(theo thơ Cao Tần)Mưa Rơi Ở Ca Li(theo thơ Nam Lộc)Những Mùa Ðông Dĩ Vãng(theo thơ Hà Huyền Chi)Biển Máu(theo thơ Diệu Văn)

1980Mây Trôi, Trôi Hết Một Ðời(theo thơ Nguyễn Xuân Quang)

NGỤC CATừ Vượn Lên Người — Ðảng Ðầy Tôi — Ngày 19 Tháng 5 — Xưa Lý Bạch — Những Thiếu Nhi Ðiển Hình Chế Ðộ — Tôi Có Thể –. Chuyện Vĩ Ðại Bi Ai — Thấy Ngay Thủ Phạm –Nước Ðổng Trác Ðiêu Thuyền — Sẽ Có Một Ngày — Ðôi Mắt Trưương Chi — Cái Lầm To Thế Kỷ — Vì Ấu Trĩ — Tia Chớp Này Vĩ Ðại — Ôi Mảnh Ðất Nửa Trên Hình Chữ S — Trong Bóng Ðêm — Ðất nước Tôi — Xin Hãy Giữ Mầu Trong Trắng — Biết Bao Giờ Lời thơ Của Tôi — Thời Ðại Hồ Chí Minh(theo thơ Nguyễn Chí Thiện)

1981Sương Khói Tây Nguyên(theo thơ Lâm Hảo Dũng)Người Tù Dũng Liệt(theo thơ Thái Tú Hạp)

1982Anh Ði Từ Ðộ Ấy — Bài Ca Dang Dở Cho Con — Trinh Nữ Biển Xanh(theo thơ Nguyễn Long)Mộ Khúc I — Mộ Khúc II — Mộ Khúc III — Mộ Khúc IV — Mộ Khúc V(theo thơ Ngô Xuân Hậu)Tôi Phải Chết Từ Năm Ngàn Năm Về trước(theo thơ Hà Huyền Chi)Mai Mốt Ông Về — Xa Em Anh Về(theo thơ Cao Tần)

1983Ðất Mẹ Và Ðôi Ta — Bài Ca Tình Ái — Cười Chung Một Nụ(theo thơ Trần Quan Thái)

1984Có Bao Giờ Em Hỏi — Em ! Anh Ðã tới Paris(theo thơ Duyên Anh)HOÀNG CẦM CATình Cầm — Lá Diêu Bông — Qua Vườn Ổi — Cỗ Bài Tam Cúc — Ðạp Lùi Tinh Tú — Trăm Năm Như Một Chiều(theo thơ Hoàng Cầm)Mầu Thời Gian(theo thơ Ðoàn Phú Tứ)Lời Mẹ Dặn(theo thơ Phùng Quán)

1985Bài thơ Xanh(theo thơ Vi Khuê)Thủy Mộ Quan(theo thơ Viên Linh)Vết Sâu(theo thơ Nguyên Sa)

1986Từ Dạo Ta Buồn(theo thơ Cung Vũ)Buồn Xưa — Sao Em Biết Thu Về — Tìm Người(theo thơ Hoàng Ngọc Ẩn)

1987Mơ Về Ðất Mẹ — Hãy Trả Về Em — Mộ Chiều Xuân(theo thơ Hoàng Ngọc Ẩn)Mười Năm Chuyện Tình Buồn(theo thơ Hà Huyền Chi)

1990Tình Như Biển Xanh Muôn Thuở — Một Khắc Bay Chơi(theo thơ Trần Văn Nam)

