Xu Hướng 2/2024 # Anh Chị Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Thứ 2 Trong Bài Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Anh Chị Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Thứ 2 Trong Bài Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Quang Dũng là nhà thơ có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, tài hoa và lãng mạn và ông đã đem hồn thơ ấy khi viết về người lính Tây Tiến. Đoạn thơ thứ 2 trong bài nổi bật lên hình tượng người lính Tây Tiến hào hoa, lãng mạn với những kỷ niệm đẹp về tình quân dân cá nước trong những buổi liên hoan văn nghệ ở vùng sông nước miền Tây thơ mộng qua kí ức nhà thơ Quang Dũng.

Trong đoạn thơ thứ hai này, thiên nhiên và con người miền Tây là một thế giới hoàn toàn khác với đoạn thơ đầu. Đó là một cảnh sắc mềm mại, uyển chuyển, tinh tế, đầy chất thơ, chất nhạc và hào hoa lãng mạn của nhà thơ Quang Dũng:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đó là những kỷ niệm đẹp về tình quân dân trong những đêm liên hoan văn nghệ của người chiến sĩ Tây Tiến. Quang Dũng đã vẽ lên những nét vẽ khỏe khoắn và đầy mê say dẫn người đọc vào một đêm liên hoan văn nghệ đầy hấp dẫn. Ấy là đêm liên hoan văn nghệ hiếm hoi giữ người lính Tây Tiến và nhân dân địa phương vừa mơ vừa thực mà đầy vui tươi, sống động.

Trong ánh đuốc lung linh, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn và những thiếu nữ Thái rực rỡ trong bộ trang phục lạ với dáng điệu e ấp, tình tứ trong vũ điệu đậm màu sắc dân tộc đã hút hồn người chiến sĩ. Cảnh vật và con người như ngây ngất, bốc men say rạo rực vì vui sướng khi được sống trong những giây phút bình yên hiếm hoi.

Trong đoạn thơ thứ hai này, dư âm của chiến tranh bị đẩy lùi ra xa chỉ còn những tâm hồn hào hoa, lãng mạn trong tiếng nhạc và hồn thơ dưới ánh lửa bập bùng, hân hoan như ngày hội. Thực sự, đây là những khoảnh khắc hiếm hoi trong thời chiến, bởi ngày mai các anh lại bước vào những trận chiến khói lửa, có thể một đi không trở về…

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Vậy là sau những ngày được giao lưu với bà con địa phương, các chiến sĩ Tây Tiến lại phải ra đi. Cảnh sắc thiên nhiên và con người miền đất trữ tình và thơ mộng ấy đã để lại trong tâm hồn người chiến sĩ thật nhiều ký ức khó phai.

Cảnh sắc Tây Tiến thơ mộng như tranh được Quang Dũng diễn tả qua các chi tiết: chiều sương giăng mắc mênh mang, dòng sông trôi lững lờ đậm màu cổ tích, dáng người mềm mại lướt trên con thuyền độc mộc, hoa đôi bờ đong đưa như tiễn biệt người đi.

Quang Dũng không tả mà gợi cảnh thiên nhiên hoang sơ phảng phất trong gió trong cây như tâm hồn con người. Dường như “Hồn lau” trong thơ Quang Dũng cũng chính là hồn lau của sự li biệt, phảng phất nỗi buồn nhưng không hề xao xác, lãng quên mà đầy nhớ thương, lưu luyến. Chính tình yêu với thiên nhiên, với cảnh sắc Tây Tiến đã khiến cho cuộc sống gian khổ của người chiến sĩ trở nên thi vị hơn.

Trong đoạn thơ đầy chất nhạc này, nhạc điệu như cất lên từ tâm hồn ngây ngất, mê say của cái tôi trữ tình giàu cảm xúc. Chính cảm xúc lãng mạn Quang Dũng đã đưa người đọc trở về cái hoài niệm, được sống lại giây phút bình yên hiếm có trong những năm tháng chiến tranh. Nhà thơ đã đưa người đọc vào thế giới của cái đẹp, của cõi mộng mơ, của âm nhạc du dương. Đoạn thơ hội tụ chất nhạc, chất thơ, chất họa thấm đẫm đến mức khó tách biệt.

