Xu Hướng 2/2024 # 1001 Bài Thơ Hải Phòng, Tình Yêu Người Đất Cảng # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 1001 Bài Thơ Hải Phòng, Tình Yêu Người Đất Cảng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(iini.net) Tổng hợp những bài thơ Hải Phòng hay nhất. Đó là những vần thơ quê hương viết về tình cảm yêu thương dành cho đất Cảng, và thơ tình yêu đôi lứa gắn liền với vùng đất rực rỡ màu phượng đỏ..

BÀI THƠ: QUÊ TÔI ĐẤT CẢNG HẢI PHÒNG

Thơ: Bình Minh

Ai đã đến quê tôi miền duyên hải

Về một lần rồi nhớ mãi không quên

Rất tự hào và có những cái tên

Nghe rất mắc nhưng làm lên kỳ tích

Chợ có tên là đổ nghe thinh thích

Cầu qua sông ai ngịch lại tên rào

Sông yên ắng không nước chảy ồn ào

Ai đào ra mà bây giờ tên nấp

Cảng quê hương tàu vào ra ra tấp lập

Sao ngịch lòng gọi cảng cấm ai ơi!

Thật là hay nghe thấy rất buồn cười

Ta lại thấy niềm vui tươi đất cảng

Bạn muốn về quê tôi tìm dĩ vãng

Kỳ tích này và viên mãn thấy hay

Đất cảng vui trong xuân mới hăng say

Luôn chào đón ngất ngây tình nữ khách …

BÀI THƠ: CHIỀU MƯA PHỐ CẢNG

Thơ: Bình Minh

Hoàng hôn đi chốn một ngày xem sao

Đan trong nỗi nhớ cồn cào ngày xưa

Lâu rồi buổi ấy chiều mưa

Chung thuyền một bến nhưng chưa trọn thề

Nay chiều phố Cảng buồn ghê

Gửi về ngày cũ đê mê gợi buồn

Cho tình xa cách để buồn chiều mưa

Trời đông lạnh buốt anh đưa em về

Em về vui chọn phu thê cùng người

Duyên tình không chọn thì thôi

Ta đành hai lối chia phôi hai đường.

THƠ HẢI PHÒNG: TA LẠI VỀ

Thơ: Bình Minh

Ta lại về nơi ấy một miền quê

Miền Duyên Hải dầm dề, Mưa, Gió, Nắng

Ta lại về quê hương chiều tĩnh lặng

Hoàng hôn về cò trắng vẫn lượn bay

Ta lại về bên nỗi nhớ quắt quay

Tìm kỷ niệm cho những ngày dĩ vãng

Quê hương ơi khói lam chiều bảng lảng

Nơi bình yên cho một thoáng ta về

Ta lại về tìm lại giấc mơ quê

Ở nơi ấy chân đê chiều tắt nắng

Cánh diều xưa bây giờ đâu thầm lặng

Mà chỉ còn lãng đãng buổi hoàng hôn

Chiều tím đan bên nỗi nhớ ngập hồn

Như còn lại chập chờn mơ hay tỉnh

Ta đã về quê hương mình yên tĩnh

Tìm cho mình kỷ niệm những ngày xa

Hải Phòng ơi! Quê Mẹ mãi trong ta

Là ký ức đã qua thời thơ dại

Ta lại về bến xưa chiều hoang hoải

Tìm con đò chở lại bóng thời gian

Ta lại về tìm lấy những đi hoang

Buông tiếng hát mơ màng miền quê ấy.

THƠ HẢI PHÒNG: NỖI NHỚ BAN CHIỀU

Thơ: Gia Long HP

Trời Chiều nhạt nắng nhớ về nhau

Vẫn cảnh hoàng hôn tím sắc màu

Vẫn bãi biển ngàn con sóng vỗ

Thời gian như nước…vội qua mau

Đồ sơn tà áo bay trong gió

Lặng ngắm em tôi từ phía sau

Mái tóc bồng bềnh ba ngấn cổ

Thoáng lòng…lỡ có…chợt tim đau !!

Buông tay từ ấy dần chia xa

Có nhớ mang về một nhánh hoa

Đất cảng phượng hồng anh gửi tặng

Mỗi lần em ngắm ấm lòng ta ??

BÀI THƠ: HẢI PHÒNG MÙA XUÂN

Thơ: Gia Long HP

Hải Phòng thành phố chúng ta

Đón chào năm mới đậm đà sắc xuân.

Đường cao tốc nối tình thân

Hải Phòng – thêm gần Hạ Long

Phi trường hiện đại chờ mong

Cát Bi cửa ngõ Hải Phòng hôm nay

Bến tàu Lạch Huyện đẹp thay

Cây cầu vượt biển từng ngày dài thêm

Vũ Yên đảo ngọc ngày đêm gọi mời

Cát Bà lộng lẫy tuyệt vời

Lung linh hòa với biển trời quê hương

Thủy Nguyên,Vĩnh Bảo,An Dương…

Vùng quê trường, trạm, điện , đường ..khang trang

Cao tầng soi bóng ao làng

Xóm thôn đổi mới sang trang từng ngày

Nội thành xưa phố Lạch Tray

Cầu Rào, Cầu Đất, Cầu Quay, Cát dài

Phố Ga , Phố Cấm , Máy Chai,..

Bây giờ hè rộng đường dài thênh thang

Dải Trung tâm tựa giát vàng

Ngã Năm ,….đèn đuốc sáng choang xa gần.

Người Hải Phòng trọng tình thân

Đến rồi dù chỉ một lần mãi yêu .

Chút se lạnh bên chiều hồ Tam Bạc

Em một mình man mác bước nơi đây

Ngày vắng chúng tôi nỗi nhớ chất đầy

Chút hoài niệm…cái nắm tay cần lắm.

Nhớ chiều ấy hai đứa mình say đắm

Tay nắm tay ta cùng ngắm chiều tà

Đón hạ về trao cảm xúc thiết tha

Cùng làn sóng gợn la đà mặt nước.

Nay nhớ lắm nhưng chẳng sao biết được

Gọi không đành mà đứng ước chả xong

Một mình em chịu cảnh rối tơ lòng

Như muốn hỏi anh có mong về lại.

Chiều lặng lẽ đôi chân em tê dại

Sâu đáy lòng em quằn quại nhớ thương

Dấu yêu ơi! Xa anh có tỏ tường

Em đã giận là buồn vương chia lối.

Nhìn con phố bao người qua rất vội

Nghĩ cho mình em thấy tội thân cô

Chắc chốn kia anh chẳng chút xô bồ

Để hạ nhớ chìm hư vô quạnh quẽ.

BÀI THƠ: MỜI EM ĐẾN QUÊ ANH

Thơ: Phạm Hùng

Ngắm biển xanh vào sáng ngày hè

Thả hồn trong khúc nhạc Ve

Uống cà phê sáng…vỉa hè Bội Châu. (1)

Con phố dạo từ đầu đến cuối

Ngắm Bằng Lăng, Cơm Nguội hiền hòa

Cháy cùng…những ngọn Lửa hoa (2)

Thắp hương tưởng nhớ…tướng Bà Lê Chân.

