Xu Hướng 2/2023 # Bà Ra Bế Cháu Của Bà # Top 8 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bà Ra Bế Cháu Của Bà # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Bà Ra Bế Cháu Của Bà được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mẹ ra Hà Nội

Mẹ ra Hà Nội thăm con

Vừa trên tàu xuống chân còn run run

Áo nâu còn thẫm mưa phùn

Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non

Sang đường tay níu áo con

Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều

Khoác vai mẹ, chiếc đãy nghèo

Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay

Đưa em trốn ngục những ngày

Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao…

Đã từng mở giữa trời sao

Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo

Củ khoai bẻ nửa nắng chiều

Bờ mương thoai thoải dài theo công trường

Đưa con đánh Mỹ lên đường

Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà

Bà ra bế cháu của bà

Những mong cùng ước lòng già hôm mai

Lên thang chẳng dám bước dài

Vào khu tập thể gặp ai cũng chào

Lời bà ru thuộc thuở nào

Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa

Để hồn cháu có núi Nưa

Tiếng cồng bà Triệu ngày xưa vọng về

Lam Sơn rừng núi ba bề

Lũng Nhai vang mãi lời thề núi sông…

Mới xa đã nhớ ruộng đồng

Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu

Run run mẹ bước lên tàu

Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.

                               Tháng 1-1975

LÊ ĐÌNH CÁNH (Tuyển tập thơ Việt Nam giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Nxb Hội Nhà văn, 1999

QĐND – Một trong những truyền thống gia đình tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam là trách nhiệm, tình cảm của người mẹ, người bà đối với con, với cháu. Ðây là đề tài phong phú của thi ca chúng ta từ xưa đến nay. Lê Ðình Cánh là một trong những nhà thơ có nhiều bài viết thành công về mảng đề tài này, “Mẹ ra Hà Nội” là một ví dụ điển hình.

Nhà thơ Lê Ðình Cánh sinh năm 1941 tại Thọ Xuân, Thanh Hóa. Năm 1965, ông tốt nghiệp khoa Lý, Trường Đại học Sư phạm, tham gia mở đường Trường Sơn và dạy bổ túc văn hóa cho các chiến sĩ mở đường, vận tải. Từ năm 1969, ông về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam và Nhà xuất bản Thanh Niên. Ông có sở trường sáng tác theo các thể thơ truyền thống, nhất là thể thơ lục bát, ông coi đó là “thể thơ xương sống” của thơ Việt Nam.

Minh họa: Lê Hải.

Mặc dù trong dân gian có quan niệm “xuất giá tòng phu” (lấy chồng thì theo chồng), nhưng con gái cũng như con trai, khi sinh con thì chỗ dựa đầu tiên các bậc bố mẹ trẻ nghĩ tới là bà nội và bà ngoại. Ở nước ta, trong một giai đoạn khá dài chưa có khái niệm người giúp việc mà thường gọi là Ô-sin như ngày nay. Vậy nên những đôi vợ chồng trẻ khi sinh con là nghĩ ngay đến bà nội, bà ngoại. Có những bà mẹ nhiều con, nên quanh năm suốt tháng cứ di chuyển hết nơi này đến nơi nọ để trông cháu, đâu cần phân biệt nội ngoại, có khi lên tận miền núi hoặc hải đảo xa xôi. Bà mẹ trong bài thơ này từ vùng quê nông thôn Thanh Hóa ra trông cháu, không rõ là nội hay ngoại, ở thủ đô Hà Nội từ đầu năm 1975, trước ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng. Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh người mẹ run run từ tàu bước xuống được tác giả nhìn qua con mắt đầy thương cảm của người con (trai hoặc gái) ra đón mẹ tại sân ga. Đến sân ga, tức là đã vào thành phố, nhưng hình ảnh lam lũ của người mẹ nông thôn không hề thay đổi:

Áo nâu còn thẫm mưa phùn

Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non

Thì ra mẹ ra thăm con ở Hà Nội nhưng trang phục chẳng khác gì mấy so với khi đi làm đồng, vẫn là cánh áo nâu quen thuộc, lại thấm mưa phùn đầu năm nên trông sẫm màu hơn bình thường, hơn nữa chính tà áo nâu đó vẫn mang hơi bùn đất quê nhà. Từ quê ra phố, tất nhiên mẹ bỡ ngỡ vì người xe qua lại tấp nập, phải níu vào tay con mới qua đường được, không như ở quê nhà…