Phân Tích Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

(Bài làm của học sinh Lưu Lan Anh, THPT Xuân Mai)

Đề bài: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Quang Dũng được biết đến là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc nhưng người ta vẫn nhớ đến một Quang Dũng – nhà thơ. Thơ ông phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, đặc biệt khi viết về đồng đội của mình – những người lính Tây Tiến. Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, trong đó Quang Dũng là đại đội trưởng với thành phần chủ yếu là học sinh, sinh viên Hà Nội, nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào. Nhưng đến năm 1948, sau khi rời xa đồng đội do nhiệm vụ công tác, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ da diết về đồng đội xưa và viết lên bài thơ Tây Tiến. Đoạn thơ chúng ta đang phân tích nằm ở đoạn thứ ba, tái hiện những vẻ đẹp chân dung của đoàn binh Tây Tiến.

Trước tiên, hình tượng người lính Tây Tiến trong cuộc sống chiến đấu được khắc họa qua bốn dòng thơ đầu:

Vẻ đẹp dễ nhận thấy của người lính Tây Tiến là vẻ hào hùng, rắn rỏi, kiêu dũng. Với số lượng đông đảo “đoàn binh”, những người lính ngang tàng, dí dỏm trong cách nói chủ động “không mọc tóc”. Đó có thể là xuất phát từ thực tế thích nghi với điều kiện sinh hoạt và kháng chiến và đánh giáp lá cà hoặc do bệnh tật sốt rét rừng lảm rụng tóc, thành những anh “vệ trọc”. Nhưng lời thơ lại lạc quan, tinh nghịch đầy chất lính như bông đùa: không cần mọc tóc. Cũng vậy, hình ảnh quân xanh từ màu nước da xanh xao, gầy ốm vì sốt rét không thuốc thang, không được nghỉ ngơi lại được ví với “dữ oai hùm” mạnh mẽ, dữ dằn, quắc thước của những con người làm chủ núi rừng và làm chủ mọi hoàn cảnh. Thực tế ta cũng từng gặp những vần thơ miêu tả sự khốn khó của bệnh tật mà người lính chống Pháp gặp phải:

Như vậy, Quang Dũng không né tránh hiện thực khắc nghiệt nhưng không tác giả không chú trọng vào hậu quả của sự gian khổ mà lại đi ca ngợi vẻ đẹp như mãnh hổ ngự trị chốn rừng xanh. Điều này làm nổi bật vẻ đẹp ý chí người lính tuy ốm mà không yếu.

Bên cạnh vẻ đẹp hào hùng về chân dung, người lính Tây Tiến còn mang trong mình một tâm hồn hào hoa, lãng mạn. Đôi mắt là tâm điểm của vẻ đẹp tâm hồn ấy; “mắt trừng” là mắt nhìn thẳng, mở to đầy tâm trạng. Đôi mắt ấy khao khát lập chiến công, mài sắc ý chí chiến đấu với kẻ thù. Đôi mắt ấy còn mơ về Hà Nội với dáng kiều thơm. Mơ về Hà Nội là mơ về những con đường nồng nàn hoa sữa, những trường xưa lớp cũ nơi họ đã gắn bó. Nhớ về dáng kiều thơm là nhớ về các thiếu nữ Hà Thành thanh lịch, yêu kiều. Những vần thơ một thời bị quy kết là mộng rớt tiểu tư sản ấy thực ra lại da diết niềm động viên từ hậu phương, là nguồn động lực để người lính chiến đấu, chiến thắng và trở về.