Em sẽ thấy một phần lịch sử

Khi bước vào căn cứ Từ Lương (3)

Hiểu Mưu – Trí, thấy Dũng – Cường

Của dân Nam Việt, của Vương Ngô Quyền.

Đến Tiên Lãng, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo

Kiến Thụy và An Lão, An Dương

Đưa em khắp mọi nẻo đường

Để em cảm nhận…thêm thương đất này.

Bà con đó, hăng say lao động

Đất dù nghèo cuộc sống đã hơn

Kệ cho sương gió, nắng vờn

Đắp đê lấn biển chặn cơn sóng cuồng.

Dọc theo các con sông vãn cảnh

Xuôi Bạch Đằng chảy mạnh ra khơi

Về thăm huyện đảo tuyệt vời

Cát Bà giữa biển, xanh tươi bốn mùa.

Sau khi hết một tua (tuor) sinh quyển

Đi tiếp nào, ta đến Bạch Long

Vỹ kia huyện đảo đuôi Rồng

Về qua… Cát Hải đường thông Vũ Đình.

Hải Phòng đó…bãi sình ven biển

Trải ngàn đời đã biến khang trang

Phố luôn tấp nập, rộn ràng

Tàu thuyền ghé bến hàng mang rõ đầy.

Người dân biển, nơi đây “rất lạ”

Họ sẵn sàng vác đá choảng nhau

Thế nhưng giận chẳng được lâu em à!

Sống tình nghĩa, đậm đà bản chất

Người ở đây bất khuất, kiên cường

Nêm hạt muối, nếm giọt sương

“Cao đầu, ngẩng mặt” giữa đường bước đi.

Dạo con đường điện sáng lung linh

Rồi em sẽ thấy…nghĩa tình

Của dân miền biển… Dương Kinh(4) thủa nào.

“… Hải Phòng đó…hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu… Trăm trận đánh quê ta kiên cường…” 1. Phố Phan Bội Châu có quán cà phê bán đã mấy đời, từ thời Pháp thuộc…khách chỉ ngồi ghế gỗ như quán chè chát vỉa hè. 2. Hoa Phượng 3. Từ Lương Xâm đại bản doanh của Ngô Quyền khi đánh quân Nam Hán năm 938. Bây giờ thuộc phường Nam Hải, quận Hải An. Nơi đây có ngôi đền thờ Ngô Vương rất lớn. 4. Dương Kinh chúng tôi thuộc đất Kiến Thụy là kinh đô thứ hai của Vương triều nhà Mạc. Nó là trung tâm chính trị, kinh tế lớn sau đó bị Trịnh Tùng phá hủy. Đây là khu đô thị ven biển sầm uất nhất và đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

THƠ LỤC BÁT: HẢI PHÒNG THÀNH PHỐ TÔI YÊU Thơ: Thi Tinh Nguyen

Hải Phòng thành phố tôi yêu

Thiên nhiên hùng vĩ với nhiều cảnh quan

Mây chiều bao phủ núi non

Ta làm một chuyến phiêu diêu

Mải mê say ngắm với nhiều cảnh siêu

Nơi này thung lũng Tình yêu

Thác Cam Ly cũng yêu kiều như ai

Khu vườn với những Lâu Đài

Như trong cổ tích chuyện dài năm xưa

Tuyệt vời với buổi sớm trưa

Trong căn nhà gỗ cũng vừa nhỏ xinh

Ngắm nhìn sương sớm lung linh

Ban mai lấp lánh gợi hình nên thơ

Khung trời sao quá mộng mơ

Hoa khoe sắc thắm đón chờ bướm ong

Con đường uốn lượn cong cong

Đồi thông hùng vĩ mênh mông gió ngàn

Tiếng chim rộn rã ngân vang

Họa my thánh thót Oanh vàng líu lo

Phóng nhìn tầm mắt thật to

Xa xa là biển sương mờ giăng giăng

Bình minh sáng tỏa mênh mang

Muôn ngàn tia nắng hong hanh nắng vàng

Thuyền buồm cánh thắm hiên ngang

Xuôi dòng biển biếc từng đoàn giong khơi

Hải âu én liệng tung trời

Dập dềnh sóng vỗ ngàn người tắm bơi

Khách du từ khắp muôn nơi

Đến đây thưởng ngoạn biển trời Đồ sơn

Một ngày phiêu lãng thỏa cơn tang bồng.

Tháng tư về trên Hải Phòng quê hương

Yêu quá đỗi những con đường Phượng đỏ

Sông Tam Bạc dịu êm Trăng vờn gió

Nghe thì thầm lời anh ngỏ cùng em

Rất thân thương từng kí ức êm đềm

Bến Bính xưa đôi vai mềm Mẹ gánh

Bao nhọc nhằn của tuổi thơ sóng sánh

Nâng giấc mơ nơi bên nhánh sông đời

Sông Lấp yêu, như ấp ủ bao lời

Đồ Sơn ơi biển gọi chân vui bước

Hải Phòng đó làm sao tôi quên được

Cầu Quay, cầu Rào xuôi ngược người đi

Bình minh lên tỏa sáng thuở xuân thì

Gió biển mặn, nói gì thân thương lắm

Nghe vương vấn góc phố quen tường tận

Thắm má hường, hoa Phượng đỏ chờ Ve…

HẢI PHÒNG CỨ NGẨNG CAO ĐẦU

Thơ: Nguyễn Đình Huân

Hải Phòng ư không hề có mùa đông

Chỉ có mùa hè phượng hồng thắm đỏ

Hải Phòng có cầu Rào nơi cửa ngõ

Có Đồ Sơn nắng gió cứ phây phây

Hải Phòng đó chỉ thấy những hàng cây

Phượng vĩ đỏ mãi giang tay kết nối

Người Hải Phòng thấy lúc nào cung vội

Không giống Hà Thành Hà Nội thanh cao

Người Hải Phòng quên cách sống ồng ào

Thành phó cảng lúc nào cũng thế

Người Hải Phòng chưa bao giờ câu nệ

Ngẩng cao đầu cứ mặc kệ thế gian

Hải Phòng xưa nay vẫn có chợ Hàng

Có Hàng Kênh có Hồng Bàng chợ Sắt

Có Bà Lê Chân Hồ sen cầu Đất

Có những con người rất thật dám chơi

Bao năm xa rồi nhớ thế Hải Phòng ơi

Nhớ Đồ Sơn không có lời để tả

Về Hải Phòng thấy vừa quên vừa lạ

Hải Phòng tự hào thật giả phân minh.