1993Tập HOA THÔNG THIÊN :Huyền Trân — Người Em Xứ Huế — Em Ðến Thăm Tôi — Tôi Ðưa Em Về — Thần Tượng — Si Mê– Sao Em Chẳng Nói — Mừng Cưới — Xin Làm Nhân Chứng — Hoa Thông Thiên — Em Tập Viết — Nếu Em Hỏi — Người Em Gái — Lỗi Hẹn(theo thơ Ðào Tiến Luyện)Ngựa Biển(theo thơ Hoàng Hưng)Tôi Yêu(theo thơ Bạch Vân)Tháng Mười Yêu Dấu(theo thơ Võ Hoàng Châu)Lời Vọng — Tháng Tư Không Quên(theo thơ Trần Thiện Hiệp)Buồn Xưa — Sao Em Biết Thu Về — Tìm Người — Xuân Chết — Nếu Ngày Mai Tôi Chết — Gửi Lại Em Yêu — Mãi Tiễn Ðưa — Hãy Trả Về Em — Mộ Chiều Xuân(theo thơ Hoàng Ngọc Ẩn)Ðá Soi Nhật Nguyệt — Ảo Giác — Lỗi Hẹn(theo thơ TháiThuyền Say — Lời Cuối(theo thơ Nguyễn Thị Thanh Bình)Còn Cát Bụi Tìm(theo thơ Ngô Tịnh Yên)

Trường Ca HÀN MẶC TỬTình Quê — Ðây Thôn Vỹ Dạ — Dalat Trăng Mờ — Trăng Sao Rớt Rụng — Hồn Là Ai — Trút Linh Hồn — Lạy Bà Là Ðấng Tinh Truyền Thánh Vẹn — Ôi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel — Phượng Trì Ôi Phượng Trì(theo thơ Hàn Mặc Tử)

1994Mặt Trời Buồn(theo thơ Mùi Qúy Bồng)Thu Man Mác(theo thơ VTT Paris)Mùa Xuân Hoa Thắm — Nhớ Con Sông Ðà(theo thơ Danielle)Ngàn Hôn Mộng(theo thơ Nguyễn T.)

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ “Chút Tình Đầu” Và Ca Khúc “Phượng Hồng” / 2023

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, Em chở mùa hè của tôi đi đâu, Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18, Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu.

Mối tình đầu của tôi Là cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp, Là áo ai bay trắng cả giấc mơ Là bài thơ còn hoài trong vở, Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.

Cánh phượng hồng ngẩn ngơ Mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây Và mùa sau biết có còn gặp lại Ngày khai trường áo lụa gió thu bay.

Mối tình đầu của tôi Nhờ cây đàn buông tiếng xa xôi, Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu, Nên có một gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.

Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại Nắng ngập đường một vạt tóc nào xa.

Bài hát Phượng Hồng được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ theo bài thơ Chút Tình Đầu của thi sĩ Đỗ Trung Quân. Bài thơ Chút Tình Đầu được nhà thơ Đỗ Trung Quân sáng tác năm 1984, còn bài hát được ra đời năm 1988. Ca khúc này đã làm nao nức bao thế hệ học trò từ xưa đến nay … đó khoảng thời gian mà chúng ta không thể nào quên được … nhất là mối tình đầu thời học sinh … Một điều bất ngờ là bài thơ vô cùng lãng mạn về mối tình đầu tuổi học trò này lại được nhà thơ lấy nguồn cảm hứng từ một hình ảnh rất đỗi đời thường.

Đó là vào một buổi sáng năm 1984, thi sĩ Đỗ Trung Quân đang ngồi uống cà phê ở quán ven đường thì nhìn thấy người ta đốn bỏ những cây phượng để đề phòng bất trắc trong mùa mưa. Một cô công nhân chạy xe đạp, một người đàn ông chạy xe mobylette cà tàng vội nhặt những cành phượng rơi dắt lên xe và cảm thấy như mình đang chở cả một mùa hạ… Hình ảnh ấy khiến Đỗ Trung Quân bật ra ngay những câu thơ đầy thi vị:

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng Em chở mùa hè của tôi đi đâu.

Và ý thơ cứ thế tuôn trào, thành bài thơ gợi kỷ niệm về tuổi học trò với chút tình đầu trong sáng với những kỷ niệm đẹp khó quên!

Bài Thơ Chút Tình Đầu :

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng Em chở mùa hè của tôi đi đâu? Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì? Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp Là áo người trắng cả giấc ngủ mê Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp Giữa giờ chơi mang đến lại… mang về.

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…

Mối tình đầu của tôi có gì? Chỉ một cây đàn nhỏ Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm Ai cũng cũng hiểu – chỉ một người không hiểu Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi… thành câm.