Bốn dòng thơ cuối tiếp tục tái hiện vẻ đẹp bi tráng của Tây Tiến khi hy sinh:

“Mồ viễn xứ”, “về đất” đều là những từ ngữ thể hiện sự hy sinh, qua đó tác giả đề cập đến những mất mát hy sinh của chiến tranh, tuy vậy ông vẫn dùng lối nói giảm, nói tránh. Sự hy sinh ấy đẹp ngạo nghễ bởi họ mang trong mình lý tưởng chiến đấu tuyệt đẹp. Đem sức trẻ, tuổi thanh xuân “đời xanh” của mình xông pha vào bom đạn, hiểm nguy của chiến trường với tinh thần sôi nổi, tự nguyện ” chẳng tiếc“. Có lẽ bởi thế mà Quang Dũng đã miêu tả sự hy sinh của họ bằng những từ ngữ giàu sức biểu đạt. Tuy nằm xuống thiếu cả manh chiếu che thân, nhưng Quang Dũng đã khoác lên cho học tấm áo bào đầy kiêu hãnh vốn chỉ dành cho những anh hùng xả thân mình vì đất nước. “Về đất” là các anh được đón nhận, yêu thương trong lòng Tổ quốc. Sự ra đi của người lính là nỗi đau lớn với dân tộc. Hình ảnh sông Mã gầm lên đã diễn tả trọn vẹn trạng thái bi phẫn, dữ dội, mạnh mẽ, xót xa xen lẫn cảm phục tinh thần Tây Tiến. “Khúc độc hành” là tiếng nhạc thiêng, bản tráng ca đưa tiễn những người lính ấy.

Đã hơn sáu mươi mùa xuân đi qua thế nhưng những vẻ đẹp về người lính Tây Tiến dường như không hề phai nhòa theo năm tháng mà nó vẫn còn mãi trong trái tim mỗi chúng ta. Dưới ngòi bút tinh tế của mình, Quang Dũng đã dựng lên bức tượng đài vô danh về người lính Tây Tiến mà ông ngày đêm thương nhớ. Và từ đó, Quang Dũng như muốn nhắn gửi tới thế hệ trẻ tương lai hãy lấy đó làm tấm gương để cố gắng học tập và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

Phân Tích Đoạn Thơ 2 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

(Bài làm của học sinh Lưu Thị Thanh Lịch, THPT Xuân Mai)

Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

Với hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa, Quang Dũng đã cho ra đời tác phẩm Tây Tiến năm 1948. Là một nghệ sĩ đa tài, bài thơ Tây Tiến được ông phát huy khả năng hội họa, soạn nhạ, điện ảnh. Vì thế mà bài thơ có sức cuốn hút vô cùng mạnh mẽ đối với người đọc. Phải chia tay binh đoàn Tây Tiến do nhiệm vụ công tác, Quang Dũng nhớ lại những kỷ niệm về binh đoàn tại nơi dừng chân là miền Tây ở đoạn thơ thứ hai:

Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào. Hoạt động cùng binh đoàn gần hai năm, cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác; vì thế cảm xúc chủ đạo toàn bài thơ là nỗi nhớ da diết. Ông nhớ về chốn dừng chân tại miền Tây với những kỷ niệm ngọt ngào thắm thiết ân tình. Tại “doanh trại” nơi đóng quân của binh đoàn đang diễn ra hội đuốc hoa.

Với động từ “bừng lên”, tác giả nhấn mạnh ánh sáng đột ngột xuất hiện trong không gian đêm hội. Đó là ánh sáng của những ngọn đuốc bập bùng trong không khí rộn ràng. Đó cũng có thể là ánh sáng kì diệu hân hoan trong ánh mắt, trong tâm hồn của những người lính Tây Tiến; là thứ ánh sáng rực rỡ, tình tứ, mang đầy yêu thương, ấm áp tình dân quân.

Như một tiếng reo vui ngỡ ngàng, trìu mến khi các cô gái vùng cao xuất hiện trong trang phục truyền thống của dân tộc mình. Những cô gái ấy càng đẹp hơn khi tiếng khèn, điệu múa được bắt đầu. Những điệu nhạc lạ của tiếng khèn man điệu uyển chuyển mê hoặc lòng người đến lạ lùng. Họ hòa cùng không khí đêm hội và thu hút bởi vẻ đẹp nữ tính, thẹn thùng e ấp. Để rồi Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ, cùng không khí âm nhạc, những điệu múa uyển chuyển, thứ ánh sáng kì diệu, những chàng trai Hà Nội thả hồn phiêu du hướng về Viên Chăn với niềm thương mến và tinh thần đầy trách nhiệm.

Cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến phút chia tay; buổi chia tay trên sông nước miền Tây chiều ấy là kỷ niệm đầy luyến lưu. Ta thấy hiện ra không gian bảng lảng đầy khói sương đặc trưng của miền Tây Bắc mang lại cảm giác buồn da diết.

Đó có thể là dáng những cô gái Thái, Mèo uyển chuyển mềm mại cầm lái đưa thuyền chở các chiến sĩ vượt sông. Đó cũng có thể là hình ảnh những chiến sĩ rắn rỏi, kiêu dũng vượt thác, vượt mọi hiểm nguy cửa địa hình. Quang Dũng sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và phép đối lập trong câu thơ cuối của khổ hai như lời tạm biệt. Ông vẽ lên một thiên nhiên dữ dội vùng thác nhưng trên đó lại có những bông hoa nhẹ nhàng “đong đưa” tình tứ quyến luyến như cái vẫy tay từ biệt cô gái sơn nữ miền Tây với người lính chiến trường.

Ngòi bút của Quang Dũng không chỉ miêu tả mà còn gợi, cảnh vật như có hồn thiêng của núi rừng, đậm màu sắc cổ tích giống như nét vẽ hư ảo trên bức tranh sông nước miền Tây. Bức tranh ấy mang đậm dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, tình tứ lãng mạn, tài hoa, vô cùng yêu mến gắn bó với mảnh đất nơi đây.

Bằng ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, hồn thơ mang đậm chất lãng mạn, hào hoa, Quang Dũng đã để lại dấu ấn đẹp về thơ ca kháng chiến mà thành công là sự hòa hợp kì diệu giữa thiên nhiên và con người miền Tây ở khổ thơ thứ hai của bài thơ. Cái đẹp mĩ lệ, thơ mộng đầy chất nhạc, chất họa, chất mơ mộng của từng nét vẽ. Nét bút của Quang Dũng đã tạo nên một thế giới của cái đẹp, cái ân tình yêu thương, ấm áp giữa quân và dân vùng Tây Bắc.

Hãy Phân Tích Đoạn 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng là bài thơ hay trong chương trình 12, trong đó đoạn 1 để lại nhiều ấn tượng. Em hãy phân tích đoạn 1 bài thơ Tây tiến, với đề bài này các em hãy xem 1 bài viết được tuyển chọn chắc chắn sẽ hữu ích với các bạn.

Tây Tiến bài thơ được viết trong giai đoạn nước nhà căng mình để chiến đấu chống thực dân Pháp. Bài thơ giúp người đọc cảm nhận được tình đồng đội trong thời chiến, nhớ binh đoàn hùng mạnh Tây Tiến đặc biệt là trong đoạn đầu tiên.

Nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Nhớ về con sông Mã thân thương, rừng núi bạt ngàn. Tình cảm nhớ nhung ở đây khó có thể diễn đạt, lâng lâng đó là nỗi nhớ “chơi vơi”, hai từ nhớ liên tiếp lặp lại thể hiện cảm xúc trong đoạn đầu tiên đó là sự hoài niệm, cảm xúc nhớ thương da diết với con sông Mã và thiên nhiên miền Tây.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Hành trình của những người lính chẳng khác gì chuyến đi sinh tử, với địa hình vô cùng khắc nghiệt. Những dốc lên như dựng đứng, còn dốc xuống heo hút tựa như vực thẳm, chỉ những sai sót có thể trả giá bằng tính mạng. Khó khăn thử thách là như thế nhưng người lính luôn quyết tâm, hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện đầy sự lãng mạn, yêu đời của những binh đoàn Tây Tiến.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Trong những cuộc hành quân đó tác giả đã chứng kiến nhiều người kiệt sức đến nỗi “không bước nữa”, thực tế khắc nghiệt của chiến tranh đã có rất nhiều các chiến sĩ mãi mãi nằm lại trên con đường hành quân, hành trang của họ vẫn còn đó là “súng” “mũ”, các chiến sĩ nằm lại nhưng vẫn bi tráng và trong tư thế người chiến sĩ.Tác giả nhớ về họ như những người anh hùng và không quên cảm phục tinh thần của những người lính cụ Hồ, cuộc đời dành cả tuổi thanh xuân tươi đẹp để cống hiến cho độc lập của đất nước, dân tộc.