Phượng đỏ rực con đường đất Cảng

Tiếng còi tàu mỗi sáng ngân xa

Canh cua cháo quẩy cho ta ấm lòng

Bơ trộn bắp ăn xong vẫn ngọt

Trong nắng vàng chim hót líu lo

Chị Hai ngồi bán bánh giò

Ngon là mắm chấm nêm cho thật vừa

Hàng phở trộn buổi trưa nhiều khách

Ai cũng vào quán sạch lại ngon

Bún nem cuộn chả chiên giòn

Thịt xiên que nướng lợn non quay vàng

Mùi thơm phức cơm rang thập cẩm

Béo ngậy xôi lại chấm muối vừng

Chè ngô sâm lạnh bánh chưng

Chợ chiều bày bán lợn rừng ếch cua

Quán hải sản ai mua ghé lại

Sứa nộm giòn đem thái xoài xanh

Dấm đường cho mấy lát chanh

Ăn chua lẫn ngọt vị thanh rất mềm

Những con đường mãi nhớ từng tên

Quán Toan, Quán Chủng, Cầu Kiền

Ngã Năm, Quán Sỏi, đi lên Cầu Rào

Đồ Sơn biển nước sao hồng đục

Gần cửa sông mọi lúc đổ về

Con người giản dị không hề dối gian.

Chùm Thơ Về Đất Cảng Hải Phòng

Từng đoàn tầu đậu ngang Chùa Vẽ

Tiếng còi tầu ngày đêm không ngơi nghỉ

Biển mênh mông

Sóng và gió đi về.

Dòng sông Cấm chảy ra biển rộng

Đất Hồng Bàng, Ngô Quyền in dấu những bước chân

Những người thợ

Và từng đoàn thủy thủ

Dáng hiên ngang những con tàu viễn dương.

Cảng Hải Phòng ngày mưa ngày nắng

Hàng phượng vĩ, ánh đèn thức trắng thâu đêm

Dòng Tam Bạc, Cầu Rào, Cầu Đất trong thơ

Hai bên bờ những dòng sông náo nhiệt

Chợ An Biên chen người bán người mua.

“Những hẹn hò bên dòng sông Lấp” (1)

Và Bến Bính những người con đất cảng

Bão táp phong ba nào chẳng sờn lòng

Đưa những con tàu đi ngàn dặm khơi xa…

(1) Lời của một bài hát.

2. Nhịp phố Hải Phòng Vũ Đan Thành 3. Nắng Hải Phòng Vũ Đan Thành . 4. Hoa cuối mùa vẫn nở Vũ Đan Thành

Hoa tường vi cuối mùa vẫn nở Thành phố Hải Phòng vùa bước sang tháng bảy Đã cuối hè rồi nắng còn nung nấu mãi chưa thôi.

Hoa tường vi vẫn sắc hồng nở vội Dẫu không làn hương rung rinh nhưng cũng đủ Cho nhưng ai còn luyến tiếc cánh phượng rơi.

Thành phố ấy không phải của tôi Chỉ một người bàn chân vừa bước vội Hẹn hò vu vơ mùa thi trước cổng trường.

Hồ Tam Bạc, hoa phượng hồng đã tắt Nắng vẫn bùng lên như tiếc nuối một điều chi Cơn gió biển thổi từ xa chẳng vợi đi nóng rát.

Chỉ những đóa hoa tường vi nồng nàn trong tươi thắm Bên công viên, đài phun nước vẫn dịu dàng Đang tỏa sắc cứu cả mùa hè đỏ lửa…

5. Đợi mùa thu xuống phố Vũ Đan Thành .

Thu xuống phố ngập ngừng chờ đợi mãi

Hàng cây xanh hồ Tam Bạc mơ màng

Thu đâu có vội vàng thành phố cảng

Gió heo may Hải Phòng vẫn đợi chờ.

Thu xuống phố có ai đang đứng đó

Chiều đi ngang thấp thoáng tiếng còi xe

Phố vào thu như từng hẹn cuối hè

Sao ngọn gió chưa về trên lối nhỏ.

7. Mai anh về Hải Phòng cùng em Vũ Đan Thành

Tháng tư đã đến rồi

Hải Phòng mùa này nắng

Con đường Năm mưa nốt hôm nay

Cơn gió lạnh thổi về xa vắng

Nàng Bân đang bận viết bài thơ.

Về thành phố ồn ào mà rất nên thơ

Với những con đường xuôi ngược chẳng hững hờ

Mùa tháng tư về

Gió biển ngóng dập dềnh con sóng vỗ

Cho giấc mơ thành phố cảng ven bờ. .

Mai anh sẽ về Hải Phòng đó

Cùng em

Bước chân trên từng con phố

Nắng tháng tư

Hải Phòng ôi trìu mến

Đi bên em hồ Tam Bạc mơ màng. .

Cùng em

Trên những con đường thân quen dịu bước

Nắng bừng lên trong những điều hẹn ước

Nhớ về em

Mùa hạ muốn rung lên…

(31 – 3 – 2024)

8. Về Tiên Lãng thăm em Vũ Đan Thành

Thăm em Tiên Lãng Hải Phòng

Đi qua Vĩnh Bảo rồi vòng Quý Cao

Hồi xưa còn chuyến phà đò

Cánh đồng xanh mướt thuốc lào quê em.

Đi về Tiên Lãng thăm em

Mem theo sông nhỏ quen quen mái trường

Thăm em vào cuối mùa đông

Gió lạnh đã bớt nắng hồng ửng lên.

Bất ngờ không gọi thành tên

Kéo tay vồn vã mời anh lên nhà

Tiếc quá nhà em hôm qua

Đi sang bên ngoại biếu quà mừng xuân.

Có thằng cháu lớn mười lăm

Thế mà thuộc hết hơn trăm thơ tình

Bác là thi sỹ Thành Đông

Không tôi chữa lại nhà nông thôi mà.

(Thi sỹ thường đi Toyota

Nhà nông cuốc bộ hoặc là Honda).

Hẹn em những nửa năm qua

Lát nữa anh vội đi rồi

Cho anh gởi nhắn gửi lời nhà em. .

Những lần facebook mở xem

Ngồi bên cạnh thấy bồi hồi

Vì anh khen tặng những lời cực xinh.

Em làm anh đến giật mình

Lần sau anh phải thật tinh dè chừng

Hôm nay tay bắt mặt mừng

Gặp thêm ông xã chắc mừng nhiều hơn.

Thơ tình dù lượn thờn bơn

Ai mà mời đến xe bon lên đường

Có điều lịch hẹn thất thường

Ưu tiên đặc biệt người thương đó mờ… .

. 10. Chiều xuống Cát Bà Vũ Đan Thành

Ngập ngừng chiều xuống nơi đây

Biển xanh trời biếc mây bay chập chờn

Rừng xa bóng chiếc xanh rờn

Như là bóng nắng đang vờn rừng cây.

Kìa như Đảo Ngọc gió lay

Cát Ông, Cát Đuối sóng say vỗ bờ

Chiều nghiêng nghiêng bóng nhấp nhô

Lô xô một áng mây mờ long lanh.

Cát Bà ngọn gió bay nhanh

Chiều như loang đổ vòng quanh nơi này

Biển trời mây nước ngất ngây

Mơn man con sóng đâu đây dội về.

Cánh buồm ai vẫn mải mê

Mơ màng áo trắng trông về trời xa

Mây trời sóng nước bao la

Núi non thấp thoáng xa xa ngàn trùng.