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng Em hái mùa hè trên cây Chở kỷ niệm về nhà Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

(Thơ Đỗ Trung Quân)

“Đó là câu chuyện có thật” – nhạc sĩ Vũ Hoàng bắt đầu câu chuyện về Phượng Hồng.

Mối tình đầu của tôi êm đềm như thơ và nàng thì thẹn thùng như cỏ trinh nữ. Chúng tôi học cùng lớp. Hồi còn đi học thì vui không kể xiết nhưng cứ hè đến tôi lại thấy buồn vô cùng. Các bạn đi đâu hết, nhà tôi ở gần trường, vì thế, lâu lâu tôi lại sang trường học, tay vẫn cắp cặp, trong cặp không đựng sách vở mà có một hộp bút màu, những trang giấy trắng còn thừa trong vở cũ tôi xé ra để làm giấy vẽ.

Sân trường mùa hè vắng ngắt, tôi ngắm nhìn những vệt nắng đơn côi, giống như mình, bóng đổ dài, và tôi nhớ nàng quay quắt. Tôi bước đến cửa lớp học của năm học tới, biết chắc hai đứa sẽ lại được cùng ngồi nơi này. Tôi lấy chiếc compa trong hộp bút, bắt đầu những nét khắc thật nắn nót tên của nàng cộng tên tôi, rồi vòng một hình trái tim. Tôi khắc tỉ mỉ và cảm thấy hạnh phúc như đang được thấy nàng bên cạnh.

Ngày khai giảng, nàng hớt hải tìm tôi: “Hoàng ơi, chết rồi, có đứa nào chơi xấu khắc tên mình và Hoàng ngay cửa lớp, làm sao bây giờ, bạn bè chọc chết, chắc mình phải nghỉ học”. Tôi hốt hoảng khi nghe nàng nói sẽ nghỉ học. Tôi vội vàng xua tay: “Bạn đừng lo, chắc là mấy đứa ghét mình nó làm đấy, để tui tìm cho ra. Để tui đi xóa ngay…”.

Năm 1984, trong một đêm sinh hoạt thơ nhạc tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, anh Đỗ Trung Quân lên đọc bài thơ mới sáng tác của mình. Bài thơ có tên Chút Tình Đầu.

Khi nghe đến câu “Cánh phượng hồng ngẩn ngơ / Mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây / Và ngày sau biết có còn gặp lại / Ngày khai trường áo lụa gió thu bay… ”. Tôi ngẩn ngơ vì nhớ nàng. Ngay tối hôm đó, tôi nói: “Quân ơi, chép cho mình bài Chút Tình Đầu của Quân đi”. Và Quân đã chép. [nhạc sĩ Vũ Hoàng và nhà thơ Đỗ Trung Quân suýt soát tuổi nhau – Đỗ Trung Quân sinh năm 1955, Vũ Hoàng sinh năm 1956.

Tôi đem bài thơ về, đọc đi đọc lại nhiều lần. Cho đến một hôm, trong giờ giảng bài tại trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (tôi dạy môn Lịch Sử Âm Nhạc và Ký Xướng Âm tại khoa Âm Nhạc của trường), đang chuẩn bị cho tiết dạy thứ hai, chợt một tia nắng hắt từ cành phượng đỏ vào lớp, bục giảng của tôi như phủ màu hồng làm ánh lên ký ức. Sau buổi dạy, tôi lặng lẽ về nhà, và bài hát Phượng Hồng ra đời.”

Sau khi sáng tác Phượng Hồng, nhạc sĩ Vũ Hoàng tìm nhà thơ Đỗ Trung Quân để cảm ơn. Mười năm sau, một hôm cả hai ngồi cùng nhau trong một chiều nắng nhạt ở quán cà phê. Nhạc sĩ và nhà thơ đồng điệu: “Chúng mình phải cảm ơn tất cả những ký ức đẹp của các bạn sinh viên, những tình cảm ấy đã nuôi dưỡng cho sức sống của bài hát đến tận bây giờ… “.

Phúc Ben Tổng Hợp (Trong bài có sử dụng tài liệu từ trang ATABOOK)

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Việt Bắc Là Khúc Tình Ca Và Cũng Là Khúc Hùng Ca Về Cuộc Kháng Chiến Và Con Người Kháng Chiến / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!