Trong 2 câu thơ cuối của đoạn 1 tác giả thể hiện cảm xúc tình cảm dạt dào với địa danh nổi tiếng Mai Châu:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Dừng quân nghỉ ngơi sau quãng đường hành quân mệt mỏi, khó nhọc. Những chiến sĩ Tây Tiến và bà con Tây Bắc như trở thành một nhà, quây quần cùng nhau bên nồi cơm đang lên khói. Nhớ ôi ! là từ cảm thán thể hiện nỗi nhớ tha thiết, mạnh liệt. Những hình ảnh cơm lên khói, thơm nếp xôi là những hương vị đặc biệt của Tây Bắc thể hiện tình cảm khăng khít, thủy chung với đồng bào nơi đây đối với cách mạng. Chắc chắn những kỉ niệm trên sẽ không thể phai nhòa trong tâm trí những người chiến sĩ Tây Tiến.

Đoạn 1 chỉ vỏn vẹn 14 câu nhưng đã giúp người đọc hiểu hơn thiên nhiên và con người Tây Bắc, trên nền thiên nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi tráng. Đồng thời thể hiện sự gắn bó với thiên nhiên và con người Tây Bắc đó cũng chính là tấm lòng yêu đất nước của tác giả.

Anh Chị Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Thứ 2 Trong Bài Đất Nước Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm

Trong thơ văn Việt Nam, đất nước là mảng đề tài muôn thuở được các nhà văn, nhà thơ lấy làm cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong những năm tháng chiến tranh. Vì thế, chúng ta có thể bắt gặp đất nước trong đau thương qua những vần thơ của thi sĩ Hoàng Cầm, đất nước thay đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Còn một đất nước được nhìn đầy đủ từ nhiều khía cạnh và trọn vẹn thì phải kể đến bài thơ Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Ấy là một đất nước trải qua bao sóng gió của mưa bom bão đạn được nhà thơ tái sinh bằng hồn thơ phóng khoáng, tinh tế.

Nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh qua những thăng trầm biến thiên của lịch sử, tên gọi đất nước từ thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm. Xuyên suốt bài thơ, tư tưởng đất nước của nhân dân như sợi chỉ nối liền mạch cảm xúc, chi phối cả nội dung và hình thức đoạn trích Đất nước bằng hình thức thơ trữ tình – chính luận. Thông qua những câu thơ chất chứa tâm tư, tình cảm và suy nghĩ, nhà thơ muốn thức tỉnh tinh thần dân tộc, khơi dậy mối đại đoàn kết toàn dân trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước.

Đoạn thơ dùng hình thức trò chuyện tâm tình với một người con gái yêu thương bám sâu vào cảm hứng, vào tư tưởng cốt lõi về đất nước của nhà thơ. Tư tưởng được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện sinh động, cụ thể trên các bình diện nghệ thuật: chiều dài của không gian, của truyền thống văn hóa, của tâm hồn và tính cách Việt… các phương diện hài hòa, thống nhất chặt chẽ và được nhà thơ đặt trong một hệ quy chiếu chung.

Đoạn thơ thứ 2 trong bài thơ Đất nước, tác giả đã thể hiện những sáng tạo nghệ thuật độc đáo với những khám phá mới mẻ về đất nước của mình. Nhà thơ đưa ra định nghĩa về đất nước:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, đất nước được hiển hiện trong không gian văn hóa dân tộc mà còn được thể hiện trong tình yêu đôi lứa thiết tha mặn nồng. Định nghĩa của nhà thơ đầy tinh tế, thi vị nhưng thật vẹn tròn và ý nghĩa. Đất nước gắn liền với những kỷ niệm của anh và em, gắn liền với con đường tới trường, với tuổi thơ của chúng ta. Và đến khi anh và em hò hẹn thì nơi bắt đầu cũng chính là tình yêu dành cho đất nước. Tình yêu cá nhân đã hòa và tình yêu chung lớn lao của dân tộc.