Biển chiều loáng loáng Hạ Long

Con thuyền lướt gió ánh vàng nhấp nhô

Biển chiều sóng biếc lao xao

Hoàng hôn nhuộm sắc điểm tô Cát Bà. .

Bóng chiều chìm xuống khơi xa

Biển dâng sóng biếc đậm đà lung linh

Bức tranh thủy mặc hữu tình…

11. Chiều Tam Bạc Vũ Đan Thành

Chiều Tam Bạc có dòng sông đã ngủ

Thành phố giấu một nỗi buồn bao tháng năm trôi

Nay còn lại một khúc sông thôi hồ Tam Bạc

Từng dòng người bên bờ đông như nước trôi.

Một nỗi nhớ đắm chìm sâu thẳm thẳm

Như tình yêu anh dành cho em

Đã chẳng thể nói lên lời

Hồ Tam Bạc khúc sông xưa một thuở. .

Đi qua thời gian nhớ từng vàng nắng sợi mơ

Còn lại một nỗi đợi chờ thôi

Ở nơi nào con phố

Tôi lỡ hẹn Hải Phòng nay tìm lại biết tìm đâu.

.

Mưa tháng bảy dãi dầu

Cùng nắng gió

Những câu thơ định viết dành em đó

Bên quán cafe nhớ cứ rối bời. .

Bên quán cafe hồn bất chợt chơi vơi

Bên mặt hồ

Bóng mây trắng vừa tan rơi

Gió đang thổi… trong tôi… mưa bỗng chợt…

(Hồ Tam Bạc, thành phố Hải Phòng) . 12. Hải Phòng mùa nước Vũ Đan Thành

Hải Phòng mùa nước mênh mang

Cuốn theo năm tháng tàn nhang cánh đồng

Những ngày nước cả sang sông

Theo chồng con sóng trong lòng lắc lư. .

Bồng bềnh một thuở tương tư

Sông kia nước cuộn trắng màu phiêu hoang

Những ngày đường chẳng lối ngang

Người sang Thượng Lý người quàng Kiến An. .

Cái ngày trên cánh đồng làng

Bên dòng Văn Úc, Hải Phòng mất nhau

Sông kia còn biết nhói đau

Tình kia khỏa lấp hoa cau ngượng cười. .

Hải Phòng chưa tới tháng mười

Xuôi dòng bỏ mặc xa rồi ước mong

Tình ai vỗ sóng mênh mông

Một chiều An Lão mưa giông não sầu. .

Niệm cầu người ấy nơi đâu (1)

Nước còn ôm ngập chân cầu ngày nao

Hải Phòng mùa nước chênh chao

Đường ngang lối ấy dâng trào phút giây…

(1) Cầu Niệm bắc qua sông Lạch Tray, còn gọi là Văn Úc, Kiến An, Hải Phòng. 13. Đồi Thiên Văn Vũ Đan Thành

Đồi Thiên Văn lâu rồi có gì khác

Trước lưa thưa hàng quán nước leo teo

Giờ chả biết có cafe thư giãn

Em gội đầu mát lạnh làn da. .

Hải Phòng phố xô bồ uốn lượn vào ra

Chiều ngược xuôi xuôi ngược dưới chân ta

Em ở chỗ nào, phố đâu còn phố vắng

Phượng đã ngắt cuối mùa hè ngơi nóng bỏng. .

Hoa tường vi không còn nhớ độ mông lung

Thành phố ấy anh mãi chẳng tìm ra nổi

Một lời thương thôi cũng đã nguội ngắt cả rồi

Ở trên đồi vẫn chênh chao hàng gió thổi.

Mùa hạ trôi tháng bảy sẽ qua thôi

Con đường dốc vẫn uốn vòng lượn dốc

Tóc gió khô lá thông không thổi tốc

Xe đi rồi chiều hôm ấy một mình tôi.

Đồi Thiên Văn, Kiến An, đất Hải Phòng cái lần ấy

Thế rồi thôi…

Facebook

Chùm Thơ Hay Ca Ngợi Đất Cảng Hải Phòng

Tuyển chọn những bài thơ hay viết về Hải Phòng với vẻ đẹp, cuộc sống nơi đây. Bên cạnh đó là những vần thơ tình yêu đôi lứa của những người con đất Cảng.

BÀI THƠ: HẢI PHÒNG MÃI ĐẸP

Tác giả: Lê Huy Tưởng

Ơi Hải Phòng thành phố mãi tôi yêu

Có sông, núi và bao chiều gió lộng

Nơi rừng thẳm vẫn muôn đời tỏa bóng

Với bốn mùa con sóng giỡn trùng khơi

Bao dòng xanh tỏa rạng níu chân trời

Những bến Cảng đầy vơi theo triều xuống

Khu du lịch khách mười phương tận hưởng

Vạn sắc màu đổi hướng biệt hoàng hôn

Dải non cao quyện nắng đẹp mê hồn

Cây cầu Bính dập dồn theo nhịp thở

Kìa Đảo Ngọc, Cát Bà lưu luyến nhớ

Bãi Đồ Sơn rạng rỡ đến vô ngần

Cánh phượng hồng mang cả những ái ân

Khu công nghiệp đang dần vào quy củ

Dẫu bão tố hay mưa trời vần vũ

Chẳng phai nhoà vẫn giữ vẹn tình quê

Dù bán buôn hay bận bịu trăm bề

Sang tháng tám hãy về xem Trâu chọi.

BÀI THƠ: HẢI PHÒNG NƠI ẤY

Tác giả: Bình Minh

Ở nơi ấy có mưa rào nắng lửa

Có cả bốn mùa xuân hạ thu đông

Nắng hửng lên cho đôi má em hồng

Mây đùa gió thêm hương nồng ân ái

Giữa mùa hạ nắng kia luồn đôi ngả

Hạt nắng vàng buông thả tới nơi đâu

Ai bỏ quên cái nắng cháy trên đầu

Mà níu lại bao nỗi sầu nhân thế

Ở nơi ấy cho ta nhiều thi vị

Có mùa hè hoa phượng nở ngất ngây

Có nắng vàng rực rỡ dưới chân mây

Có hoàng hôn hây hây chiều lan tím

Hải phòng đó quê hương mình bịn rịn

Biển ồn ào trên cát mịn sóng xô

Mà ngàn năm vẫn mê mải hôn bờ

Để năm tháng đợi chờ miền quê ấy…

BÀI THƠ: TÌNH EM CÔ GÁI HẢI PHÒNG

Tác giả: Đồng Kế

Hỡi nàng con gái xinh tươi

Mặt hoa da phấn dáng người thanh cao

Hút hồn anh, dắt anh vào trong mơ

Em nhìn lên cũng đã ngơ ngẩn lòng

Đồ Sơn, Hòn Dấu ..Hải Phòng

Ra về còn mãi nhớ mong vơi đầy

Ngập ngừng tay nắm lấy tay hẹn rằng

Tính ngày đợi tháng .. tròn trăng

Anh về giữa hội đêm rằm Trung Thu

Em còn nũng nịu ứ ừ không đâu

Ôm hôn nồng cháy thật lâu trong lòng

Hỡi người em gái Hải Phòng anh yêu

Hôm hôm sớm sớm chiều chiều

BÀI THƠ: VỀ VỚI QUÊ ANH

Tác giả: Thủy Tiên

Em theo về với…đến quê anh

Muôn chim cùng muốn chọn đất lành

Hải Phòng nơi ấy vùng hoa lệ

Phố cảng dựng xây ước mơ xanh.