Hành trang của mẹ chỉ có cái đãy khoác vai. Với nhiều bạn trẻ, từ “đãy” có phần xa lạ. Ngày xưa, trước khi sinh ra ba lô và các loại túi du lịch… rất lâu, ở nước ta, nhất là ở các vùng nông thôn, “đãy” là thứ dùng để đựng hành lý, đồ đạc đi đường. Đó là một loại túi vải, thường là vải thô, nhuộm nâu chắc bền, chỉ có một quai để chủ nhân đeo vào một bên vai, không chỉ nông dân, mà ngay cả sĩ tử đi thi hay các ông đồ Nho đi xa dạy học cũng dùng… Trong bài thơ này, nhà thơ đã khéo léo nêu công dụng của chiếc đãy từ thời Pháp thuộc, qua thời kháng chiến đánh Pháp, những năm miền Bắc xây dựng hòa bình và thời kháng chiến chống Mỹ. Người đọc ai cũng hiểu được thế, nhưng tác giả chỉ dùng một hình ảnh tiêu biểu cho từng giai đoạn ấy: “đưa em trốn ngục”, “thăm thầy trong lao” – trước cách mạng; “nắm cơm tiếp vận”-thời kháng chiến chống Pháp, “Bờ mương thoai thoải dài theo công trường”-những năm hòa bình xây dựng miền Bắc và “đưa con đánh Mỹ lên đường”. Những chiếc đãy như chiếc đãy hôm nay mẹ mang ra Hà Nội thăm con đã góp công trong từng giai đoạn lịch sử ấy. Dùng vật để nói người vậy thôi, qua hình tượng những chiếc đãy này, bạn đọc hiểu được gia đình mẹ, một gia đình có công với cách mạng trước năm 1945, ông cụ thân sinh và người em từng bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Và chính người mẹ đã theo suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc cũng như lao động xây dựng miền Bắc những năm hòa bình. Đó là chuyện của quá khứ, còn hôm nay:

Bà ra bế cháu của bà

Những mong cùng ước lòng già hôm mai

Chuyện bà đi trông cháu không có gì là lạ, nhưng cách sinh hoạt, thói quen khác nhau giữa nông thôn và thành phố có khi làm người ta ngỡ ngàng. Hai câu thơ trong bài thơ này được bạn đọc tâm đắc nhất, nhớ nhất… và có nhiều người thuộc lòng, dù không biết xuất xứ của nó:

Lên thang chẳng dám bước dài

Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!

Thang ở đây là cầu thang của khu tập thể, chứ không phải thang máy. Nhân tiện xin cung cấp cho bạn đọc một số liệu: Trước năm 1975, toàn miền Bắc chưa có thang máy và ngôi nhà cao tầng nhất cũng chỉ đến năm tầng mà thôi! Ngay cái cầu thang ấy cũng đã làm bà mẹ ngỡ ngàng, chân bước rụt rè rồi, nhưng ý của câu thơ tập trung vào câu bát: “Vào khu tập thể gặp ai cũng chào”! Với thói quen nông dân, gặp nhau trên đường làng hay trên cánh đồng, dù quen hay lạ, bao giờ cũng chào hỏi, chỉ trừ khi đang giận dỗi nhau. Bà mẹ đã đem thói quen tốt đẹp đó ra thành phố, làm nhiều người ngạc nhiên! Trong bài thơ “Nhà quê”, Vương Trọng có hai câu nói về sự trớ trêu của người nông thôn ra phố: “Cả tin và biết nhịn nhường/ Thường sinh những chuyện ẩm ương theo về”, như tính đon đả chào hỏi của bà mẹ trong bài thơ này, có khi làm nhiều người thành phố khó chịu!