Đưa ra một khái niệm đất nước qua sự kết hợp tình cảm riêng tư, để từ riêng biệt đi đến khái quát. Đất nước được nhà thơ mở ra theo chiều dài của lịch sử, của không gian văn hóa, của những con người luôn nặng lòng đi tìm bóng hình quê nhà. Đất nước được hình thành từ những điển tích điển cố, từ những câu chuyện ngày xửa ngày xưa… tất cả đã minh chứng cho niềm tự hào dân tộc của chúng ta. Đây cũng chính là đạo lý, truyền thống uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc ta. Nhà thơ kết lại đất nước là nơi nhân dân đoàn tụ, từ những cá nhân riêng lẻ gắn kết lại thành hai chữ nhân dân, đó chính là tinh thần đại đoàn kết của nhân dân ta. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh diệu kì, để những cái tôi riêng lẻ hoài vào thành cái ta chung của dân tộc.

Đoạn thơ thứ 2 chỉ vẻn vẹn 13 câu thơ ngắn gọn, khúc chiết nhưng tác giả đã đưa ra 3 khái niệm về đất nước với 3 cảm xúc khác nhau nhưng thống nhất trong sự chuyển hóa từ cái tôi thành cái ta, từ cá thể riêng biệt tới cộng đồng hoà quyện, kết dính làm nên đất nước của chiều sâu lịch sử, chiều dài thời gian, không gian và truyền thống văn hóa. Sự kết hợp hài hòa bởi sự am hiểu lịch sử, văn hóa, địa lý, phong tục bằng nhìn nhận mới mẻ, cảm xúc sâu lắng đã tạo nên giá trị của đoạn thơ.

Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng

Cảm nhận khổ thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng?

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Bài văn mẫu số 6

Mở bài về bài thơ Tây Tiến

Nói đến thơ ca kháng chiến chống Pháp chúng ta không thể không nhắc đến Quang Dũng-Một nhà thơ tài hoa được mệnh danh là nhà thơ của “Xứ Đoài mây trắng”. Trong thơ Quang Dũng người đọc ấn tượng nhất khi khắc họa bức chân dung người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến vừa lẫm liệt, kiêu hùng vừa hào hoa lãng mạn thể hiện qua đoạn thơ

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Thân bài Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến

Bài thơ “Tây Tiến” ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt. Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt -Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng địch. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ nhưng họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến, cuối năm 1948 khi rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Tiến”.

Phân tích khổ 3 bài Tây Tiến

Trên cái nền hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng mĩ lệ của núi rừng Quang Dũng đã xây dựng bức tượng đài về người lính Tậy Tiến hiện lên vừa oai phong lẫm liệt, vừa lãng mạn hào hoa bằng bút pháp lãng mạn mà vẫn rất chân thực:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Hai câu thơ mở đầu đã tạo nên ấn tượng trong lòng người đọc về vẻ đẹp bi tráng. Cái bi thương ấy gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da xanh như màu lá. Không phải là một người mà là cả một đoàn quân kì dị. Đoàn quân kì dị ấy lại được khắc họa bằng cái nhìn gân guốc bắt nguồn từ hiện thực đến từng chi tiết “không mọc tóc”, “xanh màu lá” là hiện thực mà người lính Tây Tiến phải trải chúng tôi lời kể của Quang Dũng thời kì đó bộ đội ta phải cạo trọc đầu để đánh giáp lá cà và dễ dàng trong sinh hoạt. Nhưng nguyên do quan trọng hơn cả chính là hậu quả của những ngày hành quân vất vả, đói rét, sốt rét rừng, những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn xuất hiện trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu:

“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi”

Hay trong thơ ca kháng chiến chống Pháp chúng ta cũng không khó để bắt gặp những vần thơ:

“Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Đâu còn tươi nữa những ngày hoa”