Em về thăm lại Bạch Đằng Giang

Ngô Quyền dựng cọc Hoằng Tháo sang

Khiếp đảm…bạo cường xơ xác chạy

Tướng chết, tàn quân quỵ gối hàng.

Em đến đền Nghè Tướng Lê Chân

Anh hùng nào kể dẫu hồng quần

Khai sinh phố cảng từ thủa ấy

Em thăm Chùa Cấm, viếng đền Trần.

Hòn Dáu, Cát Bà…sóng khẽ mơn

Nhìn xem rực rỡ Hòn Hoa Phượng

Vẽ thắm trời chiều sắc hoàng hôn.

Nhìn kia tàu lớn nối đuôi nhau!!!

Thuyền cá bụng no cũng quay đầu

Cập bến thả neo bình yên quá

Em về xây đắp mộng trầu cau.

Anh đón em về giọt nắng lơi…

Đôi tim nồng cháy chẳng xa rời

Cùng anh em hát tình ca khúc

Hải Phòng đẹp lắm quê mình ơi!

BÀI THƠ: HOA SỮA HẢI PHÒNG

Tác giả: Phạm Huy Hùng

Thu về hoa sữa nở hoa thơm lừng

Dịp quốc khánh tưng bừng khắp chốn

Rợp cờ vui vang nhộn đó đây

Nắng đào trên những luống cày

Hải âu chao liệng tung bay bến tàu

Đến hẹn nở một mầu thân thiết

Nụ trắng rơi thanh khiết trinh nguyên

Lay tình gió gọi nhân duyên

Gợi thương trắc ẩn bạn hiền nơi nao

Đêm khe khẽ lao xao tiếng dế

Khuya nhẹ nhàng một nhẽ hư vô

Thoảng trong tĩnh lặng mơ hồ

Hương thơm ngào ngạt tỉnh mơ cõi trần

Bờ sông Cấm tình nhân trao ước

Màn hôn say sông nước cũng ghen

Thì thầm oanh yến một miền hoang sơ

Duyên trúc mã chờ mùa hoa sữa

Nghĩa tào khang đợi bữa vu quy

Đá vàng hương lửa thề ghi

Trăm năm tạc dạ một ly không rời

Mượn hoa sữa thay lời muốn nói

Cánh nhạn đem giùm tới nơi xa

Diễm tình hoa sữa thiết tha

Yêu sao cảnh sắc quê ta Hải Phòng.

BÀI THƠ: HẢI PHÒNG ĐÊM PHÁO HOA

Tác giả: Bình Minh

Pháo hoa nổ rực trời quê mẹ

Đêm hoa đăng mát mẻ nơi này

Đón mừng đại lễ ngất ngây tưng bừng

Người đất cảng hừng hừng khí thế

Đón mừng ngày đại lễ cờ hoa

Mừng ngày giải phóng quê ta

Bình yên trở lại nhà nhà ấm no

Ngày chiến thắng đánh cho giặc cút

Xoá một thời heo hút gió mưa

Dòng sông bến nước đẩy đưa con đò

Trai gái lại hẹn hò đôi lứa

Ngày hội về chan chứa niềm vui

Nhớ ngày hội mở rợp trời pháo hoa..

BÀI THƠ: HẢI PHÒNG QUÊ MẸ

Tác giả: Phạm Huy Hùng

Quê hương yêu dấu thân thương

Biết bao kỷ niệm ven đường sấu me

Diều bay tiếng sáo ven đê

Nương dâu ngan ngát chiều về bướm bay

Mục đồng trâu dắt đồi cây

Nô đùa bơi lội nhóm bầy đánh khăng

Đồng ngô hương ngát cải vàng

Lúa chiêm trĩu hạt mênh mang đất trời

Bến sông vui nhộn tiếng cười

Mải mê chợ cá đông người bán mua

Thinh không vọng tiếng chuông chùa

Tháng ba lễ hội đến mùa trồng cây

Rợp trời đất cảng tháng ngày lung linh

Hoa xoan mầu tím rung rinh

Ngát hương diễm lệ nghĩa tình sinh sôi

Hương cau trinh bạch tinh khôi

Đượm đà sắc cảnh cuộc đời nở hoa

Ven thôn xanh mướt rau cà

Bên hàng d-âm bụt ngỗng gà xôn xao

Tung tăng cá lội ngoài ao

Tôm cua ốc ếch bưởi đào mít thơm

Thân thương ngõ nhỏ mái rơm

Có bè rau muống có cơm muối vừng

Láng giềng một nắng hai sương

Tảo tần khuya sớm con đường nông tang

Cầu cong bến nước ven làng

Cây đa hò hẹn duyên vàng trúc mai

Tơ duyên chỉ thắm non hài

Đá vàng tao ngộ thiên thai cõi tình

Quê hương yêu dấu thanh bình

Tự hào đất mẹ đẹp xinh Hải Phòng.

Mùa Xuân Nho Nhỏ – Thơ Thanh Hải – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Giữa giây phút giao thoa của đất trời đón mùa xuân, và trong thời khắc giữa cái sống và cái chết cận kề, tiếng thơ vang lên như lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về lẽ sống và đời thơ và thông điệp : hãy hiến dâng cho Tổ quốc. Thanh Hải đã vĩnh viễn ra đi ngay sau đó nhưng ông đã kịp dâng đời “Một mùa xuân nho nhỏ”.

vanhaiphong – Vào những năm 1979-1980, tại Việt Nam xuất hiện làn sóng di tản ồ ạt đi tìm miền đất hứa, những người ra đi bỏ quê hương xứ sở đánh đổi cả số phận mình trên những chiếc thuyền mà trước biển cả chỉ nhỏ nhoi như những vỏ trấu. Đấy cũng là thời điểm “Mùa xuân nho nhỏ” ra đời. Thanh Hải viết bài thơ này trên giường bệnh. Giữa giây phút giao thoa của đất trời đón mùa xuân, và trong thời khắc giữa cái sống và cái chết cận kề, tiếng thơ vang lên như lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về lẽ sống và đời thơ và thông điệp : hãy hiến dâng cho Tổ quốc. Thanh Hải đã vĩnh viễn ra đi ngay sau đó nhưng ông đã kịp dâng đời “Một mùa xuân nho nhỏ”.

Thanh Hải

Mùa xuân nho nhỏ

Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng.

Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao

Ðất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Ðất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.

Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc.

Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế…

Bài thơ này được tác giả viết năm 1980 trên giường bệnh trước khi mất không lâu, được in trong tập thơ “Huế mùa xuân”.