Kể ra, đến đây, bài thơ cũng đã nói được nhiều điều rồi, nhưng nhà thơ Lê Ðình Cánh còn triển khai thêm ý mới, đó là từ lời bà ru cháu, để giới thiệu thêm lịch sử mấy ngàn năm của Thanh Hóa, quê hương của nhà thơ và cũng là của bà mẹ trong bài thơ này:

Để hồn cháu có núi Nưa

Tiếng cồng bà Triệu ngày xưa vọng về

Lam Sơn rừng núi ba bề

Lũng Nhai vang mãi lời thề núi sông…

Vì thương cháu, muốn giúp con mà bà ra Hà Nội, nhưng ở quê nhà bà còn bao việc ruộng đồng chờ đợi, là chưa nói lòng bà nhớ làng xóm, nhiều lúc chỉ muốn về quê. Đó cũng là tâm trạng chung của nhiều bà mẹ đi theo con để trông cháu. Nhà thơ đã thông cảm với nỗi lòng của người bà, đã để cho bà trở về quê sau khi “hoàn thành nhiệm vụ” trông cháu ở thành phố và bà lại ra ga:

Run run mẹ lại lên tàu

Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà

Thế là một hành trình khép kín, không biết bà đã ở thành phố bao lâu, nhưng trang phục vẫn nâu sồng dân dã như ngày ra đi. Tôi tin rằng, khi viết hai câu thơ kết này, thế nào nhà thơ Lê Ðình Cánh cũng nhớ tới hai câu kết trong bài thơ “Chân quê” của Nguyễn Bính:

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Đó là đối với cô thôn nữ trước năm 1945, còn với bà già năm 1975 ra thành phố trông cháu thì thời gian không hề thay đổi được đức tính giản dị và trang phục chân quê.

Đọc “Mẹ ra Hà Nội”, những người con, người cháu xuất thân từ nông thôn hiện đang sinh sống ở thành phố thấy được hình ảnh của mẹ mình, bà mình… và lòng lắng lại vì thương cảm, nghĩ tới câu thành ngữ “nước mắt chảy xuôi” có tự bao đời. Thơ hay là vậy, có khi độc giả không còn nghĩ về thơ, mà nghĩ về tâm trạng và số phận của con người mà bài thơ đã đề cập. Với bài thơ này, nhà thơ Lê Ðình Cánh đã làm được điều đó! VƯƠNG TRỌNG

Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh​

Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc

Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi. Theo tiếng gọi của Tổ quốc anh đã tạm cất đi sách vở để lên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn cào, da diết của anh. Và những kỉ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước.Tình bà cháu Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc Nhà thơ Xuân Quỳnh đã có một bài thơ thật hay khi viết về đề tài giản dị mà gợi bao niềm xúc động này. Đó là bài thơ “Tiếng gà trưa”.

Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi. Theo tiếng gọi của Tổ quốc anh đã tạm cất đi sách vở để lên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn cào, da diết của anh. Và những kỉ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh của người chiến sĩ dừng chân nghỉ lại ở một xóm nhỏ bên đường khi đang hành quân và bất giác tiếng gà trưa vang lên làm sống dậy những kỉ niệm thuở ấu thơ:

Trên đường hành quân xa

Dừng chân bên xóm nhỏ

Tiếng gà ai nhảy ổ:

Cục, cục tác, cục ta

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ.

Chỉ từ một tiếng gà lanh lảnh bất chợt nghe được lúc đang dừng chân bên xóm nhỏ, giữa buổi trưa nóng nực của mùa hè đã gợi dậy cả một trời thương nhớ, đã làm thay đổi mọi vật xung quanh. Chỉ một tiếng gà trưa quen thuộc ấy thôi không những làm cho cái nắng hè xao động, bàn chân đỡ mỏi sau chuyến băng rừng, vượt biển hiểm trở, gian nguy, gợi dậy bao khát vọng tuổi thơ mà bên cạnh đó còn làm xao động lòng người. Bằng điệp từ “nghe” được nhắc lại nhiều lần đoạn thơ đã làm tăng lên gấp bội tình cảm nồng nàn đối với quê hương, điều đó thể hiện sự rung cảm vô bờ trong tâm hồn người chiến sĩ.

Tuổi thơ của người lính xa cũng xao động những tiếng gà đáng yêu đáng mến:

Tiếng gà trưa

Ổ rơm hồng những trứng

Này con gà mái mơ

Khắp mình hoa đốm trắng

Này con gà mái vàng

Lông óng như màu nắng…

“Ổ rơm hồng những trứng”,

Làm sao có thể quên được hình ảnh quen thuộc của “Ổ rơm hồng những trứng”, của mấy chị mái mơ, mái vàng khoác trên mình chiếc áo xinh xắn, rực rỡ, tươi đẹp. Làm sao có thế quên được hình ảnh người bà kính yêu đã một đời tần tảo, chắt chiu vì con vì cháu. Thương biết mây, hồn nhiên biết mấy cái cảnh đứa cháu nhìn trộm gà đẻ bị bà mắng: “Gà đẻ mà mày nhìn, rồi sau này lang mặt”. Bị bà mắng, cháu không khóc mà lại có những hành động thật đáng yêu: “Cháu về lấy gương soi, lòng dại thơ lo lắng”. Giờ đây, người cháu ước ao trở về thời thơ ấu đểl ại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy hình bóng bà khum tay soi trứng, chắt chiu, gìn giữ từng quả trứng hồng, những mầm hi vọng nhỏ để sẽ có được một đàn gà con đông đúc:

Cứ hàng năm hàng năm

Khi gió mùa đông đến

Bà lo đàn gà toi …

Để cuối năm bán gà

Cháu được quần áo mới.

Suốt một cuộc đời làm lụng vất vả, biết bao lo toan, khó nhọc, bà chẳng bao giờ nghĩ cho riêng bà, bởi đứa cháu đối với bà là tất cả. Bà lo cho đàn gà, mong nó không bị dịch bệnh đểmỗi mùa đông tới: Cháu được quần áo mới. Mong ước của đứa cháu được cái quần chéo go, cái áo cánh trúc bâu, còn mới hồ sột soạt và thơm mùi vải mới được nhân lên gấp bội trong lòng bà yêu thương cháu. Hạnh phúc gia đình giản dị, đầm ấm rất đỗi thiêng liêng với bao khát vọng tuổi thơ, dường như gói gọn cả trong tiếng gà trưa:

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.

Giờ đây, khi đã cầm chắc cây súng nơi biên cương nhưng hình ảnh ấn tượng ấy vẫn luôn luôn trĩu nặng trong tâm hồn, trong cả những ước mơ và hoài bão. Đối với người chiến sĩ, đó là quê hương, “tiếng gà trưa” là tất cả, là hạnh phúc, là muôn vàn yêu thương. Chính chúng đã thắp sáng tâm hồn anh bộ đội Cụ Hồ, đã nâng anh đến khung trời đẹp đẽ với ổ trứng hồng xinh xinh.

Cháu chiến đấu hôm nay

Vì lòng yêu Tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi cũng vì bà

Vì tiếng gà: “Cục tác”

Ổ trứng hồng tuổi thơ.

Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Trải qua sau bao nhiêu thử thách, giờ đây anh mong ước, những ước muốn thật bình dị. Chinh chiến nơi xa xôi, trái tim anh luôn hướng về với tiếng gọi quê hương, hằng mong có sức khỏe và nghị lực chiến đấu vì hạnh phúc em thơ, vì người bà yêu dấu, vì xóm giềng, hơn cả là vì tiếng gà gần gũi yêu thương. Điệp từ “vì” đã được sử dụng tài tình khiến mục đích chiến đấu đó lại càng trở nên cao cả, thiêng liêng hạ thường.

Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ nên rất linh hoạt trong việc giúp nhân vật trữ tình chia sẻ những tâm sự, suy nghĩ về tuổi thơ, về người bà yêu dấu. Đặc biệt, câu thơ ba tiếng “Tiếng gà trưa” được lặp đi lặp lại nhiều lần như mô phóng tiếng gà “Ò Ó O” như điệp khúc bất tử, cảm động về tuổi thơ say mê đầy thương mến.

Nhà văn I-li-a-Ê-ren-bua thật sáng suốt khi đúc kết nên thành ngữ: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Với người chiến sĩ trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh, tình yêu bà, nỗi nhớ tuổi thơ đã khơi nguồn cho tình yêu đất nước thiêng liêng, sâu lắng.

Tiếng gà trưa không chỉ là âm thanh quen thuộc từ đời sống của mỗi làng quê mà còn là âm vang của kỉ niệm, những hồi ức đẹp. Hình ảnh người bà trong bài thơ khiến cảm xúc trong người tôi dâng trào, nhớ tới người bà đã khuất của mình. “Tiếng gà trưa thực là một bài thơ hay!” về tình bà cháu

Sưu tầm

Giáo Án Tập Đọc 2 Tuần 11 Tiết 1: Bà Cháu

– Đọc: HS đọc trơn được cả bài

– Đọc đúng các từ ngữ: Làng, nuôi nhau, giàu sang, sung sướng, màu nhiệm, lúc nào, ra lá

– Nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm từ.