Bên cạnh hình ảnh bi thương chính là vẻ đẹp hào hùng của những người lính Tây Tiến được thể hiện trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập giữa thân hình ốm yếu và tâm hồn bên trong làm nên khí chất, tư thế của người lính “dữ oai hùm” cho thấy người lính lạc quan, coi thường gian khổ, hiên ngang xung trận, oai phong, lẫm liệt, toát lên cốt cách, khí phách hào hùng. Ngay cả khi đánh giáp lá cà với kẻ thù hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp làm chủ núi rừng, chế ngự khó khăn, vượt qua gian khổ.

Ẩn đằng sau ngoại hình ấy là một vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, hào hoa:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong gian khổ nhưng những người lính Tây Tiến vẫn luôn “mắt trừng” đó là đôi mắt mở to nhìn thẳng kẻ thù, thề sống chết với kẻ thù. Đôi mắt ấy như miêu tả cả sự phẫn nộ đối với kẻ thù, là đôi mắt của nội tâm sục sôi chiến đấu. Đôi mắt ấy còn “mộng qua biên giới”, đó là giấc mộng lập chiến công, giấc mộng của chiến thắng, của hòa bình. Không chỉ vậy mà đôi mắt ấy còn có tình, thao thức nhớ về Hà Nội nơi có hình ảnh “dáng kiều thơm” trong mộng và mơ. Những người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng theo tiếng gọi non sông mà còn vô cùng hào hoa, lãng mạn. Có một thời người ta hiểu rằng câu thơ này mang mộng tiểu tư sản quá nhiều, làm giảm tinh thần chiến đấu. Nhưng thời gian đã chứng minh giấc “mộng” và “mơ” như tiếp thêm sức mạnh cho người lính Tây Tiến. Đó cũng chính là vẻ đẹp của một tấm lòng luôn hướng về tổ quốc. Chính quê hương là động lực sức mạnh giúp người lính vượt qua khó khăn, là sợi dây thiêng liêng của niềm tin mang họ vượt bao khó khăn bom đạn trở về với quê hương. Chẳng thế mà bài thơ “Đợi anh về” của Xi-mô-nốp trở thành bài thơ được nhắc nhiều đến vậy trong thời kì khỏi lửa. Đâu chỉ thế trong bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ cũng từng viết:

“Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”

Điều đặc biệt hơn những chàng trai Hà Thành trong đoàn quân Tây Tiến ấy họ ra đi không chỉ bằng trách nhiệm công dân mà còn cả lí tưởng của những chàng trai gác bút nghiên cầm súng vì lí tưởng. Những chàng trai ấy là những học sinh, sinh viên, nghệ sĩ họ lên đường bằng khát vọng tuổi trẻ, khát vọng của hòa bình cho những “dáng kiều thơm”. Tình yêu ấy đáng để mỗi chúng ta trân trọng và ngưỡng vọng trong mọi thời đại.

Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến còn là lí tưởng trong những chàng trai mười tám đôi mươi:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Với việc sử dụng từ Hán Việt “biên cương”, “viễn xứ” đã gợi không khí cổ kính,trang trọng về nơi xa xôi của tổ quốc. Khác với những nhà thơ cùng thời, Quang Dũng khi nói về chiến tranh đã dám nhìn thẳng vào sự khốc liệt của chiến tranh, miêu tả cái chết, không né tránh hiện thực. Trong chặng đường hành quân gian khổ đã có những người lính ngã xuống. Những nấm mồ hoang lạnh vô danh mọc lên trên đường hành quân. Khi miêu tả cái bi thương ấy nhà văn lại nâng đỡ lên bằng đôi cánh lí tưởng, lãng mạn ” Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Đời xanh” là tuổi trẻ, là bao ước vọng đang đón chờ mỗi người phía trước. Vậy nhưng với họ không có gì quý giá bằng độc lập, tự do của Tổ quốc. Vượt lên trên tất cả là khát vọng được ra đi và cống hiến. Đó là lí tưởng quên mình vì tổ quốc, dữ dội như lời thề sông núi. Đó là vẻ đẹp thời đại ” quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Đúng như Trần Lê Văn đã nhận xét ” Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau, nhưng buồn đau mà không hề bi lụy” . Và Quang Dũng là một trong những nhà thơ đầu tiên nói rất cảm động sự hi sinh của những con người vô danh ấy để rồi hơn hai mươi năm sau trong kháng chiến chống Mĩ Nguyễn Khoa Điềm đã viết

“Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”

(Trích “Đất Nước”))

“Chiến trường” khốc liệt mà câu thơ nghe sao bình tĩnh quá, có chút ngạo nghễ khinh đời để rồi hai từ ” chẳng tiếc” mang vẻ bất cần cho ” đời xanh”. Tuổi trẻ ai chẳng cần cho mình khát vọng tình yêu, thanh xuân thơ mộng. Họ hiểu lắm, biết lắm vẻ đẹp của ” đời xanh” nhưng chết cho tổ quốc chính là chết cho lí tưởng thiêng liêng.

Chính lí tưởng thiêng liêng cao quý ấy của những người lính mà hi sinh của họ cũng thật cao đẹp

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông mã gầm lên khúc độc hành”

Hình ảnh “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hy sinh của người lính Tây Tiến. Quan Dũng từng trải lòng về câu thơ trên “Sự thật khi người lính ngã xuống không có được mảnh vải liệm. Nói áo bào là nói theo cách của thơ xưa để an ủi những người đã nằm xuống”. Sự khắc nghiệt của chiến trường, sự khó khăn gian khổ trong chiến đấu, vậy mà khi ngã xuống câu thơ sao mà nghe nhẹ nhàng đến vậy. Không phải là ngã xuống, không phải là chết mà đơn giản là “anh về đất”. Mỗi chúng ta ai chẳng sinh ra từ đất mẹ Xi -ta, ai chẳng từ luống cày mà lớn lên. Vậy nên giờ đây các anh chỉ là đang ngủ một giấc thật dài, thật bình yên bên đất mẹ dịu dàng và ấm áp. Câu thơ với biện pháp nói giảm nói tránh đã tạo cho câu thơ bi mà không lụy ý ,thơ mang đến một cảm giác vĩnh hằng, là thế giới của:

“Những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

(Nguyễn Đình Thi)

Để rồi “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”, con sông Mã cũng chính là nhân chứng của lịch sử, người bạn đồng hành của những người lính Tây Tiến. Và giờ đây con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc độc tấu đau thương, hùng tráng để tiễn người lính vào cõi bất tử. Tiếng gầm ấy là khúc nhạc bi tráng, khúc tráng ca tiễn biệt người lính Tây Tiến vào cõi vĩnh hằng hòa cùng muôn ngàn âm thanh của sống núi, trường tồn trong khúc bi tráng của sông Mã. Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt đã gợi không khí tôn nghiêm,trang trọng hi nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến.phảng phất vẻ đẹp lãng mạn mà bi tráng của người tráng sĩ anh hùng xưa lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn.

Đánh giá chung

Qua đoạn thơ trên Quang Dũng không chỉ thể hiện thành công nỗi nhớ về thiên nhiên và miền Tây hùng vĩ mà còn thành công với các biện pháp nghệ thuật như cảm hứng lãng mạn, bi tráng. Sử dụng ngôn từ đặc sắc về địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt, kết hợp hài hòa chất nhạc và họa thơ.

Kết bài cho bài thơ Tây Tiến

Khổ thơ trên trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng đã dựng nên một tượng đài bất tử về người lính. Người chiến sĩ Tây Tiến hào hoa, anh dũng, kiêu hùng một thời đã gây nên ân tượng sâu sắc cũng như mối xúc động lớn lao cho bao thế hệ người đọc. Hình tượng ấy dù vẫn có những hi sinh mất mát nhưng vượt lên tất cả vẫn là một khí phách hiên ngang, một khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp đáng trân trọng. Đây cũng chính là chất bi tráng của tác phẩm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Anh Chị Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Thứ 2 Trong Bài Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!