Nguồn Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam,Số 2 năm 2008

Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Đồng Đức Bốn

Trở về với mẹ ta thôi

1

Cả đời ra bể vào ngòi Mẹ như cây lá giữa trời gió rung Cả đời buộc bụng thắt lưng Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng Đường đời còn rộng thênh thang Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương Bát cơm và nắng chan sương Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau Mẹ ra bới gió chân cầu Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi.

2.

Chẳng ai biết đến mẹ tôi Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ Còng lưng gánh chịu gió mưa Nát chân tìm cái chửa chưa có gì Cầm lòng bán cái vàng đi Để mua những cái nhiều khi không vàng.

3.

Mẹ mua lông vịt chè chai Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy Xóm quê còn lắm bùn lầy Phố phường còn ít bóng cây che đường Lời rao chìm giữa gió sương Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

4.

Giữa khi cát bụi đầy trời Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

5.

Trở về với mẹ ta thôi Giữa bao la một khoảng trời đắng cay Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm Tôi còn nhớ hay đã quên Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ Nhuộm tôi hồng những câu thơ Tháng năm tạc giữa vết nhơ của trời Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát – Nguyễn Trọng tạo

Ngược lại, có người vẫn coi Đồng Đức Bốn là cây bút có tài, nhưng thơ Bốn thì họ chỉ coi là “thơ vàng mạ”, “thơ rỗng ruột”. Nguyễn Hòa nhận định: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ” Còn thần đồng Trần Đăng Khoa trong một bài viết chưa/không công bố thì cho rằng: “Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói”.

Vậy là thơ Đồng Đức Bốn được khen được chê rất khác nhau, thậm chí là hai thái cực, không cực nào chịu cực nào. Điều đó cũng làm khó cho Đồng Đức Bốn khi xin vào Hội Nhà Văn Việt Nam. Cả 3 lần bỏ phiếu cho Bốn ở Hội đồng Thơ chỉ đạt được tỉ lệ 4/9 phiếu. Tôi cũng ngồi trong Hội đồng Thơ mấy lần bỏ phiếu cho Bốn, phải an ủi anh qua điện thoại: Tại vì cái tên cậu là Bốn cho nên nó mới ám vào 4 phiếu, hay là đổi tên thành Đồng Đức Chín cho nó hên?

Là nói thế cho vui, chứ đọc thơ Đồng Đức Bốn thấy nhiều câu hay, mà chỉ hay ở lục bát. Lục bát là một thể thơ dân gian mà không học cũng làm được. Ai là người Việt Nam mà chả biết thơ lục bát nó thế, nó thế. Nó ngấm vào tâm hồn người Việt đến nỗi xuất khẩu cũng thành thơ lục bát. Ca dao hò vè diễn ca trường thiên hay hát dân ca và chèo đều sử dụng thể loại thế mạnh này. Và Đồng Đức Bốn thấm đẫm cái thể lục bát từ trong bụng mẹ, nên anh làm lục bát dễ như thò tay vào túi. Nhưng tại sao lục bát của Bốn có nhiều câu hay? Trước hết, anh có một khả năng thơ trời cho, nhưng không chỉ có vậy, Bốn cũng là người say thơ, mê thơ, và học tập được cái hay cái dở ở trong thơ người khác. Anh phân biệt được thơ dân gian với thơ bác học. Nghĩa là, anh có học (dù tự học), anh có tư duy thơ, mà tư duy thơ của anh cũng có cái sự độc đáo riêng. Đó là sự trống trải, dày vò, đau đớn của riêng anh. Đó là bi kịch của tinh thần lãng mạn trong tâm hồn anh. Đó là sự lắng lại sau ồn ào ảo tưởng của người thi sĩ trước miếng cơm manh áo, hiện thực hay phù phiếm trước cuộc đời. Và thơ đã cứu thoát anh vượt ra khỏi biển đắng cay và mộng mị. Nói là vượt ra, bởi anh đã đứng ra ngoài câu thơ để đọc lại đắng cay của đời mình:

Mải mê đuổi một con diều Củ khoai nướng để cả chiều thành than.

Câu lục bát này hay bởi nó chứa đựng triết lý “được-mất” một cách ngơ ngác và đau đớn. Tuy câu lục chỉ là tiền đề với một ngôn ngữ phẳng (đơn nghĩa) nhưng câu bát lại gợi lên được nhiều cảm giác của mất mát và tiếc nuối với những thi ảnh trùng điệp: củ khoai, nướng, (buổi) chiều, (tro) than… Nhưng cái hay của câu lục bát này càng có giá hơn khi nó được cộng hưởng với cái không gian đồng quê mùa đông có vẻ như bất an của câu luc bát mở ra bài thơ đầy gợi cảm: “Chăn trâu cắt cỏ trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất đó. Tuy vậy, câu thơ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” khiến tôi nhớ đến một câu thơ của Hữu Thỉnh trước đó viết về người mẹ gánh rạ ngoài đồng. Cũng rạ, cũng gió đặt cạnh nhau mà câu thơ trở nên hay: Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió. Nếu không biết câu thơ của Hữu Thỉnh thì chắc câu của Bốn sẽ là một bất ngờ thú vị nhờ một tiểu đối hơi bị chênh chao.

Tôi từng nghĩ, nghệ thuật khởi đầu từ bắt chước. Điều đó không sai. Trẻ em vẽ con ngựa là bắt chước con ngựa, nhưng vì nó thích quá cái móng thiếc dưới chân ngựa nên nó có thể vẽ cái móng thiếc to hơn bình thường. Khi nó vẽ cái sở thích độc đáo của nó, đó là nghệ thuật ấn tượng của riêng nó. Đồng Đức Bốn cũng như mọi người làm thơ lục bát, đều bắt chước thể lục bát. Không biết ai là người đầu tiên làm ra câu lục bát để cho Truyện Kiều làm nên đại thi hào Nguyễn Du? Ấy là Truyện Kiều đã nâng lục bát dân giã lên tầm bác học. Khi Nguyễn Bính viết: “Anh đi đấy, anh về đâu?/ Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm…” và Bùi Giáng viết: “Hỏi quê…rằng biển xanh dâu/ Hỏi tên…rằng mộng ban đầu đã xa” là họ đã tạo nên thi pháp mới cho lục bát. Đồng Đức Bốn cũng tiếp thu được cả tính dân giã và bác học của lục bát, nhưng tính dân giã trong anh thường lấn lướt tính bác học, bởi thế những bài thơ “tầm tầm” chiếm đa số. Cấu tứ bài thơ của anh lại thường bị cảm tính chi phối nên thường luễnh loãng (như Trần Đăng Khoa nhận xét), ít tạo nên những tứ thơ mạnh mẽ, cô đúc hay độc đáo. Điều này không thể so với Nguyễn Bính được, vì thơ Nguyễn Bính đậm hồn Việt nhưng cấu tứ lại hơi hướng phương Tây, rất chặt chẽ và bất ngờ. Chỉ với mấy con số chín trong Giấc mơ anh lái đò cũng đủ khiến ta sửng sốt khi tác giả buông ra câu lục bát: “Lang thang tôi dạm bán thuyền/ Có người trả chín quan tiền, lại thôi!”. Vì thế mà tôi khẳng định tài thơ của Bốn chính là nằm ở trong những câu lục bát tiêu biểu của anh, đó là những câu lục bát hay bất ngờ:

– Đời tôi mưa nắng ở đâu Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.