– Nhấn giọng ở các từ ngữ: vất vả, lúc nào cũng đầm ấm, nảy mầm, ra lá, đơm hoa, kết bao nhiêu lá, không thay được, buồn bã, móm mém, hiền từ, hiếu thảo.

– Phân biệt giọng khi đọc lời các nhân vật .

+ Giọng người dẫn chuyện : thong thả, chậm rãi.

+ Giọng bà tiên: trầm ấm, hiền từ

+ Giọng hai anh em: cảm động, tha thiết

Thứ hai ngày 15 tháng 11 năm 2004 TẬP ĐỌC BÀ CHÁU ( tiết 1) I. MỤC TIÊU Kiến thức: Đọc: HS đọc trơn được cả bài Đọc đúng các từ ngữ: Làng, nuôi nhau, giàu sang, sung sướng, màu nhiệm, lúc nào, ra lá Nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm từ. Nhấn giọng ở các từ ngữ: vất vả, lúc nào cũng đầm ấm, nảy mầm, ra lá, đơm hoa, kết bao nhiêu lá, không thay được, buồn bã, móm mém, hiền từ, hiếu thảo. Phân biệt giọng khi đọc lời các nhân vật . + Giọng người dẫn chuyện : thong thả, chậm rãi. + Giọng bà tiên: trầm ấm, hiền từ + Giọng hai anh em: cảm động, tha thiết Kỹ năng: Hiểu các từ ngữ trong bài: đầm ấm, màu nhiệm Hiểu nội dung của bài: Câu chuyện cho ta thấy tình cảm gắn bó sâu sắc giữa bà và cháu. Qua đó, cho ta thấy tình cảm quý giá hơn vàng bạc. Thái độ: Yêu thích ngôn ngữ Tiếng Việt. II. CHUẨN BỊ HS: SGK III. CÁC HOẠT ĐỘNG Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò 1. Khởi động (1') 2. Bài cũ (3') Gọi HS đọc bài Thương ông. - Bé Việt đã làm gì để giúp và an ủi ông? Tìm những câu thơ cho thấy nhờ bé Việt mà ông hết đau - Chân ông đau như thế nào? - Qua bài tập đọc con học tập được từ bạn Việt đức tính gì? Nhận xét, cho điểm từng HS 3. Giới thiệu: (1') Treo bức tranh và hỏi: Bức tranh vẽ cảnh ở đâu? Trong bức tranh nét mặt của các nhân vật ntn? - Tình cảm con người thật kì lạ. Tuy sống trong nghèo nàn mà ba bà cháu vẫn sung sướng. Câu chuyện ra sao chúng mình cùng học bài tập đọc Bà cháu để biết điều đó. Ghi tên bài lên bảng. 4.Phát triển các hoạt động (27') v Hoạt động 1: Luyện đọc đoạn 1 , 2 +MT : Đọc đúng từ khó(âm s). Nghỉ hơi đúng trong câu. Đọc phân biệt lời kể và lời nói. Hiểu nghĩa từ khó ở đoạn 1, 2. +PP : Giảng giải, thực hành Đọc mẫu GV đọc mẫu lần 1, chú ý giọng to, rõ ràng, thong thả và phân biệt giọng của các nhân vật. Yêu cầu 1 HS khá đọc đoạn 1, 2 Hướng dẫn phát âm từ khó, từ dễ lẫn Ghi các từ ngữ cần luyện đọc lên bảng Luyện đọc câu dài, khó ngắt Dùng bảng phụ để giới thiệu câu cần luyện ngắt giọng và nhấn giọng. Yêu cầu 3 đến 5 HS đọc cá nhân, cả lớp đọc đồng thanh Yêu cầu HS đọc từng câu. Đọc cả đoạn Yêu cầu HS đọc theo đoạn Chia nhóm HS luyện đọc trong nhóm Thi đọc Tổ chức thi đọc giữa các nhóm Nhận xét, cho điểm Đọc đồng thanh v Hoạt động 2: Tìm hiểu đoạn 1, 2 +MT : Hiểu nội dung đoạn 1, 2. Qua đó giáo dục tình bà cháu. +PP : Trực quan, đàm thoại. Hỏi: Gia đình em bé có những ai? Trước khi gặp cô tiên cuộc sống của ba bà cháu ra sao? Tuy sống vất vả nhưng không khí trong gia đình như thế nào? Cô tiên cho hai anh em vật gì? Cô tiên dặn hai anh em điều gì? Những chi tiết nào cho thấy cây đào phát triển rất nhanh? Cây đào này có gì đặc biệt? GV chuyển ý: Cây đào lạ ấy sẽ mang đến điều gì? Cuộc sống của hai anh em ra sao? Chúng ta cùng học tiếp. 5. Củng cố - Dặn dò (3') Nhận xét tiết học. Chuẩn bị: Tiết 2. - Hát - 2 HS mỗi HS đọc 2 khổ thơ và trả lời các câu hỏi - 2 HS đọc thuộc lòng cả bài thơ và trả lời câu hỏi Quan sát và trả lời câu hỏi. - Làng quê - Rất sung sướng và hạnh phúc - Hoạt động lớp, cá nhân. - HS theo dõi SGK, đọc thầm theo, sau đó HS đọc phần chú giải. - Đọc, HS theo dõi - 3 đến 5 HS đọc, cả lớp đọc đồng thanh các từ ngữ: làng, nuôi nhau, lúc nào, sung sướng. - Luyện đọc các câu: + Ba bà cháu / rau cháo nuôi nhau, / tuy vất vả / nhưng cảnh nhà / lúc nào cũng đầm ấm ./ + Hạt đào vừa reo xuống đã nảy mầm,/ ra lá, / đơm hoa,/ kết bao nhiêu là trái vàng, trái bạc./ - Nối tiếp nhau đọc từng câu, đọc từ đầu cho đến hết bài. - Nối tiếp nhau đọc các đoạn 1, 2 - Nhận xét bạn đọc - Đọc theo nhóm. Lần lượt từng HS đọc, các em còn lại nghe bổ sung, chỉnh sửa cho nhau. - Thi đọc - Hoạt động lớp. - Bà và hai anh em - Sống rất nghèo khổ / sống khổ cực, rau cháu nuôi nhau. - Rất đầm ấm và hạnh phúc. - Một hạt đào - Khi bà mất, gieo hạt đào lên mộ bà, các cháu sẽ được giàu sang sung sướng - Vừa gieo xuống, hạt đào nảy mầm, ra lá, đơm hoa, kết bao nhiêu là trái. - Kết toàn trái vàng, trái bạc. v Rút kinh nghiệm:

Nêu Cảm Nghĩ Về Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt

Phân tích đề

Đây là bốn dạng đề mở. Vì vậy, học sinh có thể trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt. Học sinh có thể trình bày bài làm của mình dưới nhiều cách, song cần đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản bên dưới.

Gợi ý viết bài

I. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả Bằng Việt (thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ Bằng Việt hấp dẫn người đọc bởi sự trong trẻo, mượt mà và chiều sâu triết lí).

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Bếp lửa và nội dung chủ yếu.

Tình bà cháu thắm thiết, cảm động được khơi gợi qua hình ảnh bếp lửa.

– Hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm / Một bếp lửa ấp iu nồng đượm khơi gợi kỉ niệm thời thơ ấu bên người bà. Bếp lửa hiện lên trong kí ức như tình bà ấm áp, như sự đùm bọc của bà.

– Những suy ngẫm về người bà: đó là những suy ngẫm về cuộc đời nhiều gian khổ nhưng giàu hi sinh, tần tảo của người bà. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng trong mỗi gia đình: Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ / Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm / Nhóm bếp lửa ấp ui nồng đượm… Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, của niềm tin cho các thế hệ sau: Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen / Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn / Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

– Đứa cháu dù đi xa, vẫn không thể quên bếp lửa của bà, không quên tấm lòng thương yêu đùm bọc của bà. Bếp lửa ấy đã trở thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin, nâng bước cháu trên chặng đường dài. Kì diệu hơn, người cháu nhờ hiểu và yêu bà mà thêm hiểu nhân dân, dân tộc mình. Bếp lửa và bà đã trở thành biểu tượng cho hình ảnh quê hương xứ xở.

– Bài thơ khiến người đọc xúc động bởi tình cảm bà cháu chân thành, thắm thiết. Nhà thơ đã khéo sử dụng hình ảnh bếp lửa. Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, có giá trị thẩm mĩ cao: vừa cụ thể, chân thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng, góp phần thể hiện chiều sâu triết lí của bài thơ.

– Tình cảm yêu quý, biết ơn của người cháu đối với bà trong bài thơ chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương, điểm khởi đầu của tình yêu đất nước.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bà Ra Bế Cháu Của Bà trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!