– Đừng buông giọt mắt xuống sông Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm

– Câu thơ nấp ở sân đình Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau

– Không em ra ngõ kéo diều Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay, Luồn kim vào nhớ để may Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.

– Không em từ bấy đến giờ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.

– Cầm lòng bán cái vàng đi

Để mua những cái nhiều khi không vàng

– Xong rồi chả biết đi đâu Xích-lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương!

Từ những câu lục bát hay đó, có thể nhận ra một Đồng Đức Bốn đa cảm, giàu yêu thương và cũng lắm đau buồn. Có người trách thơ anh kém vui, nhưng tôi thấy nỗi buồn của anh dẫu cay đắng đến đâu cũng đều là nỗi buồn đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên quê kiểng như ăn sâu vào anh, chìm đắm và anh không trôi đi được, không dứt ra được. Đối tượng thiên nhiên trong thơ anh quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vầng trăng, cánh đồng, dòng sông, con đò, nhưng sao mà đẹp thế! Đẹp vì thiên nhiên ấy gắn với tình người. Hơn nữa, đó là tình người thi sĩ.

Tuy vậy, Đồng Đức Bốn cũng có những bài lục bát hay. Không nhiều, nhưng hay. Đó là bài Chăn trâu đốt lửa (tôi đã dẫn ở trên), bài Trở về với mẹ ta thôi và bài Vào chùa. Hầu như nhà thơ nào cũng làm thơ về mẹ, vì con ở trong mẹ từ khi còn là hạt bụi, một gắn bó đặc biệt hơn cả vô thức. Bài thơ của Đồng Đức Bốn viết về mẹ lại cũng trong một trạng huống đặc biệt, đó là khi mẹ bỗng trở về cát bụi. Nhưng sự gắn bó và tình yêu thương mẹ của Bốn thật là day dứt. Lời thơ viết về mẹ không thể làm dáng làm điệu mà chân thành mộc mạc đến tận cùng. Ba đoạn thơ đầu là viết về mẹ khi còn sống tảo tần cay đắng nuôi con, hai đoạn thơ sau là tâm trạng của con mất mẹ. Sự bùng nổ tình cảm của nhà thơ mất mẹ trong một cảnh ngộ thật đau lòng:

Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

Và tâm trạng nhà thơ lúc đó thật lạ lùng:

Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm

Đến câu kết thì thật bất ngờ và táo bạo:

Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Quan niệm “sống gửi chết về” bỗng dưng hiện lên trong câu thơ cuối như một cầu mong đươc về với mẹ, mãi làm lay động lòng người. Một bài thơ toàn bích.

Bài thơ Vào chùa chỉ bốn câu mà treo lên trước cuộc đời cả một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại. Hai nhân vật sư và ăn mày, hai hướng đời và đạo. Nhưng cả hai đều sống bằng của bố thí. Vì thế mà cái cảnh diễn ra trước cửa chùa như báo trước một điều gì thật đáng lo ngại:

Đang trưa ăn mày vào chùa Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Sư không sẻ chia cơm áo mà lại cho ăn mày “một lá bùa” rồi bỏ đi. Sao mà dửng dưng, sao mà chua chát thế. Ngòi bút Đồng Đức Bốn ở đây thật lạnh, nhưng rồi anh bỗng hiểu ra:

Cái triết lý “con ông sãi chùa lại quét lá đa” như thấp thoáng hiện lên trong bài thơ như một bất lực, hay là một câu hỏi về tình đồng loại không dễ trả lời. Cái tưng tửng “chết người” của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Đó là cách nói tài hoa của Đồng Đức Bốn.

Có người cho đó là một bài thơ thiền. Tôi nghĩ không phải. Đâu phải cứ có sư thì ở đó có thơ thiền. Đồng Đức Bốn càng không phải là một nhà thơ mang tư tưởng thiền, anh chính là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn. Vì vậy mà nhiều khi anh ngơ ngác trước những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời. Và anh đã làm thơ, đặc biệt là thơ lục bát, gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Có thể nói, Đồng Đức Bốn đã “bắc cầu lục bát” để đến với cuộc đời này.

Hà Nội, 4.5.2011

Lời Mẹ Dặn – Thơ Phùng Quán – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi Mẹ tôi thương con không lấy chồng Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải Nuôi tôi đến ngày lớn khôn. Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ Ngày ấy tôi mới lên năm Có lần tôi nói dối mẹ Hôm sau tưởng phải ăn đòn. Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn Ôm tôi hôn lên mái tóc – Con ơi trước khi nhắm mắt Cha con dặn con suốt đời Phải làm một người chân thật. – Mẹ ơi, chân thật là gì? Mẹ tôi hôn lên đôi mắt Con ơi một người chân thật Thấy vui muốn cười cứ cười Thấy buồn muốn khóc là khóc. Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao doạ giết Cũng không nói ghét thành yêu. Từ đấy người lớn hỏi tôi: – Bé ơi, Bé yêu ai nhất? Nhớ lời mẹ tôi trả lời: – Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin Cho tôi là con vẹt nhỏ Nhưng không! những lời dặn đó In vào trí óc của tôi Như trang giấy trắng tuyệt vời. In lên vết son đỏ chói. Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi Đứa bé mồ côi thành nhà văn Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ. Người làm xiếc đi dây rất khó Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn Đi trọn đời trên con đường chân thật. Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét Dù ai cầm dao doạ giết Cũng không nói ghét thành yêu. Tôi muốn làm nhà văn chân thật chân thật trọn đời Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã Bút giấy tôi ai cướp giật đi Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(1957)

Phùng Quán kiên quyết khẳng định: trung thực là một giá trị sinh tử đối với con người nếu muốn “được cho ra cái giống người”, như từ hàng trăm năm trước cụ TúXương đã chúc cho “vua quan sĩ thứ người muôn nước”.

Nguồn  Tuyển tập một trăm bài thơ hay nhất thế kỷ XX -Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phối hợp tổ chức.

Phùng Quán – Sức mạnh tất thắng của lòng trung thực và lý tưởng nhân văn – Bùi Minh Quốc

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Đấy là tuyên ngôn Sống, tuyên ngôn Thơ của Phùng Quán.

Đối với tôi, anh là tấm gương chiến sĩ – thi sĩ tiêu biểu hàng đầu trong cuộc chiến đấu trường kỳ cho một giá trị nhân văn cao quý nhất: con người trung thực, yêu tự do và dũng cảm chiến đấu cho tự do. Những câu thơ trên trích từ bài thơ Lời Mẹ dặn dung dị như đồng dao đi thẳng vào lòng người – mà theo tôi cần đưa ngay vào sách giáo khoa để giáo dục bồi dưỡng đức tính trung thực, tinh thần dũng cảm và lòng yêu tự do từ tuổi nhi đồng cho mọi con người. Chỉ với mấy câu có vẻ nôm na rất dễ hiểu dễ nhớ dễ thuộc nhưng thật thơ, Phùng Quán kiên quyết khẳng định: trung thực là một giá trị sinh tử đối với con người nếu muốn “được cho ra cái giống người”, như từ hàng trăm năm trước cụ Tú Xương đã chúc cho “vua quan sĩ thứ người muôn nước”. Và trung thực luôn phải gắn liền với tự do, đồng thời phải dũng cảm chiến đấu cho tự do, bởi vì khi đã quyết sống trung thực thì tất yếu phải đương đầu với dối trá, cũng tất yếu phải rất dũng cảm mới đương đầu nổi trong một xã hội mà dối trá đã kết thành thế lực. Và phải rất kiên trì, bởi vì cuộc chiến chống các thế lực dối trá là một cuộc chiến trường kỳ.

Trong cuộc chiến đấu trường kỳ ấy, Phùng Quán đã thắng.

Vâng, Phùng Quán đã thắng, mặc dù lúc đầu anh là một chiến sĩ tiên phong rất đơn độc. Đơn độc đến mức, khi anh cất tiếng “ghét ai cứ bảo là ghét” thì cái đáng ghét khu trú ngay ở những chốn uy nghi mà suốt bao năm ròng được cả một dàn đồng ca đại qui mô, đại hoành tráng liên tục dâng lên những lời yêu kính nồng say. Đã có rất nhiều bài viết kể rõ về giai đoạn chiến đấu đơn độc ấy của anh, tôi khỏi cần nhắc lại. Nhưng tôi cũng thấy, ngay trong những năm tháng anh đơn độc nhất, đã xuất hiện sự chia sẻ tương tri tương đắc của những người mà có thể anh không biết tên: trên báo Nhân dân, nơi từng đăng cả một bài dài của tác giả Trúc Chi (bút danh của một cán bộ cao cấp về sau đã lưu vong sang Trung Quốc và bị kết án tử hình vắng mặt) thóa mạ thậm tệ bài thơ Lời Mẹ dặn, lại mở mục LÀM ĂN THẬT THÀ để tuyên truyền giáo dục sự trung thực, trước hết là cho cán bộ, đảng viên. Và, thật tuyệt vời, năm 1986, tôi thấy hồn thơ Phùng Quán hiển thị rạng rỡ trong một chủ trương có tính nền móng mở đầu văn kiện đại hội Đảng lần thứ 6, đại hội khởi phát công cuộc đổi mới: NHÌN THẲNG VÀO SỰ THẬT, NÓI ĐÚNG, NÓI RÕ SỰ THẬT. Và năm 1987, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu với văn nghệ sĩ: “Dù thế nào, các đồng chí cũng đừng uốn cong ngòi bút”. Lời phát biểu ấy chính là hiển thị hồn thơ Phùng Quán: “Tôi muốn làm nhà văn chân thật / chân thật suốt đời […] / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”.

Phùng Quán viết Lời Mẹ dặn năm 1957.

Trước đó, năm 1956, anh viết “Chống tham ô lãng phí”. Anh chính là chiến sĩ – thi sĩ đầu tiên làm thơ chống tham ô lãng phí sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc năm 1954. Bài thơ kết thúc bằng những lời kêu gọi và nguyện thề dõng dạc:

Trung ương Đảng ơi

Lũ chuột mặt người chưa hết

Đảng cần phải lập đội quân trừ diệt

Có Tôi!

Đi trong hàng ngũ tiên phong.

Tinh thần ấy, gần 40 năm sau, được Tổng bí thư Đỗ Mười khiêm tốn lắng nghe và tiếp thu, thể hiện trong bài trả lời phỏng vấn của báo Thanh niên tại cuộc họp Quốc hội ngày 16.12.1993:

TỔNG BÍ THƯ ĐỖ MƯỜI – Nhà nước bất lực, nhưng bây giờ Nhà nước chủ trương dân phải làm. Chúng ta đã chiến thắng được trên chiến trường. Bây giờ Chính phủ ra lệnh và toàn dân đứng dậy thì tham nhũng không thể chạy được. Chính phủ ra lệnh mà dân không hưởng ứng thì mới khó. Bây giờ Chính phủ ra lệnh thì toàn dân đứng dậy, nhất là thanh niên phải xung kích đi đầu.

Ý kiến Tổng bí thư Đỗ Mười phát biểu tại Quốc hội cách đây 18 năm, giờ đây vẫn nóng bỏng thời sự.

Bất chấp mọi khổ nạn gây ra bởi những thế lực sợ sự thật, Phùng Quán đã sống và viết trọn đời đúng như lời thơ tuyên ngôn từ thời trẻ, thật là “nhất quán tận can trường” – như một vế trong đôi câu đối mà nhà khoa học Hà Sĩ Phu tiễn anh khi anh lên đường về cõi vĩnh hằng.

Phùng Quán tiêu biểu cho sự lựa chọn sống và viết của một bộ phận văn nghệ sĩ trí thức Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, song hành với một sự lựa chọn khác của một bộ phận hình như đông đảo hơn mà cách đây 130 năm nhà văn Nga An-tôn Sê-khốp đã mô tả đồng thời lay tỉnh giới trí thức Nga trong truyện ngắn Người trong bao: “Nhìn thấy và nghe thấy mọi người nói dối, và để cho thiên hạ bảo anh là ngu xuẩn chỉ vì anh đã nghe lời dối trá ấy, nhẫn nhục chịu đựng những sự lăng mạ khinh miệt, không dám nói thẳng rằng anh đứng về phía những người trung thực yêu tự do; và chính anh cũng nói dối, cũng nhăn nhở cười, chỉ cốt kiếm được miếng ăn, chỉ cốt được ấm vào thân với một chức tước hèn mọn nào đó chỉ đáng giá mấy đồng xu – không, không thể sống như thế mãi được!” và chiến sĩ – thi sĩ Việt Nam Thanh Thảo cách đây 3 năm đã mô tả trong bài thơ Lại chào đất nước viết năm 2008 : “Cứ tự dán băng keo vào miệng / Con gọi Mẹ chỉ còn nghe ú ớ / Yêu Tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ”.

Năm 2007, năm mươi năm sau Lời Mẹ dặn, Phùng Quán được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Giải thưởng này chính là sự tôn vinh của đất nước, của nhân dân đối với phẩm chất chiến sĩ – thi sĩ trung thực yêu tự do và dũng cảm chiến đấu cho tự do mà Phùng Quán là đại diện tiêu biểu. Giải thưởng này chứng tỏ hùng hồn sức mạnh tất thắng của lòng trung thực và lý tưởng nhân văn.

Đà Lạt 15.01.2011.

Cập nhật thông tin chi tiết về 1001 Bài Thơ Hải Phòng, Tình Yêu Người Đất Cảng trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!